Hôm nay,  

Nobel Sám Hối

14/10/200400:00:00(Xem: 5745)
[Nhân bài dịch của Thụ Nhân trên e_Văn, về giá trị giải Nobel văn chương (1)]

Việc trao giải Nobel cho một nhà văn chẳng mấy ai biết, thí dụ như năm nay, và luôn cả mấy năm trước, theo thiển ý, là một trong những chuyển hướng lớn lao nhất của Hàn Lâm Viện Thụy Điển, và - vẫn theo thiển ý – nó xoay quanh trục Lò Thiêu, và câu nói nổi tiếng của nhà văn, nhà học giả Đức gốc Do Thái, Walter Benjamin, một nạn nhân của Nazi:
Mọi tài liệu về văn minh là một tài liệu về dã man. (2).
Mượn hơi men từ câu của ông, ta có thể cường điệu thêm, và nói, Nobel mấy năm gần đây, là Nobel của văn chương sám hối.
Khi Kertesz được Nobel, ngay dịch giả qua tiếng Anh hai tác phẩm của ông, trong có cuốn Không Số Kiếp, cũng không nghĩ tới chuyện ông được Nobel. Katharina Wilson, dạy môn Văn Chương So Sánh (Comparative Literature, Đại học Georgia), trong một cuộc phỏng vấn, ngay sau khi biết Kertesz được Nobel, cho biết, bà thực sự không tin, không thể tưởng tượng được lại có chuyện đó. "Tôi luôn luôn nghĩ, đây là một nhà văn hảo hạng (first rate), một thiên tài theo kiểu của ông ta, nhưng tôi chẳng hề tin, ngay cả chuyện ông được đề cử (nominated), đừng nói đến chuyện được giải Nobel.
Khi Cao Hành Kiện được, cả khối viết văn bằng tiếng Anh dè bỉu, chưa kể đất mẹ của ông, là Trung Quốc, cũng nổi giận: Thứ đó mà cũng được Nobel, hử" Rõ ràng là có mục địch chính trị!
Nhưng Nobel quả là có mục đích chính trị, và đây mới là chủ tâm của nó, theo tôi. Chính trị như là đỉnh cao của văn chương, chính trị theo nghĩa của câu nói của Benjamin.
Hãy nhớ lại những lời tố cáo nước Áo của bà Elfriede Jelinek, [Ba` gây tranh ca~i nhiê`u nhâ´t va`o năm 1980 khi đươ"c tri´ch lơ`i no´i la` "A´o la` một quô´c gia tội phạm", nhă´c lại chi tiê´t quô´c gia ba` tư`ng tham gia va`o ca´c tội a´c cu"a pha´t xi´t Đư´c. Trích BBC online], là chúng ta nhận ra sự sám hối của giải Nobel. Trong số những người cùng được vinh danh với bà, có Walter Benjamin. Có đế quốc Áo Hung, mà những nhà văn như Đức gốc Do Thái, Jopseph Roth đã từng coi như đây là “nhà” của mình, hay như Freud đã từng than [qua bài viết của J. M. Coetzee, điểm Tập Truyện Ngắn của Joseph Roth, The Collected Stories]:
“Áo Hung không còn nữa”, Sigmund Freud viết cho chính mình, vào Ngày Đình Chiến, năm 1918: “Tôi không muốn sống ở bất cứ một nơi nào khác… Tôi sẽ sống trong què cụt như vậy, và tưởng tượng mình vẫn còn đầy đủ tứ chi.” Ông nói không chỉ cho chính ông mà còn cho rất nhiều người Do Thái của văn hóa Áo-Đức. Sự chia năm sẻ bẩy cựu đế quốc, và cùng với nó, việc vẽ lại bản đồ Đông Âu tạo nên những quê hương mới dựa trên sắc dân, chủng tộc - làm bật ra một sự kiện thê thảm: Người Do Thái không làm sao chỉ ra, chỗ này, chỗ kia, vốn xưa kia là nhà của tổ tiên họ. Họ không có nhà riêng trong một Đông Ấu mới mẻ đó. Trước đó, họ vẫn coi cái đế quốc Áo Hung, như là nhà của họ, hay nói rõ hơn, cái nhà nước đế quốc siêu quốc gia cũ đó hợp với họ. Sự tái sắp xếp thời hậu chiến là một tai ương với người Do Thái. Và những năm đầu tiên của nhà nước Áo mới mẻ, ốm yếu bịnh hoạn, với sự thiếu hụt thực phẩm, nạn lạm phát là mất tiêu bao chắt chiu dành dụm của tầng lớp trung lưu, bạo lực trên đường phố giữa những lực lượng địa phương, phe nhóm… chỉ làm tăng thêm nỗi khốn khó của họ. Một số đã nhìn về Palestine như là một nhà nước [a national home]; những người khác quay qua cầu cứu chủ nghĩa siêu quốc gia cộng sản. Cũng vậy khi trao cho Cao Hành Kiện là vinh danh sự sống sót của “chỉ” một con người, trong cuộc chiến chống lại lịch sử của đám đông. Với riêng tôi, mấy giải Nobel những năm gần đây mới thực sự là Nobel văn chương. Nhìn theo đường hướng đó, nhà văn Việt Nam hy vọng đoạt giải văn chương Nobel nhất, trong tương lai, có thể là Dương Thu Hương. Chắc chắn sẽ lắm người phản đối. Có thể “cả một quốc gia” phản đối. Đâu phải văn chương, mà là chính trị, mà là phản động, mà là…
Nhưng như đã nói ở trên, Nobel là chính trị trước đã. Phải có “cái tâm”, rồi hãy, viết gì thì viết.
NQT
Chú thích: (2) Bản tiếng Pháp: “Il n’est aucun document de culture qui ne soit aussi document de barbarie” [Trong lời giới thiệu tác phẩm Đường Một Chiều, Sens unique, [tác phẩm của Benjamin, tủ sách 10/18, domaine étranger], của Jean Lacoste.
(1):
Bài dịch của Thụ Nhân.

Giải Nobel văn chương thực sự có giá trị gì"
Villalon, Oscar
Liệu giải Nobel văn chương có quan trọng chút nào không" Đặt câu hỏi thế không phải là coi thường giải Nobel. Nếu ta là một độc giả bị hoàn toàn lạc lối giữa hàng núi văn chương, ta sẽ thấy ngay rằng giải Nobel có thể giúp ta định hướng đặng tìm về những Gabriel Garcia Marquez hay Isaac Bashevis Singer.

Nhưng ngoài cái đó ra, giải Nobel thực chất là gì"

Xin chớ lầm rằng câu hỏi thẳng thắn trên đây là “phản văn chương”, có ý hạ thấp uy tín của một giải thưởng mà người ta cho là vật gần nhất với cỗ xe thần thánh của Apollo đưa một nhà văn lên chót đỉnh cao vời - cả về tài chính lẫn nhiều thứ khác. Xét cho cùng, nhà văn thứ thiệt xứng đáng được công nhận, được mời chiêu đãi và chụp hình lắm chứ, họ xứng đáng có đủ tiền để sắm xe BMW và tậu một bể bơi sành điệu nếu họ muốn.

Nhưng cần phải nói rằng giải thưởng này, từ khi thành lập vào năm 1901, chẳng mắc mớ gì tới việc bảo đảm sự bất tử của một nhà văn, nói chi tới chuyện bảo đảm rằng tác giả nọ kia sẽ được thừa nhận là “vĩ đại” - ấy là hai phẩm chất được cho là gắn liền với việc trao giải Nobel, nhưng thực chất thì không.

Thử xét vế đầu trước. Thậm chí người thông thái nhất trong chúng ta cũng chật vật lắm mới kể ra được tên dù chỉ một cuốn của một lô một lốc những vị đoạt giải Nobel trước đây. Sigrid Undset (1928) chẳng hạn" Ai mà quên được bà ấy, đúng không nào" Hay Par Lagerkvist (1951)" Hay Jaroslaw Seifert (1984)" Tên của họ được khắc vào não bạn rồi phải không" Nếu đúng vậy thì chỉ có thể là do bạn đã học thuộc lòng tất cả các vị đoạt giải Nobel để đi thi đố ở câu lạc bộ mà thôi.

Liệu sự quên lãng ấy là do công chúng đọc sách không chia sẻ được cái thị hiếu rất ư tinh tế của các vị thành viên suốt đời trong ủy ban trao giải Nobel" Liệu có phải ấy là do thị trường bị tràn ngập bởi “tác phẩm” của những tay như Pamela Anderson và Jenna Jameson, và bởi chẳng biết do phép màu nào mà đột nhiên xuất hiện một con chó biết viết văn thành thử không còn chỗ nào cho các văn tài đó nữa" Hay có lẽ ấy là do mọi chuyện đều trông cậy vào một dúm người Thụy điển học cao đặng họ cầm tay bắt mạch làng văn chương toàn thế giới rồi tuyên bố kẻ xứng đáng được họ để mắt tới" Nếu chỉ làng thơ Na Uy thì may ra họ còn kham được. Làng văn Thụy Điển thì tốt hơn. Nhưng làng văn của toàn thế giới thì không thể.

Thế nên chẳng có gì lạ khi ta xổ toẹt hầu hết các vị đoạt giải Nobel, bởi nhiều vị - mỉa mai thay - hoàn toàn không xứng với cái mà trong mắt thiên hạ được tượng trưng bằng Giải Nobel: sự vĩ đại không cần bàn cãi. Dĩ nhiên, nếu đó là mục đích của giải - hàng năm công nhận nhà văn xuất sắc nhất mà không ai bàn cãi, kiểu như hàng năm UEFA trao Quả bóng vàng -, thì ban giám khảo Nobel chỉ cần có khả năng mạnh mẽ để nắm bắt được điều hiển nhiên ai cũng thấy. Nhưng thực tế xem ra không phải. Bởi nếu đúng vậy thì tại sao ban giám khảo Nobel mãi không chịu công nhận Philip Roth, Mario Vargas Llosa hay Carlos Fuentes" Có những nhóm đọc sách ở Mỹ từ lâu đã công nhận thiên tài của các nhà văn đó, trong khi Viện Hàn lâm Thụy điển thì tụt hậu quá xa.

Và nếu mục đích của giải Nobel là làm thế giới phải chú ý đến những văn tài đích thực mà thiên hạ trót chưa biết tới, làm cho tác phẩm của họ mãi mãi từ nay sẽ được nâng niu trân trọng, thì rõ ràng mục đích đó cũng đã không đạt được - ít nhất là khi so sánh một số nhân vật đoạt giải Nobel với vị thế những người mà chúng ta đã biết từ lâu và vẫn còn đang đọc: Faulkner, Eliot, Hesse, Camus, Neruda, Milosz, Bellow, Hemingway. Tất cả những vị đó đều bất tử vì nhiều lý do - tác phẩm họ, cuộc đời họ, giáo trình đại học khắp nơi đều nhắc tên tuổi họ - chứ không phải chỉ vì họ đoạt giải Nobel. Đối với các vị này và sự nghiệp của họ, giải Nobel chỉ như quả hồ đào điểm xuyết cho cái bánh. Giải Nobel không làm nên họ.

Dĩ nhiên, danh sách những ứng viên “nặng ký” từng đoạt giải Nobel chỉ kéo theo một danh sách dài hơn nhiều gồm tất cả những người đồng hạng cân với họ mà chưa bao giờ lọt được vào mắt xanh Viện Hàn lâm Thụy Điển, nhưng hoàn toàn không phải vì bị khước từ giải Nobel mà sự nghiệp của họ kém phần sáng chói: Graham Greene, Joseph Conrad, Jorge Luis Borges, Willa Cather, Garcia Lorca, Virginia Woolf, Italo Calvino, George Orwell, vân vân và vân vân.

Vậy thì mục đích của giải Nobel văn chương là gì" Có thể không chỉ có một. Mà cũng có thể, người ta có cảm giác nó thế nào thì nó đúng là như thế: một khoản tiền thưởng hậu hĩnh 1,3 triệu đô-la do một nhóm người Bắc Âu rất chi là văn minh và hiểu biết trao tặng cho những tác giả mà họ thật sự ưa, ưa vì những lý do hoàn toàn chủ quan, đôi khi mang tính chính trị.

Và nếu tác giả mà họ chọn tình cờ lại là một người mà bàn dân thiên hạ đã biết là người kiệt xuất thì tốt. Còn nếu tác giả là một nhà văn Áo chẳng mấy ai biết nhưng được chọn ra nhờ những cuốn tiểu thuyết “khắc họa một thế giới tàn bạo nơi người đọc đối đầu với một thế giới của bạo lực và quy phục, kẻ đi săn và con mồi”, thì tốt cho bà ta thôi.

Có thể giải Nobel năm sau sẽ gây chú ý. Chẳng phải vì nó quan trọng gì cho cam, nói ra chỉ xấu hổ.

Thụ Nhân dịch từ bản tiếng Anh What's a Nobel in literature really worth

Nguồn: San Francisco Chronicle, 9/10/2004

© eVăn 2004

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.