Hôm nay,  

Thánh Simone – Simone Weil

19/05/200500:00:00(Xem: 8010)
1.
“We must prefer real hell to an imaginary paradise”
Simone Weil
(Phải chọn địa ngục thực, thay vì một thiên đường dởm).
“Không thành công cũng thành nhân”
Nguyễn Thái Học

George Steiner, trong bài viết Thánh Simone – Simone Weil, có nhắc tới truyền thuyết, theo đó, Plato đã nói về Diogenes: “Ông ta là một Socrates phát khùng” (He is Socrates gone mad). Ông tự hỏi, liệu có thể áp dụng câu nói đó vào trường hợp Simone Weil"


Nhà xuất bản Gallimard, tủ sách Quarto vừa cho phát hành (1999) tác phẩm của Simone Weil; gồm 55 bản văn, bài viết, thư từ trao đổi.
Sinh tại Paris, ngày 3 tháng hai 1909. Tự huỷ mình bằng cách nhịn ăn, Simone Weil mất ngày 24 tháng tám 1943, tại London, nơi bà tham gia lực lượng kháng chiến Pháp. Triết gia, sử gia, nhà huyền học, Simone Weil (1909-1943) đã trải qua những năm tháng đen tối của thế kỷ. George Steiner cho rằng, khí hậu thế kỷ sẽ không thể hiểu được, nếu thiếu sự đóng góp của Simone de Beauvoir, và Annah Arendt, nhưng trên hết vẫn là của Simone Weil. Như Marx, bà là triết gia luôn quan tâm tới điều kiện lao động mang tính tâm lý, xã hội, thể chất, chính trị, và luôn cả triết học, của người công nhân, hay là thân phận đổ bát mồ hôi kiếm miếng ăn của đàn ông đàn bà và trẻ em trên thế giới, dưới cái nhìn háu háu của con quái vật nhà máy. Đây là một trong những ý niệm nữ hoàng (notion reine), ý niệm về lao động, được coi như là chủ chốt trong lý thuyết về tri thức của bà: “cái thực chỉ có được bằng trầy trật, bằng cố gắng, tức là bằng lao động. Cái thực là cái cưỡng lại chúng ta” (Le réel est ce qui nous résiste). Từ đó bà cho rằng: Những người thợ biết hết, nhưng ngoài lao động, họ không biết rằng họ đã sở hữu đạo lý làm người (la sagesse). Giấc mộng về con người hoàn toàn (l’homme total) của Marx, được Simone Weil diễn tả như sau: “Chúng ta muốn đem đến cho lao động chân tay, phẩm giá mà nó có quyền được hưởng; bằng cách đem đến cho người thợ đầy đủ trí tuệ, thay vì làm mà chẳng hiểu gì hết; và dí vào tận tay trí tuệ, cái vật dụng của chính nó, bằng cách đẩy trí tuệ tiếp xúc với thế giới, thông qua lao động.”
Sau đây là trích đoạn, bài giới thiệu của Florence de Lussy, người phụ trách xuất bản toàn bộ tác phẩm của Simone Weil:
Một hình tượng đen, vàng ròng, hơi khác thường (une figure noire, et or – siêu nhân, surhumaine, theo như một vài người – vừa cuốn hút, vừa xô đẩy, đó là Simone Weil dưới mắt người đương thời là chúng ta. Ngay từ khi bà còn sống, (đã chọn lựa thái độ) một mình chống tất cả, gây xáo trộn, bực bội, tạo bực bội (scandale), và [cũng tạo nên] sự cuốn hút mãnh liệt.
“Thiên tài là một thói quen mà một vài người sử dụng” (Le ‘génie’ est une habitude que prennent certains. Valéry). Kém ông anh ba tuổi; André Weil, nhà toán học lừng danh mất tích vào ngày 5 tháng tám 1998; ngay từ nhỏ, bà cũng có những thiên tư kỳ lạ, và đau khổ vì chúng. Tới tuổi thành niên, nghĩ mình vô tài, bà quá đỗi thất vọng và chỉ thoát ra được, nhờ điều gọi là “một cú đảo chính trí thức”: đồng hóa thiên tài với ham muốn chân lý, hoài hoài, bền bỉ. Bà tin rằng, “bất cứ một con người nào, cho dù chẳng có một chút xíu thiên tư, [cũng có thể] vào được vương quốc chân lý dành cho thiên tài, nếu, và chỉ nếu, người đó ham muốn, và luôn luôn cố vươn tới, đạt cho được chân lý.”
Là một học trò cưng của Alain; ông thầy nhận ra bà luôn luôn vượt đồng bạn, làm đồng bạn thất vọng, ngỡ ngàng. Simone Pétrement đã nhận xét về bạn mình: Bà đã vội sống, và quá hối hả (qu’elle était pressée de vivre et qu’elle a couru trop vite). Sau này, khi đụng đầu với thế giới tâm linh, bà bước đi bằng những bước bẩy dậm, và chẳng còn ai theo kịp nữa… Bí mật của bà vượt ra khỏi những tài năng số một, và luôn cả những người yêu thương bà.

Qua cuốn Simone Weil, Tác Phẩm nói trên, bà đã từng có ý định tới Đông Dương vào cuối năm 1938.
Quan điểm chống thực dân thuộc địa của bà được diễn tả qua hai bài viết trong cuốn kể trên, Những dữ kiện mới mẻ về vấn đề thực dân thuộc địa trong đế quốc Pháp (1938), và Về vấn đề thực dân thuộc địa trong tương quan với số mệnh của dân tộc Pháp (1943). Ngoài ra còn những bài viết được Louis Roubaud gom lại thành một cuốn nhan đề: Việt Nam. Bi kịch Đông Dương (nhà xb Valois, 1931). Tất cả những bài viết về chủ nghĩa thực dân thuộc địa, trừ bài cuối (1943), sau được nhà Gallimard xuất bản, trong Toàn Tập II, 1989.

Qua bài giới thiệu, của D.C., Simone Weil quan tâm đến vấn đề thực dân thuộc địa rất trễ, thời gian 1937-1938. Nhưng liền đó, đây là một trong những mối âu lo lớn của bà. Thái độ chống đối của bà không phải chỉ là một trong số những đề tài, nhưng bà đẩy nó tiếp cận với những vấn đề khái quát hơn, đó là nghiên cưú về sự áp bức thợ thuyền và thân phận đớn đau của con người. Và đây là phát hiện lớn lao của Simone Weil, khi bà nghiên cứu về yếu tính của cái gọi là sự kiện thực dân thuộc địa: “Những vấn đề của thực dân thuộc địa đặt ra trước hết bằng những từ của sức mạnh. Thực dân thuộc địa hầu như luôn luôn bắt đầu bằng cách biểu dương sức mạnh, dưới dạng ròng của nó, tức là chiến thắng, chiếm đoạt” (Les problèmes de la colonisation se posent avant tout en termes de force. La colonisation commence presque toujours par l’exercice de la force sous sa forme pure, c’est-à-dire par la conquête).

Theo người giới thiệu, chính khởi nghĩa Yên Bái khiến bà quan tâm tới số phận người Việt, nói rõ hơn số phận người dân thuộc địa của Pháp. Bà như chết sững trước sự độc ác của đám người Pháp cầm quyền tại Việt Nam: 150 án tử hình, hàng ngàn người bị xử bắn, và hàng ngàn người bị cầm tù. Simone Weil hết sức quan tâm đến một số bài viết, về số phận người Việt (khi đó còn gọi là Annamites), trên tờ Người Paris Nhỏ (Le Petit Parisien), ngay sau khi vụ khởi nghĩa Yên Bái xẩy ra và bị dập tắt trong vòng hai tuần lễ. “Tôi không bao giờ quên được giây phút mà, lần thứ nhất trong đời, tôi cảm và hiểu được bi kịch thực dân thuộc địa” (“Je n’oublierai jamais le moment ó, pour la première fois, j’ai senti et compris la tragédie de la colonisation).

Câu ‘châm ngôn khủng khiếp”, dịch qua tiếng Anh ở đầu bài viết, “We must prefer real hell to an imaginary paradise”, là từ bài viết của G. Steiner, về Simone Weil, in trong No Passion Spent, Mê Đắm Chẳng Hoài, (nhà xb Yale University Press, 1996).

Trong toàn tập Simone Weil còn có một tài liệu về vụ khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Bái (1930): phóng ảnh tờ truyền đơn bằng tiếng Pháp, yêu cầu thả những nhà ái quốc bị tuyên án tử hình:
Những người vô sản và bị áp bức,
Hãy ngăn chặn những tội ác của đế quốc!
Những tên thực dân sát nhân,
Hãy trả tự do cho 56 người của chúng ta,
bị kết án tử hình tại Yên Bái.
Và tất cả những tù nhân chính trị!
Hãy giải phóng Đông Dương.

(Tổ chức) Những di đân Đông Dương tại Pháp.

2.
Sự câm lặng.

Chuyện xưa, một ông vua giấu sáu cậu con trai và một cô con gái vào trong rừng, vì bà vợ sau của ông vốn là một mụ phù thuỷ. Tuy nhiên bà phù thuỷ cũng tìm ra sáu đứa nhỏ, và ném lên mình chúng sáu chiếc áo sơ mi bằng lụa đã được phù phép, biến chúng thành sáu con thiên nga. Bà không biết sáu anh em còn một cô em gái.

Cô bé đi tìm anh. May mắn làm sao, cô gặp được, bởi vì mỗi ngày họ có mười lăm phút trở lại dạng người. Khi từ giã, cô được mấy người anh cho biết: mấy người anh chỉ có trở lại làm người, khi cô ném lên mình họ sáu chiếc áo, do chính tay cô đan trong sáu năm, bằng một thứ cỏ gai.

Trong sáu năm ròng rã đó, cô không được cười, không được nói.

Cô bắt tay ngay vào việc.

Rồi một ngày đẹp trời, một ông vua ghé qua, và nhận ra một nhan sắc. Hỏi thế nào cũng không nói. Nhưng điều này không làm ông vua đổi ý, khi quyết định cưới cô làm vợ. Và họ có được một đứa con trai. Bà mẹ sai người bắt đứa bé, vu cho cô làm chết nó. Đối lại những lời cáo buộc, chỉ là sự câm lặng. Đứa bé thứ nhì, thứ ba, cũng vậy. Cô lặng câm, cặm cụi cúi xuống manh áo đang đan. Ông vua, dù lúc nào cũng thương vợ, nhưng đành phải kết tội chết. Ngày cô lên giàn hỏa cũng là ngày cuối cùng của thời hạn nghiệt ngã. Khi sáu con thiên nga xuất hiện, cô ném sáu chiếc áo lên mình chúng và lời nguyền hết linh. Cậu út, vì chiếc áo chưa kịp đan xong, vẫn lủng lẳng một cánh thiên nga.

Trên đây là tóm tắt một chuyện cổ (conte) của Grimm [Jakob Ludwig Karl 1785-1863, người Đức, cùng với người anh là tác giả Những Chuyện Thần Tiên (Fairy Tales, 1812-14) dựa theo chuyện kể dân gian].

Và sau đây là tóm tắt chú giải của Simone Weil.

Bà cho rằng, trong những tư tưởng tuyệt vời của Platon, có những tư tưởng ông kiếm được, nhờ suy nghiệm về những huyền thoại. Bà tin rằng, những huyền thoại của chúng ta cũng có những tư tưởng đẹp. Và bà đã thử chọn lựa một cách thật tình cờ, chuyện sáu con thiên nga của Grimm, sau khi cẩn trọng người đọc: sẽ là thực những gì tôi sẽ nói.

Chúng ta phải để ý tới cái thời điểm mà người em gái ném lên mình những con thiên nga những chiếc áo cỏ. Bằng một cú ném áo, họ đã bị trù yếm; cũng bằng một cú ném áo như vậy, họ được giải thoát. Họ bị biến dạng đâu phải do lỗi của họ, và họ trở lại làm người, là do lòng yêu thương của cô em. Nếu họ bị biến dạng do những lỗi lầm mà họ đã phạm, có thể họ sẽ phải trải qua đau khổ, rồi mới được trở lại làm người. Trong câu chuyện, họ nhận điều xấu cũng như điều tốt, là từ bên ngoài. Câu chuyện sẽ khác hẳn, nếu cô em gái đi tìm một thứ dược thảo thần kỳ. Như vậy dược thảo cứu họ, chứ không phải cô em. Chúng ta tưởng rằng những chiếc áo cỏ đã giải thoát họ, không phải vậy. Chính cô em gái, bằng khổ nạn mà cô đã tự ôm lấy: cặm cụi đan áo cỏ trong sáu năm, không được cười, không được nói. Sự câm lặng phá huỷ lời nguyền, làm cho nó trở nên vô hiệu.

Im lặng. Không nói. Không cười. Trong sáu năm ròng rã. Ở đây, sự câm nín, nhẫn nhục trinh nguyên đã tác động. Tình yêu của ông vua, những lời buộc tội của bà mẹ chỉ làm tăng thêm thử thách. Phải cực kỳ khó khăn, cực kỳ khổ nạn, sự cứu rỗi mới rạng rỡ, đức hạnh mới bật ra. Cỏ gai đâu phải để đan áo! Ngay cả hành động đan áo cũng chỉ có một giá trị biểu tượng, chính hành động “không hành động” (không nói không cười), hay dùng từ của Simone Weil, chính cái gọi là hư vô của hành động (le néant d’action) mang trong nó, đức hạnh. Và theo bà, tư tưởng này đã tới được chốn sâu thẳm nhất của tư tưởng đông phương.

Bài học từ câu chuyện Grimm, sự câm lặng, bàng bạc trong tác phẩm của Weil, từ những năm chiến tranh. Thí dụ như trong Cahier VI: “Chủ đề về sự thơ ngây vô tội tự nguyện không chống trả. Những con thiên nga.” Và vào những giây phút cuối cùng của đời mình, trong “sổ tay ở Luân Đôn”, bà hình như tự đồng nhất với nữ nhân vật ở trong câu chuyện cổ tích: “Sự câm lặng của cô gái nhỏ trong Grimm [nhờ vậy] mà cứu được những người anh… Sự câm lặng của Đấng Ky Tô. Một thứ thỏa uớc thiêng liêng, một hợp đồng của Thượng Đế với chính Người, từ đó, thế gian bị kết án: chỉ tới được sự thực bằng [hành động] câm lặng.”

Tôi đọc Weil, và bỗng nhớ những đêm Cali không ngủ vì vụ Trần Trường. Tuy không phải là người Cali, nhưng đúng vào dịp đó, Jennifer tôi có mặt, và đã thường trực tham dự những đêm không ngủ. Ở đó, tôi đã gặp một anh bạn học từ những năm trung học. Cả hai đã từng sát cánh bên nhau, trong vụ biểu tình đầu tiên sau 1954, tại Sài Gòn, để phản đối phái đoàn CS trú ngụ tại khách sạn Majestic và khách sạn Ga-li-ê-ni những ngày sau di cư. Anh cho biết, kể từ ngày đó, bây giờ anh mới lại đi… biểu tình! Và còn gặp nhiều đồng nghiệp trước 1975, chưa từng bao giờ đi biểu tình. Có anh bạn cả đời chỉ cặm cụi làm việc, khi còn ở Việt Nam cũng như khi đã chạy qua Cali sau khi ra trại tù, vậy mà đêm nào cũng ra ngồi… thiền giữa trời!

Tôi nhận ra một điều, đa số những người đi biểu tình xử sự như anh: họ ngồi im lặng, không nói, không cười. Như đang cầu nguyện, trong câm lặng.

Và tôi hiểu ra một điều: đây là một cuộc lễ cầu siêu vĩ đại nhất, trong câm lặng, vào cuối thiên niên kỷ, cho tất cả những người đã ngã xuống vì cuộc chiến, và sau đó…

Và tôi tự hỏi, phải chăng những tiếng hò hét chung quanh sự câm lặng chính là “cú ném áo đầu tiên’, của một con mụ phù thuỷ có tên là “lịch sử của quá khứ”"
Nguyễn Quốc Trụ
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.