Hôm nay,  

Lại Nói Về Bất Hạnh

01/12/200400:00:00(Xem: 5619)
3

Mặc dù quan tâm tới triết học về văn hoá và sinh học, M. nuốt không nổi Hegel, luôn cả Kant, và niềm hân hoan của ông đối với chủ nghĩa Marx, may mắn làm sao, đủ để cho xong những năm học. Ngay trước khi bị bắt, ông lắc đầu trước món quà của Lezhnev, là cuốn Biện chứng Về Thiên Nhiên của Engels.
Lezhnev là cựu chủ bút tờ Rossia, M đã từng cộng tác với báo này. Ông ta có vẻ hết sức ngạc nhiên khi M từ chối món quà quí như thế. Chính ông này đã từng yêu cầu M viết “Tiếng Động Của Thời Gian, The Noise Of Time” cho báo Rossia, nhưng lại từ chối không đăng, sau khi đọc. Ông ta đã trông mong và hy vọng một câu chuyện về thời thơ ấu của M, nhưng rõ ràng là không phải thứ này. Và sau, thay vì yêu cầu ai làm chi cho mất công, ông ta bèn tự viết lấy! Câu chuyện của ông ta là về một đứa trẻ Do Thái đã khám phá ra ánh sáng của đời mình, là chủ nghĩa Mác.
Ông ta quả là may mắn với cuốn sách của mình. Thoạt đầu chẳng ai thèm in nó, tuy rằng nó chẳng đến nỗi quá tồi tệ, so với những anh em đồng loại. Nhưng, [ối giời ơi là giời], Stalin đã đọc, và gật đầu một cái. Ông trùm Đỏ còn gọi một cú điện thoại cho chính tác giả, để nói cho ông ta nghe, rằng ông trùm gật đầu. Khốn khổ cho tác giả, bữa đó lại không có nhà. Khi biết chuyện xẩy ra, Lezhnev bèn đóng cửa tạ khách, ôm khư khư cái điện thoại vào trong lòng, trong suốt một tuần lễ, hy vọng ông trùm Đỏ đoài hoài, và gọi cho mình một lần nữa!
Như chúng ta đều rõ, phép lạ đâu có xẩy ra liên tiếp như vậy! Tuy nhiên, tuần lễ sau, Lezhnev được biết, lệnh đã ban ra, ơn trên đã ngó xuống, cuốn sách của ông được phép in [lúc đó đang được in], ông được ban cho một cái thẻ Đảng, một chức biên tập, nơi bộ phận văn học, ở tờ báo Đảng, tờ Sự Thật [Pravda]. Từ một anh xuất bản quèn, Lezhnev “đột xuất” trở thành một “đại gia” trong “Đảng Tộc”, và sướng quá, vui quá, đến phát khùng!
Trong tất cả những phép lạ, phép lạ xẩy ra với Lezhnev hoá ra là dài nhất, anh ta nắm chặt cái ghế ngồi ở tờ Sự Thật, cho tới khi cái chết rứt ra khỏi.
Tóm tắt như thế này, sau một tuần ôm điện thoại, nghe được toàn những hỉ tín như trên, Lezhnev bèn ngay lập tức chạy tới tiệm cắt tóc, cạo ngay bộ râu đã quá dài vì bẩy ngày bẩy đêm đợi chờ cú điện thoại. Tiếp theo, anh ta gọi điện thoại cho chúng tôi, với món quà Engels, tức cuốn Biện Chứng Về Thiên Nhiên, cầm trên tay, và nói với chúng tôi về Thay Đổi Lớn mà Chủ Nghĩa Mác đã đem lại cho cuộc đời của anh ta. Tất cả những điều này là mới bịa ra thôi, vì trước đó, khi còn làm tờ Rossia, anh ta chưa hề bao giờ nghĩ tới. Và như để chứng minh, anh nói thêm, tất cả là nhờ đọc Biện Chứng của Engels. Chính vì vậy mà anh ta đã kiếm cho được một bản cho chúng tôi. Bởi vì anh ta cũng muốn M cũng được ban ân huệ, cũng được Ơn Trên Ngó Xuống, và cũng được mặc khải như anh!

Thật lòng mà nói, anh ta rất ư là thành thực khi nói ra những điều đó, và có lúc, tôi đã thèm được như anh ta: một sự chuyển hoá rất ư là thành thực khi mặc khải ra niềm tin, nó chấm dứt những khó khăn, những trắc trở, những hồ nghi, lại còn thêm một tí tiền còm, income, làm cuộc sống của bạn trở nên dễ chịu hơn, ai mà không ham"


Tình cảnh lúc đó thật là trớ trêu. Một bên thì nài nỉ, còn một bên thì tìm đủ mọi cách thật là lịch sự, để mà tứ chối món quà tặng. Tới mức hết có thể từ chối, M bèn quay qua tôi, nói, “Không, bà xã tôi đã đọc cuốn đó, và lệnh ông không bằng cồng bà, bà ấy nói, tôi không nên đọc!”
Lezhnev trố mắt nhìn cả hai chúng tôi. Làm sao lại có người để cho vợ quyết định những vấn đề trọng đại, như đọc sách, tư duy, ý thức hệ, nhất là ý thức hệ Mác Xít"
M. trả lời, “Tại sao không, bà xã tôi bảnh hơn tôi nhiều, bà luôn luôn biết, tôi nên đọc sách gì.”
Bực tức ra mặt, anh ta bỏ đi một mách.
Mấy năm sau, chúng tôi gặp lại, và ôm choàng lấy anh, khi cùng di tản tới Tashkent trong thời gian chiến tranh. Anh vẫn luôn coi tôi như là một thứ thiên tài ma quái [evil genius] của M., nhưng nói phải tội, anh chưa hề tố cáo tôi với nhà cầm quyền. Tôi không biết cách ứng xử của anh tại tờ Sự Thật, có lẽ cũng chẳng khác đám còn lại, bởi vì nếu không, làm sao giữ được nồi cơm, nhưng cách ứng xử của anh đối với riêng tôi, tỏ ra rất đàng hoàng, phải nói, rất chân thật. Tôi đã phải sửa soạn cho mình, để mà tin tưởng rằng, anh ta quả đã được “mặc khải” từ cuốn Biện Chứng Về Thiên Nhiên của Engels, tuy nhiên, tôi sợ rằng, cuốn sách quá cao, đối với anh.

Bằng cách đưa tôi ra làm bia, chúng tôi không có một tí văn học Mác nào ở trên kệ sách.
Riêng về trường hợp suốt một tuần lễ Lezhnev không dám rời chiếc điện thoại, râu tóc không dám cạo, ăn ỉa tại chỗ như trên, chỉ mong Stalin lại gọi điện, chuyện như vậy chẳng làm ai ngạc nhiên, bởi vì, ai cũng làm như vậy hết. Bất cứ một công dân Xô Viết nào cũng hành xử như vậy. Chúng ta cứ thử tưởng tượng ông trùm Đỏ gọi lại, và lại không gặp, số phận của người đó sẽ như thế nào" Không chỉ mất job, mà có khi còn mất luôn cái chỗ đội nón!
Về cái chuyện suốt một tuần không rửa mặt, không cạo râu, có một giai thoại khác, do Duyên Anh kể, và theo như người viết đoán, ông đã phải đi cải tạo một phần là vì nó. Câu chuyện này tôi tin rằng nhiều người đã có nghe qua.
Một bữa, có một em quàng khăn đỏ được vinh dự gặp Bác Hồ, và còn được Bác hôn lên… trán. Thế là về nhà, em bé nhất định không chịu rửa mặt, và một tuần lễ sau, em thỏ thẻ khoe, vưỡn còn mùi Bác Hồ!

Không có văn học Mác xít, và để thay vào đó, là một vài cuốn về nghệ thuật, kiến trúc, của Rodin về nghệ thuật Gothic của Pháp. Vào năm 1937 có một người nào đó đã gửi cho M một số sách do viện bảo tàng Ý thải ra, M. mừng quá là mừng, nhưng nỗi vui của ông bị Kostyrev chặn đứng lại, khi cảnh cáo, hãy coi chừng cái đám đế quốc, đây là đòn của tụi nó tính bắt liên lạc với ông. Chỗ nào cũng có gián điệp của chúng! “Chắc chắn là chúng có mục đích gì đó khi gửi những sách này cho ông!”.
Ở đáy kệ sách, nơi ít người để ý đến, M. lưu giữ những cuốn sách của thời thơ ấu: Pushkin, Lermotov, Gogol, the Iliad… Trong Tiếng Động Của Thời Gian, đã có viết, bằng cách nào chúng đã được ông cụ của M lưu giữ. Hầu hết những cuốn này thì đều tàn tạ tại Kalinin, khi tôi chạy trốn tụi Đức. Đúng là trên đe dưới búa, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, một bên là Hitler, một bên là Stalin!
Đó là số phận của chúng tôi.
NQT
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.