Hôm nay,  

Cõi Tạm

21/03/200100:00:00(Xem: 7029)
Neither country nor churchyard will I choose
I'll come to Vasilevsky Island to die
(Xứ sở làm chi phần mộ làm gì
Ta sẽ tới đảo kia để chết)

In the dark I won't find your deep blue facade
I'll fall on the asphalt beetween the crossed lines
(Trong đêm tối thấy đâu,
gương mặt em thăm thẳm xanh, xưa
Ta gục xuống nhựa đường đen, giữa những lằn ranh chéo)
Joseph Brodsky

Cảm quan Cõi Tạm, Mả Bên Đường, Trăng Đất Khách, (Phận) Lưu Vong, (Thân) Ăn Nhờ Ở Đậu... ở nơi nhà thơ J. Brodsky, thật mãnh liệt. Từ đó, làø nỗi ghẻ lạnh, dửng dưng: như là một cách sống (estrangement as a lifestyle).

Lạnh lùng, dửng dưng, với nhà thơ, bắt nguồn ngay từ quê nhà. Như một đứa trẻ, ông đã nhận ra thân phận lưu vong ngay trên chính quê hương của mình. Quê nhà thiếu tất cả, nhưng lại thừa mứa, hình lãnh tụ: "Có cậu bé Lênin, như thiên thần có cánh với mớ tóc nâu", ông viết trong nhật ký thời trẻ. "Rồi Lênin trong những năm 20, 30; chẳng có một sợi tóc trên chỏm đầu, mặt nghệt ra...". Bộ mặt này đã ám ảnh mọi người dân Nga. Cố tránh né nó là bước đầu để trở nên lạnh lùng, dửng dưng. Như một thói ở đời.

Trong đêm tối, làm sao ta nhìn ra mặt em thăm thẳm xanh, xưa"
Ta gục xuống nhựa đen, giữa những lằn ranh chéo.
"Khuôn mặt xanh thẳm xa xưa": Quê hương.
"Những lằn ranh chéo": bờø ranh Nga Mỹ, nơi phân biệt số phận hai mặt (double fate), của một kẻ ăn nhờ ở đậu.

Lạnh lùng dửng dưng là một biến thái của hoài nhớ (nostalgia). Và đây đúng là căn bệnh của thế kỷ (le mal du siècle). Cội nguồn của nó là do căn bệnh xa xứ (la maladie du pays) mà ra.
Theo Svetlana Boym (1), từ nostalgia do hai gốc Hy Lạp nostos (home), và algia (longing); tuy nhiên đây không phải một từ cổ Hy Lạp, mà là giả-Hy Lạp (pseudo-Greek), hay nói một cách văn vẻ: nó hoài nhớ Hy Lạp (nostalgically Greek).

Thứ bịnh nhớ này (nostalgic disorder) bác sĩ người Thụy-sĩ phát hiện lần đầu, vào thế kỷ 17, ở một đám lính đánh thuê. Được coi là hay lây lan, "la maladie du pays" đã được chữa trị bằng cách cho đỉa hút máu, bằng á phiện, hay cho đi du ngoạn núi Alps. Hoài nhớ không được coi là số kiếp, hay phận người, mà là một căn bệnh tạm, nỗi đau vờ ("Các cậu đạo đức giả bỏ mẹ!", như một nhà thơ trong nước, du Cali, phát biểu). Tới thế kỷ 19, hoài nhớ mang tính địa lý bị lấn át bởi hoài nhớ mang tính lịch sử, trở thành nỗi đau thế kỷ (le mal du siècle).

Theo lý thuyết của Roman Jakobson, một nhà ngôn ngữ, triết gia người Nga, có hai loại hoài nhớ. Loại thứ nhất, nặng về "nostos", nghĩa là, nhớ hoài về một quê hương thần thoại, đâu đó thuộc mảnh đất ở Cõi Không Tưởng (Utopia). Đó là nơi quê hương lớn - lớn hơn quê hương cũ - hay thực sự, phải được tái tạo dựng. Thứ hoài nhớ này mang tính nhặt nhạnh, hồi tưởng, tái cấu tạo... Loại thứ nhì đặt nặng vào "algia". Không có ý định tái dựng một nơi chốn thần thoại có tên là "nhà", nó là nỗi đau: cứ ở cách xa mà chẳng (cần) biết xa cái gì, xa chỗ nào... Thứ hoài nhớ này mang tính tếu, tản mạn, và đặc thù. Nếu hoài nhớ không tưởng (utopian nostalgia) coi lưu vong như đọa đầy, mất ân sủng (fall from grace), và tình trạng này phải được sửa chữa, hoài nhớ tếu (ironic) chấp nhận mọi nghịch lý của lưu vong và đổi đời.

Lạnh lùng dửng dưng, như thế là một mảnh, từ hoài nhớ tếu.

"Hãy đổi cho tôi cái thân phận lưu vong đó đi", một nhà thơ ở trong nước, khi tới Quận Cam đã đề nghị với một nhà văn lưu vong như vậy. Đây là qua kể lại của Nguyễn Mộng Giác, trong lời Bạt viết cho cuốn Trong Mê Cung của Nguyễn Trung Hối. Nguyễn Mộng Giác nhân đó cho rằng: viết về nỗi bất hạnh (trong đó có thân phận lưu vong): dễ. Viết về hạnh phúc: khó. Càng khó, nếu viết về thành công (như Nguyễn Trung Hối đã chọn lựa).

"Đổi cho tôi thân phận lưu vong...", đây là một niềm ao ước "thực sự" của những nhà văn ở trong nước, theo tôi. Nhìn xa hơn nữa: họ mong được bất hạnh, như một nhà văn, hay nói một cách khiêm tốn, giản dị hơn, và đúng hơn, như một người dân của cái nước Miền Nam đã từng được họ giải phóng. Nói theo nhà thơ người Đức, Holderlin: Nơi nào có hiểm nguy, nơi đó có cứu chuộc. (Là où croit le péril, croit aussi ce qui sauve). Những nhà văn phương Tây đã từng mong được bách hại, được bỏ tù, được đi học tập mút mùa lệ thủy như những nhà văn phương Đông, là vậy.

Nó cũng là nguyên do khiến nhà thơ J. Brodsky không dám trở về. Ông sợ quá khứ, sợ kỷ niệm, sợ làm mất đi, những gì ông đã làm được cho thành phố quê hương của ông St. Petersburg: ông bị kết án phải lạnh lùng dửng dưng với nó.

Vàø như thế, nghệ thuật dửng dưng trở thành nghệ thuật ly khai (dissident art). Đây là dấu ấn nghệ thuật những năm 1960 tại Liên-xô. Dửng dưng nhằm chống lại xô-viết hóa. Dửng dưng để không bị "Đảng" hớp mất hồn vía. Và họ bị gán cho cái tội vong thân.

Đây cũng là dấu ấn của Nhân Văn Giai Phẩm ở Miền Bắc, cũng vào những năm này: Đảng có thể lấy hết mọi thứ, nhưng hãy trả lại cho chúng tôi văn học nghệ thuật.

Nguyễn Quốc Trụ.

Chú thích (1) Tác giả bài viết Estrangement as a lifestyle: Shklovsky and Brodsky, in trong cuốn Lưu vong và Sáng tạo (Exile and Creativity, nhà xb Duke University Press, 1996).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường. Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế...
Viễn cảnh một ĐBSCL khô hạn và sa mạc hoá, không lẽ đây là “gia tài của mẹ”, một di sản thế hệ này để lại cho các thế hệ con cháu trong tương lai. Đây là cái giá rất đắt mà Việt Nam phải trả cho chuỗi những con đập thuỷ điện thượng nguồn và các dự án chuyển dòng lấy nước từ con sông Mekong, trong đó có con Kênh Phù Nam Techo... Một vấn đề nhức nhối và hết sức trọng đại hiện nay được nhà văn Ngô Thế Vinh, với cái tâm tha thiết luôn hướng về sinh mệnh đất nước và dân tộc Việt Nam, phân tích và nhận định trong bài viết công phu sau. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
✱ NARA: Thượng viện mở cuộc điều tra về Hoạt động Tình báo của Chính phủ nhằm điều tra âm mưu ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài của CIA, và sau 40 năm vào ngày 7.7.2015 bản văn được công khai ✱ NARA: HĐQMCM hội họp tìm cách giải quyết số phận của 2 anh em ông Diệm-Nhu. Quyết định chung cuộc là giết 2 ông Diệm-Nhu. Hội đồng chọn Đại Úy Nhung làm người thi hành lệnh xử tử. ✱ BNG/Đại sứ Lodge: Tướng Khánh nói với tôi chiếc cặp (của ông Diệm) đựng một triệu đô la Mỹ “mệnh giá lớn nhất”. Tướng Minh đã giữ chiếc cặp và chưa bao giờ giao nộp nó. Tướng Minh vào thời gian này đã lấy được 40 ký vàng miếng...
Israel đang tập trung quân đội tại khu vực biên giới giáp với Dải Gaza dự kiến cho một cuộc tấn công trên bộ. Đồng thời, họ cũng đang gấp rút sơ tán các ngôi làng ở gần biên giới với Lebanon vì lo ngại mặt trận thứ hai mở ra ở phía bắc. Hizbullah, một nhóm chiến binh Shia được Iran hậu thuẫn có trụ sở tại Lebanon, từng đụng độ với Israel. Cả hai bên, một nhà báo và ít nhất hai thường dân Lebanon đã thiệt mạng. Iran cảnh báo lực lượng ủy nhiệm sắp tung ra “đòn phủ đầu” chống lại Israel. Trước đây, Hizbullah đã từng tham chiến để ủng hộ Hamas, nhóm chiến binh kiểm soát Gaza. Sự tham gia của họ vào cuộc xung đột hiện tại sẽ đẩy căng thẳng leo thang đáng kể. Vậy Hizbullah là gì và đáng gờm đến mức nào?
"Dự án Kênh Phù Nam tại Cam Bốt do Trung Quốc đỡ đầu, tuy nói là tuyến thủy vận thôi nhưng vẫn có thể là kênh dẫn thủy nhập điền. Trung Quốc có chiến lược khai thác mối hận thù giữa dân tộc Cam Bốt và Việt Nam để chia rẽ họ, đồng thời tài trợ hàng chục tỉ Mỹ kim mua chuộc Lào và Cam Bốt, ràng buộc họ thành con nợ, để cô lập Việt Nam. Bài tham luận này trình bày một chiến lược hoàn toàn mới cho Việt Nam và liên minh chiến lược cho Việt Nam và Cam Bốt để đối phó với Trung Quốc và Lào." Đó là lời Dẫn nhập bài biên khảo về dự án đào kênh Phù Nam của Cam Bốt, bài của kỹ sư Phạm Phan Long, một chuyên gia về Đồng bằng sông Cửu Long. Sau bài viết của nhà văn Ngô Thế Vinh, đây là tiếng chuông cảnh báo thứ hai về vấn đề này. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp để giành lại chủ quyền cho dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam, tiền nhân của chúng ta đã gian khổ cùng một lòng đánh đuổi bọn xâm lăng ra khỏi mảnh đất thân yêu mà Tổ tiên ta đã bao đời dầy công gầy dựng. Cho nên nhìn lại dòng lịch sử dân tộc từ Bắc vào Nam ở đâu và lúc nào cũng có những vị anh hùng dân tộc đứng lên liều mình cứu nước chống giặc ngoại xâm...
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng..
Người nhập cư Việt Nam được biết đến với “đạo đức làm việc” mạnh mẽ của họ. Họ sẵn sàng bỏ ra nhiều giờ và hy sinh để đạt được mục tiêu của mình. Tính cần cù này đã giúp họ thành công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh doanh, giáo dục và các ngành nghề khác...
Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.