Hôm nay,  

Mưa Núi

25/01/200500:00:00(Xem: 7723)
Người bạn đạo rủ tôi lên chùa trên núi nghe pháp vì có người cho quá giang. Thật là duyên lành vì đấy là ngôi chùa tôi mong một lần được viếng mà chưa có phương tiện.
Buổi chiều trước ngày đi, tin khí tượng báo, đêm sẽ mưa và hôm sau còn mưa nữa! Bạn tôi gọi, và lo lắng:
- Mưa, làm sao mà lên núi "
- Thế người cho quá giang có đi không "
- Chưa nghe họ nói gì cả.
- Vậy mình cứ coi như trời không mưa, sáng mai mình cứ đến điểm hẹn.
Điểm hẹn chính là tư gia của người sẽ cho chúng tôi quá giang. Tin khí tượng lâu lâu đoán sai nhưng lần này họ lại đoán đúng quá ! Đêm qua tôi nằm thao thức nghe mưa rạt rào bên khung cửa, nghĩ đến bầy chim sẻ đông đảo làm tổ trên cây thông rậm rạp tàn lá, lối cửa vào nhà bếp. Bản năng sinh tồn thật là kỳ diệu, sau những cơn giông bão tả tơi của đất trời, tưởng như những sinh vật nhỏ bé không còn cơ sống sót, vậy mà, chỉ một tia nắng ban mai yếu ớt thôi là chúng lại reo vui cùng vạn hữu. Tôi biết chúng sẽ qua được đêm mưa này để ngày mai lại chịu cơn mưa khác. Sự khổ đau của con người cũng như vậy chăng " Có những nỗi đau ta tưởng không chịu nổi nhưng rồi nỗi đau đó vẫn qua, ta vẫn còn đó để sẵn sàng chịu bao nỗi đau khác tới !
Sáng sớm hôm sau, hai đứa tôi lội mưa tới điểm hẹn. Chủ nhà đã sẵn sàng, và chúng tôi cùng lên đường trên chiếc xe Van của họ do con trai họ lái. Ở thời buổi này, hai người thanh niên trẻ trung, năng động, dành ngày cuối tuần đưa bố mẹ đi chùa là điều khá hiếm. Hiếm hơn nữa, câu chuyện trên xe họ nói với nhau chỉ là những sinh hoạt trên chùa, thỉnh thoảng nhắc đến tên những vị tăng ni mà họ quý mến mà không hề có tiếng thị phi qua lại.
Mưa nhẹ hơn khi xe rẽ vào đường núi. Phút chốc, cảnh ồn ào phố thị đã khuất sau lưng. Núi rừng hùng vĩ bao la ngạo nghễ trong màn mưa trắng đục. Xe chạy qua rừng thông, qua rừng sồi, qua những vách đá cheo leo mà vững chãi, niềm vui trong lòng tôi, theo với mưa mà chan hòa trời đất……
Mưa lại nhẹ hạt hơn, chỉ còn như những làn bụi mỏng khi xe ngừng trước thiền đường khang trang trên một ngọn đồi. Đó đây, những bóng áo nâu, áo lam thấp thoáng như những nét chấm phá tuyệt vời trên bức tranh thủy mạc linh động. Không có tiếng cười nói ồn ào, không có những bước chân khua động vội vã, không có những gương mặt nhăn nhó, ưu tư…..chỉ thấy những nụ cười nhẹ nhàng, những cái chắp tay chào nhau thầm lặng mà đầy thân ái, những bước chân khoan thai mà đầy an lạc, thảnh thơi. Không ai bảo ai, họ thư thái, nhu hòa, thể hiện chân-như bát ngát.
Hai chúng tôi hòa nhập vào đạo tràng đó và dù cố gắng thế nào vẫn lộ rõ sự lúng túng, lăng xăng. Rồi giờ thực hành nghi lễ bắt đầu. Tuy không thấy vị Thầy chủ lễ nhưng trên những hàng tọa cụ đối diện nhau, chúng tôi thấy quý Sư chú, Sư cô đông đến hơn ba mươi người. Các vị ngồi xuống, rất nhẹ nhàng, và gương mặt đều toát ra tràn đầy vẻ từ ái. Chính tư thái đoan nghiêm của các vị tu sĩ đã truyền năng lượng trực tiếp đến tất cả Phật tử hiện diện và mọi người đều đồng nhất ngồi xuống như thế, thanh thản như thế và nhu hòa như thế. Không khí này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ ngôi chùa nào, tu viện nào mà tôi đã viếng thăm. Và lòng tôi rung động khi nghĩ tới hai câu thơ: “Người trang nghiêm cõi Phật. Là trang nghiêm tâm người”. Lẽ đạo đơn giản quá ! Cứ tập trang nghiêm tâm mình đi, thì cõi Phật trang nghiêm là chính đó. Tâm náo động mà đi tìm cõi Phật trang nghiêm thì có khác gì nàng Diễn Nhã Đạt Đa trong Kinh Lăng Nghiêm, cứ lắc đầu mà khóc rằng “Đầu tôi đâu " Tôi đã mất đầu!”
Khi đại chúng đều an tọa, vị duy-na điểm nhẹ ba tiếng chuông rồi cất giọng, xướng bài kệ Dâng Hương. Mọi người lặng yên quán tưởng. Bên ngoài, trời lại bắt đầu mưa. Xung quanh thiền đường toàn là cửa kính nên có thể thấy rất rõ từng cái oằn mình của nhánh thông non, từng chiếc lá sồi lượn lờ trong màn mưa trong vắt, nghe được từng tiếng gió rít qua hàng tiêu lả ngọn, và, ở một phút nào, có phải là mưa đang cùng tụng Bát Nhã " Ôi, kỳ diệu thay ! mưa đang hòa âm thanh trầm bổng với tăng chúng

“…Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả….
...
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate
Bodhi
Svaha.”
Chỉ khi đọc tới câu chú này tôi mới định thần rằng mình vừa mộng tưởng. Nhưng cái gì là mộng, cái gì là thực khi “Sắc chẳng khác gì không. Không chẳng khác gì sắc”" Âm thanh tôi đang nghe được qua nhĩ căn có thực là âm thanh Bát Nhã, hay chính cơn mưa hùng tráng tinh khôi ngoài đồi núi bạt ngàn kia mới là bài ca Bát Nhã bất tận " Mưa xuống như rong chơi, núi lặng yên tắm mát, rừng đùa vui cùng gió rạt rào, những tảng đá thì thào to nhỏ….vạn hữu thể hiện tràn đầy tự tại an nhiên, trong sáng và đơn giản, đứng ngoài mọi biệt phân, hý luận chính là tinh thần Bồ Tát Tự Tại “…Nên khi vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi…”
Năng lượng của tăng chúng, của gió núi mưa rừng, của tiếng chuông rất nhẹ mà như ngân vô tận, của tiếng mõ rất nhỏ mà như thoảng khôn dừng, tất cả, trong một sát na, bỗng lắng yên. Một cánh cửa hé mở. Một chút mưa, một chút gió đùa nghịch lén theo gót chân Thầy. Nhẹ tay khép cửa, Thầy bước vào, cởi chiếc nón lá, rũ nhẹ những giọt mưa còn lưu luyến rồi từ tốn đặt nón ở góc phòng. Thầy bước từng bước chậm nhưng vững chãi, an nhiên. Thầy tiến lên bục giảng. Thầy chắp tay. Và Thầy nói:
- Xin chào đại chúng.
Tất cả đại chúng chắp tay và cúi đầu.
Trời ơi, tôi chưa thấy nơi nào mà cung cách đón vị giảng sư vào đạo tràng lại đơn giản mà tôn nghiêm đến thế! Có cần chi chuông khánh rộn ràng mà tâm thiếu tôn kính trang nghiêm" Nơi đây, Thầy tự bước vào, cất tiếng chào đại chúng trước. Và Phật tử lặng yên chắp tay đáp lễ, chính là đang nhiếp tâm chánh niệm, cúng dường Thầy nội tâm thanh tịnh của mình. Một kẻ còn ngơ ngác như tôi mà cũng nhận được ra như thế ! Tôi liếc nhìn người bạn đạo ngồi bên, cũng là lúc chị ngửng đầu lên, môi điểm nụ-cười-Ca-Diếp trong Hội Liên Hoa.
Rồi Thầy cất tiếng giảng. Giọng Thầy cũng nhẹ như khi Thầy bước vào cùng mưa, nhưng rõ ràng, khúc chiết như những giòng chữ Thầy đang ghi trên bảng đen. Bài giảng xen lẫn những áng thơ óng chuốt mà Thầy phiên dịch từ chữ Hán sang chữ nôm. Với viên phấn trắng, Thầy viết nguyên bản chữ Hán đến đâu thì cất giọng phiên dịch đến đấy. Không phải là giấy điều, bút lông mà nét chữ Thầy đã rất đẹp, rất bay bướm. Hôm đó, Thầy mở đầu bằng bài thơ của vua Trần Nhân Tông tức là Thiền sư Hương Vân, để giảng về Hạnh Bồ Tát. Thỉnh thoảng Thầy nâng tách nước, uống một ngụm nhỏ, như để đại chúng có chút không gian, thời gian thấm được những lời Thầy nói. Bằng ái ngữ dịu dàng, cử chỉ khoan thai, Thầy giảng bài pháp thâm diệu hết sức xúc tích mà lại vô cùng dễ hiểu. Hạnh phúc biết bao khi được thọ nhận pháp thí này!
Khi Thầy vào như thế nào thì ra như thế ấy. Sau kệ hồi hướng, Thầy chắp tay xá đại chúng, bước xuống bục giảng, đi về hướng cửa. Tới góc phòng, Thầy cúi xuống, cầm chiếc nón lá, nhìn ra khung trời mưa bay rồi chậm rãi đội nón, mở nhẹ cánh cửa. Không nói thêm một lời mà như để lại ngàn lời.
Đại chúng đều ngồi chắp tay lặng yên, nhiếp tâm chánh niệm theo bóng áo nâu nhòa dần sau làn mưa núi….
Tôi khóc tầm tã như mưa! Hạnh phúc như mưa! Lắng trong và ngọt lịm như mưa! Pháp là thế mà thôi, là Từ Bi Trí Tuệ thể hiện viên dung, như Đức Phật đã dạy: “49 năm ta chưa từng nói.” Nhưng hãy nhìn những bước Đức Phật đi, hãy thấy những việc Đức Phật làm mới biết đâu là cửa đạo.
Trên đường xuống núi, người bạn cùng đi, nhặt một chiếc lá phong rất đẹp vương trên bụi cỏ, im lặng đưa cho tôi. Tôi nhận chiếc lá. Và im lặng mỉm cười. Bỗng nhiên tôi hiểu bạn như bạn đang hiểu tôi.
Chúng ta vừa thực chứng giai thoại “Niêm hoa vi tiếu” thuở nào…….
Diệu Trân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.