Hôm nay,  

Phước Điền Y

20/12/200500:00:00(Xem: 8181)
-Thời Đức Phật còn tại thế, quốc vương xứ Magadha là vua Bimbisara được Thế Tôn xem như người bạn thân thiết vì nhà vua rất mộ đạo, thường tìm đến vấn kế, làm sao giữ được đất nước thanh bình, dân cư ấm no, an lạc. Thấm nhuần đạo Giác ngộ, vua đem lòng Từ Bi thương dân như hoàng tộc, mùa đông mở kho phát áo, mùa hạn phát lúa ngô, nhà nhà đều sống trong thuận hòa, hạnh phúc. Vua Bimbisara cũng có với mệnh phụ Ambapali một người con trai thông minh đĩnh ngộ. Đó là thái tử Jivaka. Vì chứng kiến nhiều người bị khổ đau về bệnh tật nên thái tử theo học ngành thuốc, mong khi thành tài sẽ cứu giúp người bệnh khổ.

Một đôi lần, khi Đức Phật thuyết pháp những vùng lân cận, thái tử lại được theo mẹ tới đảnh lễ Đức thế Tôn. Chỉ ngay lần đầu được diện kiến Đức Phật, thái tử Jivaka đã hoàn toàn bị nhiếp phục bởi oai nghi tế hạnh trên từng bước đi thong dong, dáng ngồi an lạc, lời nói nhu hòa chan chứa từ bi, trí tuệ. Thái tử tự nhủ lòng, sau khi trở thành y-sỹ sẽ xin quy y, theo bước chân tăng đoàn mà chăm sóc sức khỏe cho hàng môn đồ tứ chúng ngày càng đông đảo.

Một mùa đông khi Đức Phật giảng pháp trên núi Linh Thứu, thái tử nhận thấy ai cũng co ro run rẩy vì không đủ áo ấm. Tình trạng này rất dễ mắc bệnh cảm hàn và sưng phổi. Thái tử Jivaka bèn về cổ động bạn bè vốn là các công tử giòng giõi quý tộc giầu sang, hãy phát tâm tặng thêm y áo cho tăng đoàn được đủ ấm khi tiết trời lạnh giá.

Việc chính thức cúng dường y áo cho các tu sỹ bắt đầu từ đó, thay vì trước kia đại chúng chỉ thuần cúng dường thực phẩm.

Một lần, Đức Phật cùng Đại Đức Ananda đứng trên đồi cao nhìn xuống những thửa ruộng phía dưới. Đức Phật bảo:

- Này Ananda, hãy nhìn xem, những thửa ruộng đầy lúa chín vàng san sát bên nhau mới đẹp làm sao! Đất ruộng đó hẳn phải là đất mầu phì nhiêu và hạt mầm gieo xuống cũng phải là hạt tốt mới đem lại kết quả đẹp đẽ kia. Này Ananda, thầy có nghĩ rằng y của tăng đoàn nếu may theo mẫu đất ruộng này, khi khoác y lên sẽ là lời nhắc nhở người xuất gia giữ thân tâm thanh tịnh như đất mầu, tinh tấn tu học như gieo hạt tốt, tất, sẽ gặt hái thành quả như đồng lúa chín vàng kia"

Đại Đức Ananda chắp tay thưa:

- Thế Tôn dạy chí phải. Con xin thỉnh ý Thế Tôn, họp các huynh đệ rồi truyền xuống đại chúng để từ nay ai phát tâm cúng dường y áo cho các tỳ-kheo thì hãy may theo mẫu như những thửa ruộng liền nhau. Bạch Thế Tôn, chiếc y đẹp đẽ mang ý nghĩa thâm sâu này có thể được gọi là ....

Đại Đức ngập ngừng chờ đợi thì Đức Phật mỉm cười, nhẹ nhàng tiếp lời:

- Sanghati may theo mô hình các thửa ruộng có thể gọi là phước-điền-y, để không chỉ nhắc nhở ý nghĩa trên hình thức mà còn phải luôn tâm nguyện tạo phước duyên cho người.

Chiếc phước-điền-y đơn sơ khởi từ gần 2600 năm trước, với thời gian có lẽ cũng thay đổi phần nào cho phù hợp với môi trường sinh hoạt từng thời đại nhưng những nét chính vẫn giữ nguyên, nhất là ý nghĩa ẩn dụ sau tấm y mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy thì không gì chối bỏ được. Vị tu sỹ chân chính đã khoác phước- điền-y trên thân là đã tròn đạo hạnh, chỉ một tâm nguyện theo bước Cha Lành. Để có thể dũng mãnh tiến bước, người cha đã trao cho các con những chiếc chìa khóa vàng, giúp các con tạo được và giữ được năng lực. Một trong những chìa khóa đó là Bát Chánh Đạo, tám món quà đẹp đẽ. Đức Phật dạy:

- Phải trực diện khổ đau mới có thể dứt trừ được khổ đau để tiến tới giải thoát. Muốn tạo cho mình năng lực để trực diện khổ đau phải nghiêm túc tri hành Bát Chánh Đao. Đó là: nhận thức chân chính, tư duy chân chính, ngôn ngữ chân chính, hành động chân chính, sinh kế chân chính, chuyên cần chân chính, niệm lực chân chính và định lực chân chính.

Hàng Phật tử tuân lời Phật dạy mong cầu giải thoát cũng đã là những người đáng kính mến, huống chi những vị cắt ái ly gia, quyết tự độ rồi độ tha, không phải chỉ mong đạt quả vị Thanh Văn, Duyên Giác mà còn phát Đại Nguyện, hành Bồ Tát Hạnh, xả thân phụng sự chúng sinh, hộ trì đạo pháp, luôn nói lời chân thật dù sinh mạng nguy nan.

Thuở xưa, Tôn-giả Shantiveda (Tịch Thiên), tác giả bộ đại luận Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) đã viết:

Tôi đâu cần nói gì thêm"

Người ấu trĩ làm việc lợi cho mình

Phật làm việc có ích cho người khác

Hãy nhìn vào sự khác biệt đó

Nếu tôi không đổi hạnh phúc của tôi

Lấy sự đau khổ của người khác

Tôi sẽ không đạt tới quả vị Phật

Và ngay trong cõi ta-bà, tôi sẽ không vui

Cội rễ của mọi khổ đau trên thế giới

Nằm trong các ý nghĩ về “Tôi”

Nguồn gốc tất cả các hạnh phúc

Là ý nghĩ hướng về “Người” (*)

Dù ở bất cứ chân trời nào, người đã chọn Bồ-Tát-Đạo chỉ có một con đường mà thôi. Đã khoác phước-điền-y trên thân bằng tâm nguyện chân thật, vị ấy sẽ không bao giờ thối chuyển dù trước sức mạnh nào.

Buổi sáng ngày 19 tháng 11 năm 2005, khi Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN bước xuống thang gác Thanh Minh Thiền Viện để đi lo Phật sự, làm chủ lễ giỗ Tổ Nguyên Thiều, thì bị khoảng 50 nam nữ công an thành phố, tuân hành lệnh nhà nước Cộng Sản Việt Nam, ngăn chặn không cho đi với lý do mơ hồ:

- Hôm nay HT phải lên quận làm việc chứ không được đi đâu khác!

Đại lão Hòa Thượng đã nhỏ nhẹ mà nói rằng:

- Hôm nay là ngày giỗ Tổ Nguyên Thiều tại chùa Giác Hoa, chúng tôi phải lo việc tôn giáo, tín ngưỡng trước. Việc lên quận xin để hôm sau.

Lời ôn hòa đó được đáp lại bằng cuộc giằng co, xô đẩy thô bạo; và trước sự chứng kiến sửng sốt của rất đông dân chúng hai bên đường, phước-điền-y đắp trên thân lão Hòa Thượng đã bị đám nam nữ công an xé rách toạc !!!!!!

Cộng Sản Việt Nam đã từng đem cha mẹ, thầy cô ra đấu tố đến chết (Trường Chinh đấu tố cha để làm gương!!!)

Cộng Sản Việt Nam đã từng dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng.

Cộng Sản Việt Nam đã tàn phá nhà thờ, đình chùa, lăng miếu, giam cầm, bức tử những tu sỹ - bất kể tôn giáo nào - dám đi ngược lại đường lối Đảng.

Nay, ngang nhiên xé rách chiếc y tượng trưng đạo pháp trên thân một trưởng tử Như-Lai, liệu CSVN đã đủ lộ rõ bản chất “tam vô”: vô gia đình, vô Tổ Quốc, vô Tôn giáo hay chưa"

Diệu Trân

(Mùa pháp nạn 2005)

(*)Ý thơ: Tôn giả Tịch Thiên -- Việt dịch: Chân Huyền

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
LTS: Bài viết sau của cụ bà Đinh Thanh Trang kể về một số kinh nghiệm dùng thuốc Nam, thuốc ta chữa bệnh sau khi bệnh viện và thuốc Tây bế tắc
(Fasting For Physical Rejuvenation)       Mặc dù sự cần thiết của Nhịn Ăn đã được chúng tôi nói đến từ nhiều năm qua.Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết Nhịn Ăn cách nào"Có lợi ích gì"Có hại gì không"
1- “Sữa Ong Chúa” là gì" Giá trị dinh dưỡng và trị bệnh ra sao" Tiếng Anh của Sữa Ong Chúa là “Royal Jelly”.
Nói đến thịt thỏ, cần phân biệt 2 loại thịt thỏ nhà hay rabbit (lapin, theo tiếng Pháp) và thịt thỏ rừng hay hare (lièvre).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.