Hôm nay,  

Mây…

03/06/200500:00:00(Xem: 10418)
Không định tọa thiền mà tôi vẫn ngồi trong thế kiết già; không quán công án nào mà tôi cứ mãi nhìn mây. Một mình giữa vườn bưởi, tôi lặng lẽ ngước nhìn mây trắng, mây xanh, mây hồng … Nhìn, và rồi chỉ là mây thôi, trắng, xanh hay hồng sẽ thay mầu, nhưng mây thì vẫn lãng đãng bay. Nhìn, rồi không còn xanh hay hồng nữa, chỉ trắng thôi. Cả vạn hữu chỉ còn bao la mây trắng … Con-Mắt-Tâm nhìn cái bao-la-trắng đó, lặng im và nhìn mãi, nhìn mãi, tới đâu thì “Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”"
Một cánh chim bay ngang, để rơi lại âm thanh hững hờ, có thế thôi mà cũng đủ khiến người nhìn mây lại thấy mây có trắng, xanh, hồng; người và mây lại là hai thực thể, có người nhìn và vật bị nhìn!
Vươn vai, rồi mở nhẹ khóa chân, tôi thở mạnh và buông lơi, soải dài toàn thân trên nền đất ẩm. Vô hình chung, mặt đối diện trời và lại thấy mây ! Bây giờ thì mặc ! Mây là mây, ta là ta, hay mây với ta là một cũng mặc ! Nằm như vậy, với tĩnh lặng và hương bưởi thoảng quanh, ta có gì để chờ đợi đâu " Sao phải cố gắng để ta với mây là một " Chỉ cần khởi từ ý nghĩ muốn đạt tới “là một” sẽ chẳng bao giờ là một được rồi ! vì còn muốn là còn đối đãi, còn ta, còn người, còn vật. Chỉ thế thôi mà cứ chìm nổi trong lầm lẫn, mãi quên lời vô thỉ vô chung. Không quá khứ, chẳng vị lai, chỉ hiện tại. Hiện tại này đang có gì " Mây. Trước mắt là mây, chỉ mây thôi, không gì nữa cả, mây xứ người hay mây quê hương, thấy bằng mắt thịt hay mắt tâm, nào cần chi gạn hỏi ! Chỉ biết, mắt như không rời mây được nữa. Mây nhẹ hay ta nhẹ mà ta như cũng bay cùng mây …. Với mây, ta đang ở đâu mà nghe thấy âm thanh của đoàn tầu nặng nề lăn trên đường sắt. Đoàn tầu cũ quá, và đường sắt còn cũ hơn khiến bánh sắt siết trên đường, quằn quại hơn tiếng khóc:
“Ta sẽ rủ gió lùa trên tóc rối
Giọng ân tình năn nỉ bước đi mau
Còi rộn rã bởi hoang đường đã đổi
Bởi phiêu lưu ngày tháng vẫn con tầu”
Nhưng con tầu không có lựa chọn. Nó phải lăn bánh dù đã quá già nua. Khi thân tầu rung rinh, lắc lư, nó rung rinh và lắc lư tất cả khối người đông đảo, xô đẩy nhau trong lòng nó. Có người cằn nhằn, có người lặng thinh chịu đựng, có người chợt chắp tay, cúi đầu khi làn sóng xô người ấy lủi vào một thân người ốm yếu ngồi cuối toa. Người ấy vội vã chắp tay, cúi đầu, có lẽ vì thấy tấm áo nâu bạc phếch của người vừa bị xô. Tấm áo đó có đủ xác định người đang khoác nó là một thầy tu hay không, có lẽ chỉ người chắp tay cúi đầu và người nhận cái chắp tay cúi đầu là đồng cảm được thôi. Giòng cuồng lưu hung hãn, dập vùi xoáy hút những viên sỏi lăn trôi theo nhau, vẫn có những hạt cát biết mình đang chứa cả đại dương.
Con tầu từ miền Bắc, đang xuôi Nam. Tầu men dẫy Trường Sơn mà lăn. Gập ghềnh quá, cheo leo quá nhưng nó vẫn kiên nhẫn lăn bánh. Ông thầy tu ngồi yên lặng, nhiếp tâm, toàn thân ốm yếu toát ra sự khắc khổ, cô đơn tột cùng:
“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”.
Đây là toa tầu hạng ba, toa rẻ tiền nhất dành cho người cùng khổ, buôn gánh bán bưng, hàng hóa, thúng mẹt ngổn ngang với người, trong không khí ẩm mốc, tối tăm. Vậy mà, ở góc cuối toa đó phảng phất làn ánh sáng dị ảo, như ánh sáng từ một đốm nhang trầm, ấm và thơm. Nhang đâu mà đốt nơi khổ nhục nhớp nhúa này " Nhìn kỹ …. Và nhìn kỹ hơn thì không thấy cây nhang nào. Làn hương lặng thầm, kín đáo đó hình như tỏa ra nơi ông thầy tu ốm yếu mà từ lúc bước lên tầu vẫn an nhiên khép hờ đôi mắt, nhiếp tâm, quyện thành ngũ-phần-hương lan nhẹ khắp lòng toa:
“Khi tâm tư chưa là gỗ mục
Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời”
Ông như không quan tâm gì, ngay cả những lúc tầu dừng ở mỗi sân ga. Hình như ông có đến mà không đi, hay có đi mà chẳng đến. Nơi đến hay chốn đi cũng như nhau thôi khi ông đã từng thấy rồi, thấy ngôi nhà mà chúng sanh miệt mài khổ nhọc kiếm tìm. Chắc phải thế ông mới an nhiên tự tại như vậy được. Nếu ông đã thấy ngôi nhà Phật thì ông với Phật không hai, dù nơi thênh thang hay tận cùng tuyệt lộ:

“Nhất triêu cước lạc huyền nhai hạ
Thỉ bả chân không đối tịch hồng
Một sớm đưa chân vào tuyệt ngạn
Mới lấy chân không rọi đêm nồng”
Một vài người nghèo khổ ngồi gần, kín đáo nhìn ông, kín đáo chắp tay khi thỉnh thoảng ông hé mắt nhìn ra khung cửa toa tầu. Ông nhìn ra, chẳng vì chờ nơi đến mà chỉ muốn nhìn núi rừng. Thấy bóng núi cao đó, thấy cây xanh rừng kia, ông có thể đoán biết tầu vừa qua Nghệ An nơi có chùa Phổ Nghiêm, qua núi Dục Thúy nơi có chùa Sơn Thủy, qua Thừa Thiên, nơi có chùa Bảo Quốc, qua Huế, nơi Từ Đàm Từ Hiếu còn đứng đó với sương rêu …. Lòng ông chợt rung động. Hình như ông vừa bước ra khỏi thế giới của mình. Ông nhìn những người dân lam lũ xung quanh, nhìn những món hàng nhỏ nhoi dăm ký đường, dăm bó củi, rổ trái cây …. nhưng là gia tài của những người đang bương trải lượm từng hạt cơm về cho gia đình. Cả một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến, phút chốc, bỗng chỉ còn một thôi thúc duy nhất là đi kiếm thức ăn ! Ông thầy tu cũng rung động khi ý thức rằng ông đang đi về Chùa. Chùa, một tiếng thân thương ấy đã từ mười lăm năm nay ông nhớ tưởng. Chùa. Ông sẽ về nơi ấy. Chùa. Dù bất cứ ngôi Chùa đó ở đâu. Ông đang đi về Chùa, không phải là về lại ngục tối sau những lần bị thẩm cung, tra tấn. Ý nghĩ “Về Chùa” làm ông nôn nao và dạ dày quặn thắt. Thì ra, ông đã tuyệt thực mười ngày rồi. Ông tuyệt thực vì trước khi thả ông do áp lực Quốc Tế, kẻ cầm quyền đã bắt ông ký giấy xin khoan hồng rồi mới thả. Mang trong lồng ngực một trái tim chỉ biết đập nhịp Bi Trí Dũng nên ông đã lạnh lùng từ chối “xin tha” điều mình “chưa từng phạm”. Và để tỏ quyết tâm, ông thầy tu đã tuyệt thực, lặng lẽ tuyệt thực, chỉ ông biết và kẻ giam cầm ông biết mà thôi, đằng trước không tuyên cáo, tuyên bố; đằng sau không yểm trợ, ủy lạo gì cả. Ông im lặng trở về nhà giam, từ chối cơm tù. Thế thôi. Nhưng hẳn là trong im-lặng-sấm-sét đó đã lóe lên lằn sáng xanh biếc diệu kỳ của thanh gươm Bát Nhã, nên cánh cửa ngục phi luân đã phải mở ra:
“Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ
Uống sương khuya tìm sinh lộ viễn trình
Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ
Tôi yêu ai, trời rực sáng bình minh "”
Từ ngục tối nơi heo hút sơn lam chướng khí miền Bắc, ông thầy tu được đẩy lên toa tầu bẩn thỉu, xuôi Nam.
Mười lăm năm khổ sai, mười ngày tuyệt thực, ba mươi sáu tiếng đồng hồ liên tục trên con tầu cũ kỹ gập ghềnh, ông thầy tu không còn sức nữa. Ông dùng tàn lực đứng dậy khi con tầu chầm chậm ngừng ở một sân ga. Không cần biết là ga nào, ông phải bước xuống thôi. Có người nào đó đưa tay ra đỡ ông, dìu ông xuống hẳn mặt đường:
- Thưa thầy, thầy về đâu "
- Chùa.
- Thưa thầy, đây là tỉnh Nha Trang, có Phật-học-viện Hải Đức.
- Hải Đức.
Ông thầy tu lập lại hai tiếng ấy cùng với âm thanh đại hồng chung gióng lên từ ba ngàn thế giới. Nương theo âm thanh đó, ông bước đi như mơ, cứ thế mà bước, xiêu vẹo, ngả nghiêng, vấp ngã nhưng vẫn bước. Trong tâm ông rộn rã câu chú: “Gate. Gate. Paragate. Parasamgate. Bodhi. Svaha.”.
Ông thầy tu quỵ xuống trước cổng tam quan, mơ màng thấy một bóng áo nâu chạy ra và rồi xôn xao nhiều bước chân ào tới:
- Trời ! Thầy ! Bạch Thầy !
- Ai đó " Chuyện gì đó "
- Bạch Thầy, Ngài đã về.
- Ai về "
- Bạch thầy, Thượng Tọa Tuệ Sỹ. Thượng Tọa Tuệ Sỹ đã về. Ngài đã về.
Phút chốc, cả không gian như cùng vang lên câu chú Bát Nhã:
Gate.
Gate.
Đã về.
Đã tới ….
Đó là ngày đầu tháng 9 năm 1998.
Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Diệu Trân
Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629
* Thơ trích từ thi tập Giấc Mơ Trường Sơn của thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào mùa thu năm ngoái, một tòa án ở Đức đã xét xử một vụ án bất thường. Đó là một vụ kiện dân sự phát sinh từ đề tài trên Twitter về việc liệu những người chuyển giới có phải là nạn nhân của Holocaust hay không. Mặc dù không còn nhiều tranh luận về việc liệu những người đồng tính nam và đồng tính nữ có bị ngược đãi hay không, nhưng có rất ít nghiên cứu về người chuyển giới trong thời kỳ lịch sử tối đen này.
Mùa hè đến rồi! Mùa của những chuyến du lịch. Người Việt ở Mỹ mùa hè thường đi thăm danh lam thắng cảnh ở Mỹ, hoặc về Việt Nam, hoặc thực hiện những chuyến đi Châu Âu, đi thăm vùng đất của lịch sử, văn hóa Tây Phương. Đến Châu Âu, những quốc gia thường được khách du lịch nhắc đến nhiều nhất vẫn là Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha. Ngoài ra, Hòa Lan là một quốc gia nhỏ bé, hiền hòa, những cũng có nhiều thứ thu hút khách du lịch. Nói đến Hòa Lan là nói đến những cánh đồng hoa tulip đầy màu sắc; những chiếc cối xay gió soi bóng trên những dòng kênh xanh; hay thành phố Amsterdam tự do cấp tiến, có khu phố “Đèn Đỏ” với dịch vụ mãi dâm được chính thức và công khai hóa.
✱ BNG: “Chúng ta không thể tiếp tục chấp nhận một chính phủ trung ương có hai tổng thống” nên "thời điểm quyết định" nổ ra dẫn đến vụ “bắn lầm”? ✱ Secretary Clifford: Tổng thống nên cử một số quan chức Chính phủ đến dự lễ tang, để thể hiện sự quan tâm. Kỳ có thể không nghĩ đó là một tai nạn. ✱ CIA: Đại sứ Bùi Diễm, đặc phái viên của Sài Gòn tại Paris, nói với phía Hoa Kỳ rằng ông ta hy vọng qua trung gian Việt kiều (tại Pháp) sẽ giúp ông liên hệ với phía Bắc Việt. ✱ NARA: Số tiền “ The Five Million Piastres” đã chi ra để ủy lạo quân sĩ tham gia cuộc đảo chánh, và số tiền này “ the money was given to Don” (nhưng báo chí VN loan tải số tiền là 3 triệu). Ngoài ra, còn có số vàng lá 40 kí lô (forty kilograms of gold bars) tịch thu trong cuộc đảo chánh...
Những dòng chữ cổ (chữ hình nêm) này được khắc trên một phiến đất sét khoảng 4,000 năm tuổi, là một trong những mô tả đầu tiên về nụ hôn lãng mạn. Tuy nhiên, những gợi ý từ khảo cổ học và DNA cho thấy con người đã hôn nhau từ rất lâu, trước cả khi họ có khả năng ghi lại việc đó bằng văn bản. Hành động yêu thương này thậm chí có thể đã tồn tại ngay từ những ngày đầu xuất hiện giống loài của chúng ta.
✱ CIA: Đỗ Mậu sẽ trở thành thủ tướng trong vài ngày tới - Khiêm tuyên bố mọi việc đều nằm trong tầm kiểm soát - sẽ thực hiện các bước cần thiết để ngăn chặn không cho sự việc diễn ra. ✱ BNG: Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn thì quả quyết kêu gọi các nhân viên chính phủ gia nhập Đảng Đại Việt - Ông Hoàn đã nạp đơn từ chức vào ngày 13 tháng 5, đã được thông qua nhưng giữ bí mật việc từ chức trong ít nhất 48 giờ. ✱ Ông Đỗ Mậu/VNMLQHT: Họ nghi ngờ tôi có thể dựa vào lực lượng sinh viên và Phật tử để chống đối lại Hiến chương Vũng Tàu - họ muốn lợi dụng tên tuổi và uy tín của tôi nhưng vẫn e ngại - Từ đó, tôi ở vào tình trạng "quản thúc vô hạn định" trên thành phố đìu hiu này. ✱ ĐS Lodge: Số tiền 1 triệu đô la “ mệnh giá lớn nhất” trong chiếc cặp da của Tổng Thống Diệm, Đại sứ Lodge yêu cầu giữ kín kẻo làm mất hòa khí.
Đọc lịch sử, ta thấy bất cứ dòng họ vua chúa nước nào cũng thường trải qua một thời hưng thịnh ban đầu rồi dần dần suy tàn, nhường chỗ cho một triều đại mới. Những kẻ cướp ngôi hầu hết đều thuộc hạng bề tôi đã gây được thế lực đủ mạnh để lấn lướt nhà vua...
Dọc đường tôi đi bộ bên bờ kênh Delaware và Raritan, khoảng cuối tháng Tư có loại hoa màu tím nhạt nở từng chùm treo lúc lỉu trên những cành cây; thấp thì sà xuống mặt nước, cao thì cách mặt đất chừng chục mét. Hoa thuộc loại dây leo, nở lâu sắp tàn thì màu tím nhạt dần rồi biến thành màu trắng; khi chưa nở, nụ hoa trông giống như những hạt đậu màu tím. Có lẽ vì thế người ta gọi là cây đậu tía. Hoa còn có tên khác, đẹp hơn. Hoa Tử Đằng. Có người giải thích, Tử là màu tím; Đằng là chữ dùng chung cho loại dây leo.
Đó là một buổi sáng thứ Hai băng giá ở Matxcơva. Bên trong Viện Văn hóa Nhà nước của thành phố, Yuri Kot quyết tâm khơi ngọn lửa trong lớp. “Là người Nga nghĩa là gì?” ông gầm lên, nghiêng người về phía trước và nhìn chằm chằm vào các sinh viên. Kot – một người đàn ông 47 tuổi tóc vàng, trông giống một con gấu với những tuyên truyền yêu nước đã khiến ông trở thành khách mời nổi tiếng trên các chương trình truyền hình Nga – là trưởng khoa báo chí của học viện này.
Tìm được một nụ cười trên môi một người VN lưu vong vào tháng 4 hàng năm không dễ dàng. Cả 30 ngày của tháng tư, "những ngày mây xám giăng trên đỉnh trời", hình ảnh những người đã bỏ mình cho 20 năm tự do của miền Nam, những người mãi mãi nằm lại dưới đáy đại dương , không đặt chân được bến bờ tự do hiện về trong ký ức của chúng tôi rõ mồn một như mới hôm qua.
Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership -- Six Studies in Wold Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành năm 2022, (trang 149-63). Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này. Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young có phát hiện một sự thật khác: Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.