Hôm nay,  

Đức Phật Vào Đời

10/05/200500:00:00(Xem: 6277)
(Do Diệu Mỹ trích từ băng giảng của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu.)
Trong Kinh Pháp Cú, Phật nói rằng: “Có 4 cái hạnh phúc chân thật, đó là hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh”, bởi vì nơi nào mà có chư Phật giáng sinh thì nơi đó sẽ mang lại nguồn lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Tại sao chúng ta gọi là ngày giáng sinh hoặc đản sinh" Đản có nghĩa là vui vẻ, hân hoan, lợi ích cho nên ngày đức Phật sinh ra đời là ngày làm cho người hân hoan, vui vẻ. Đó là nguyên nhân mà mỗi mùa Phật Đản những người con Phật chào mừng ngày đức Từ Phụ ra đời với tinh thần thương yêu, hòa ái. Cờ Phật Giáo có 5 màu, và khi xưa người ta làm cờ với quan điểm là 5 màu thể hiện cho 5 châu nhưng về sau địa cầu có tất cả 6 đại châu mà Phật Giáo đều đến và làm cho tất cả xứ sở an ổn, hòa bình.
Trong lịch sử truyền bá của Phật Giáo, đạo Phật đi tất cả các nơi trên thế giới để chia xẻ niềm đau thương của chúng sanh mà chưa bao giờ đổ máu bởi những cuộc chiến tranh trong vai trò truyền giáo. Hôm nay chúng ta tưởng niệm ngày đản sinh của đức Phật để chia xẻ niềm vui mà Phật đã nói trong Kinh Pháp Cú tức là “hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh.” Chữ giáng sinh mang cái ý nghĩa cao thượng tức là một bậc tu hành nhiều kiếp thị hiện xuống trần gian làm một chúng sanh như chúng ta để chia xẻ nỗi cơ cực, thống khổ triền miên của kiếp con người và trở thành bậc giác ngộ. Còn chúng ta thì gọi là được sinh ra trong đời này do cái nghiệp lực bởi ái dục, bởi thương yêu cho nên chúng ta chịu nhiều khổ đau cả ý niệm lẫn tâm thức.
Trong cái hình ảnh sơ sinh của Phật thì chúng ta thấy rằng Phật cũng như bao nhiêu đứa trẻ khác cũng sinh ra, lớn lên và già chết. Nhưng cái quan trọng của Phật mang vào cuộc đời là giáo lý và những tư duy làm cho cuộc đời trở nên thánh thiện. Cho nên khi chúng ta mừng ngày đản sinh của đức Phật là chúng ta tưởng nhớ đến công đức của một người đã đi vào cuộc đời này và mặc dù người ấy đã đi qua cuộc đời này 2626 năm, nhưng những gì người đó để lại cho đời quá rực rỡ, quá tốt đẹp để con người ngưỡng vọng, tưởng niệm, tôn kính và trở thành một bậc vĩ nhân của nhân loại.
Phật nói: “Hạnh phúc thay chánh pháp cao minh” tức là sau khi sinh ra ngài đã tìm được con đường tận diệt khổ đau trong cuộc đời này để mở ra một con đường giáo lý, con đường giác ngộ gọi là đạo Phật. Chánh pháp là những giáo lý chân chánh làm cho con người bỏ khổ, trừ mê và cuối cùng thành tựu giác ngộ. Nhưng sau khi Phật nhập Niết Bàn thì chánh pháp sẽ ra sao" Vì vậy Phật nói: “Hạnh phúc thay Tăng già hòa hiệp” tức là những đòan thể, những vị tu hành đã thệ nguyện đi theo con đường của đức Phật và tập sống giống như đức Phật để hướng dẫn giáo lý của Phật cho tất cả chúng sanh, gọi là Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di, trở thành người Phật tử chân chánh. Điều quan trọng sau cùng Phật gởi đến chúng ta là: “Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu” tức là mọi người cùng tu để giải thoát những khổ đau, giải trừ những tham vọng, những si mê trong cuộc đời thống khổ này. Tứ chúng gồm có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di, cận sự nam và cận sự nữ. Tứ chúng xây dựng đạo Phật để đi vào cuộc đời cho nên Phật nói đó là niềm hạnh phúc.
Niềm hân hoan chúng ta đón nhận trong ngày Phật Đản nếu có ca hát thì là những bài nhạc thánh thiện khuyến khích những người con Phật nên tinh tấn, nổ lực tu hành, và nếu không thì vẫn có những tấm lòng chân thành tưởng niệm đến công đức của ngài. Nhớ tưởng một cách chân chánh đến đức Phật không có gì hơn là sống thánh thiện và noi theo nhân cách của đức Phật để trở thành một người con Phật xứng đáng.
Qua những lời Phật dạy chúng ta ghi nhận được rằng:
1. Có hai đức Phật trong đời này, một là đức Phật của lịch sử có ngày tháng năm sinh cách đây 2626 năm và hai là đức Phật thị hiện tức là đức Phật đã thành Phật trong đời này rồi mà còn trở lại đây nhiều lần vì sự thống khổ của chúng sanh.
· Đức Phật của lịch sử là một người có thật đã sinh ra tại Ấn Độ cách nay 2626 năm tên là Sĩ Đạt Tha con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da của giòng họ Sakya tức là Thích Ca. Khi lớn lên, ngài có vợ tên là Da Du Đà La và con trai là La Hầu La. Đây là một lịch sử rất bình thường nhưng cái phi thường trong con người đó là sau khi có gia đình, nhận thức chân chánh và sâu sắc được tất cả cái khổ của cuộc đời qua “sinh, lão, bệnh, tử” khổ, “ái, biệt, ly” khổ, “thù, ghét, gặp gỡ” khổ, “thân, thể bại hoại” khổ, “cầu, muốn mà không được” khổ để rồi cuối cùng ngài đã từ bỏ cuộc sống của hương vị, của giàu sang, những luyến ái, thương yêu, khát vọng của chúng sanh để đi vào rừng già mà chịu 6 năm khổ hạnh, 5 năm tìm đạo và đã tìm ra con đường chân lý. Chân lý đây không phải là những gì kỳ tuyệt mà chỉ là sự thật của cuộc đời có nghĩa là tất cả những khổ đau, những chấp thủ trong thế giới là ngã và ngã sở hữu. Vì vậy chúng ta lăn lộn trong nhiều kiếp luân hồi và chịu vô lượng khổ đau. Sau 49 ngày ngồi duới cội cây Tất Bát La (sau gọi là cội Bồ Đề hoặc Bodhi), ngài đạt giác ngộ và thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (trước khi giác ngộ chỉ là giòng họ Thích Ca hoặc Gotama).
· Như vậy, cái thành Phật của ngài là để chúng ta thấy rằng đức Phật cũng là một con người giống như chúng ta. Do đó khi thành Phật, ngài nói rằng: “Bây giờ ta đã thấy rõ người làm nhà, thấy rõ cái con người mà ta đã từng sanh tử luân hồi qua bao nhiêu kiếp cho nên cái người thợ làm nhà [những ham muốn, chấp thủ] không còn làm nhà được nữa vì tất cả những kèo cột đều gẫy hết cho nên hôm nay ta đã chiến thắng được ngươi. Chỉ có chiến thắng được mình thì đó mới là chiến công oanh liệt nhất.” Chúng ta nghe thì thấy là đơn giản nhưng cái công trình để tìm ra con đường của giác ngộ, cái sự hy sinh, lòng từ bi vô lượng của đức Phật khi vào đời rất là lớn và không thể diễn tả được vì không có ngôn ngữ nào để nói lên được sự cảm niệm cái công ơn sâu dầy của một người đã khai sinh ra một giáo lý mà có thể làm giác ngộ được toàn thể nhân loại.
2. Sau khi ngài thành Phật, ngài đã tuyên bố rằng: “Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” để nói là chúng ta đi trong luân hồi mà bất cứ lúc nào chúng ta giác ngộ và chấm dứt luân hồi thì chúng ta cũng sẽ thành Phật như ngài, giải thoát khổ đau như ngài vậy. Do đó chúng ta phải sách tấn tu hành và đừng nên coi thường cái khả năng giác ngộ của chúng ta ngay trong cái thế giới ngũ trược này (ngũ [5] trược [nhơ bẩn] là ác trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược). Phật nói rằng: “Bởi vì chúng ta tự ti, mặc cảm, cứ nghĩ rằng chúng ta là chúng sanh nhưng nếu chúng ta thử buông xả hết những tham chấp của cá nhân, thương yêu hết mọi người, tha thứ và gần gủi mọi người thì chúng ta sẽ từ từ trở thành cao thượng.”
· Có người hỏi là làm sao tìm ra được người đắc đạo trong ngày nay" Thật ra, người đắc đạo không phải là người thị hiện thần thông. Đức Phật đã nói là ngài biết thần thông nhưng không muốn biểu diễn để cho người sợ hải hoặc tin theo. Phật không huyền bí như chúng ta tưởng mà là một người rất bình thường. Đặc điểm của đạo Phật là Phật và các đệ tử của ngài đi vào đời với một đặc tính hoàn toàn bình đẳng. Vì vậy khi chúng ta gần gủi người mà đã thấm nhuần nhân cách đức Phật thì chúng ta cảm nhận được cái bình an của Phật chất nơi những vị đó.
· Cái quan trọng của người học Phật là chất bình an, không có sự chấp thủ cá nhân và không có sự tham muốn cá nhân. Cho nên ngày nào chúng ta còn tham muốn, còn phân biệt, còn đối xử nhiều thì ngày đó chúng ta còn cách xa Phật mặc dù trong chúng ta có đầy đủ Phật chất. Phật nói rằng: “Như Lai ra đời với một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ, nhập Phật tri kiến” nghĩa là ngài ra đời để khai mở cho mọi người thấy được rằng ai cũng có những của báu và hãy xử dụng những của báu đó đúng với khả năng của nó.
3. Khi người ta hỏi về nguyên tắc của đạo Phật là gì thì các vị Tổ hoặc Thánh nhân trả lời rằng: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” tức là tất cả giáo lý đạo Phật chỉ gồm trong ba điều là đừng làm ác, cố gắng làm lành, tự thanh tịnh hoặc thanh lọc chính mình và đó là lời chư Phật dạy.
· Chư Phật gồm có Phật của quá khứ, Phật của hiện tại và Phật của tương lai. Khi không làm các điều ác thì chúng ta đã thiện rồi nhưng đây chỉ là phần thiện của tiêu cực, trong khi câu thứ hai “chúng thiện phụng hành” là phần thiện tích cực tức là chẳng những không làm điều ác mà những việc thiện dù nhỏ cũng không bỏ. Thí dụ như nhặt gai hoặc mảnh sành để người khác không đạp lên gọi là chúng thiện phụng hành trong khi không quăng gai ra đường là không làm ác nhưng điều thiện thì chưa làm.

· Khi hiểu rõ thì chúng ta thấy rằng đạo Phật rất là tích cực. Cũng như đức Phật nói rằng cuộc đời là khổ đau không có nghĩa là bi quan, yếm thế mà cốt là cho thấy rằng chúng ta không nên tham đắm, say mê cuộc đời này để rồi tạo nên những khổ đau cho người khác mà phải luôn tỉnh giác để thấy cuộc đời này là vô thường, khổ đau, vô ngã và do đó phải “chúng thiện phụng hành” để làm tốt đẹp cho người xung quanh. Sau khi bỏ ác, làm thiện, chúng ta phải thanh lọc ý của mình có nghĩa là phải sám hối để lục căn được thanh tịnh.
4. Trong Kinh Pháp Hoa, Phật nói rằng: “Giống như những tướng giỏi được vua ban thưởng minh châu, tất cả chúng sanh nếu tinh tấn tu học thì Phật cũng sẽ giao cho cái giá trị nhất của đạo Phật là trí tuệ của sự giác ngộ”, đây nói lên sự bình đẳng như nhau.
· Thời của đức Phật, Phật và các đệ tử của Phật cũng đã từng thể hiện sự bình đẳng giữa những giai cấp trong xã hội. Hôm nay chúng ta cũng vậy, trong ngày tưởng niệm đến đức Phật chúng ta hoàn toàn không có giai cấp và chúng ta chỉ đồng có một tánh giác ngộ giống như nhau.
· Chúng ta nên học nhân cách của Phật và của những vị Thánh tăng để trau dồi cái mỹ đức của chúng ta tức là cái đẹp của tánh nết, của lòng vị tha, của nhân ái, của tự trọng và kính nể mọi người. Khi tu sửa con người của chúng ta trở nên thánh thiện thì giữa ta và Phật không còn cách xa nữa. Có bài nguyện là: “Chúng con nguyện dứt bỏ dục tình ngoan cố, học đòi đức tánh hiền lương”. Cho nên người Phật tử không nhất thiết phải quy y, không phải thường xuyên đi chùa mà chỉ cần hiểu lời Phật dạy và sống xứng đáng với những giáo lý của Phật thì người đó là Phật tử chân chánh.
· Khi học Phật chúng ta thấy được những phần tích cực quan trọng hơn những phần tiêu cực và vì vậy chúng ta nên bỏ đi những tiêu cực để tập sống một cách khoáng đạt hơn. Đức Phật nói rằng: “Tất cả thế giới này nếu con người biết mở rộng tầm mắt ra bỏ đi những chấp ta, tự ngã thì con người sẽ nhận được tất cả những gì cao quí nhất của chân lý.” Là người con Phật chúng ta hiểu rằng khi sống một cách chân chánh thì chúng ta biết rằng có nhân thì có quả.
· Trước khi nhập Niết Bàn, Phật nói rằng: “Tất cả các đệ tử của ta đời nay và đời sau chỉ nhớ một điều là hãy luôn luôn tinh tấn để giác ngộ giải thoát, hãy làm như một con tuấn mã chạy ra khỏi những ý hèn của mình...Nếu các Phật tử cung kính Phật thì nên nhớ là cung kính không bằng gì là phụng mạng. Này các ngươi, đừng nghe theo dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi sự vật ở đời không có gì là quí giá, thân thể rồi sẽ rã tan. Chỉ có chân lý của ta nói là bất di, bất dịch. Cái đó làm cho các ngươi tự giải thoát khỏi khổ đau. Cho nên, này các ngươi, hãy tinh tấn lên, hãy tự nương tựa chính mình, đừng nương tựa ở một ai khác.”
5. Trong Kinh Pháp Hoa, Phật là vị trưởng giả kêu gọi các con ra khỏi nhà đang bị cháy và nếu chạy ra thì sẽ được ba loại xe đẹp. Nhưng khi các trẻ chạy ra thì chỉ có một xe trâu mà thôi. Đây cho chúng ta thấy rằng tất cả các pháp tu (thiền, tịnh độ, mật chú, v..v...) là để cho chúng ta chạy ra khỏi nhà lửa tam giới và khi ra khỏi nhà lửa thì các Phật tử chỉ thấy một xe duy nhất mà thôi. Có nghĩa là khi chúng ta từ bỏ hết những đam mê, tham ái, tự ngã thì tất cả mọi người đều bình đẳng giác ngộ giống như nhau và tất cả những pháp tu đều không có khác biệt. Vì vậy sự bình đẳng là một đặc thù của đạo Phật.
Bài thơ sau đây của thi sĩ Trụ Vũ tán dương về ngày Phật ra đời:
“Nửa khuya đức Phật vào đời
Trong đôi cánh hạc tuyệt vời lên trăng
Cành hoa muộn nở ngoài sân
Thoảng hương xa Phật đến gần trong hươu
Phật là hoa, Phật là hươu, Phật là trăng, là hạc,
là hồn của phương Đông”
Tất cả các nơi, tất cả những cái đẹp nhất trong thế giới này đều là Phật cả, có nghĩa đều là giác ngộ. Nhà thơ diễn tả về Phật tiếp theo như sau:
“Rạng ngày chim hót vườn Đông
Chở chuyên trên cánh hoa hồng âm thanh
Ba nghìn vô tự chân Kinh
Lắng nghe thoảng đến tai mình đơn sơ
Lời chim hót, tiếng quay tơ
Cả âm thinh, cả lặng tờ đều Kinh
Phật ngồi trong mắt thủy tinh
Phật thơm trên má cây quỳnh, cành giao
Phật phơ phất giữa hàng rào
Thắm hoa dâm bụt xôn xao nắng chiều
Phật là quê mẹ thương yêu
Kinh là những tiếng sáo diều của em
Ôi từ độ đá thành tên
Ôi từ độ đất lên nghìn cỏ hoa
Giọt cành sương, hạt mưa sa
Pháp âm dậy giữa phong ba ngọt ngào
Từng biển thấp, từng non cao
Ý chi không Phật, lời nào không Kinh”
Khi tâm không còn phiền não, chấp mắc nữa thì ai nói gì đối với mình cũng là Kinh. Có thương yêu, có hiểu biết thì lúc đó có Phật chất trong con người của chúng ta. Những gì của thương yêu, của dịu dàng đều là Phật, là Kinh. Đạo Phật là có tính chất giác ngộ, tính chất thức tỉnh trong mọi hành động, mọi lời nói và mọi ý nghĩ của con người. Cho nên mỗi người chúng ta đều có thể đem đạo Phật vào đời tức là đem những gì Phật nói và sống vào trong cuộc đời. Chỉ khi nào chúng ta tu chứng thì mới gọi là cúng dường Phật một cách cao thượng.
Trong ngày Phật Đản, chúng ta chỉ có sắm hương, hoa, quả thôi thì chưa làm tròn bổn phận. Chúng ta còn phải tưởng niệm đến công ơn của Phật, còn phải tự xét mình đã xứng đáng làm người Phật tử chưa, đã tiến bộ hơn trước chưa và chỉ khi nào con người chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn thì mới là đã và đang cúng dường Phật một cách cao thượng.
Đức Phật có 10 danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư và Phật Thế Tôn.
Như Lai: “Vô sở trùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai”. Như Lai là như như, bất động có nghĩa là không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nhưng tùy duyên bất biến. Khi nào chúng ta tu hành thanh tịnh rồi thì sẽ thấy rằng hiện tại đức Phật đang ở tại ngay đây và đang thuyết pháp tại đây. Lý do chúng ta không thấy được là vì con mắt của chúng ta có quá nhiều chướng nạn có nghĩa là bị che mờ bởi vô minh.
Ứng cúng: Người mà xứng đáng được cúng dường
Chánh biến tri: Sự hiểu biết chân chánh của Phật về tất cả các pháp trên thế gian.
Minh Hạnh Túc: Trí tuệ và hạnh nguyện của Phật đều đầy đủ. Một danh từ khác là Lưỡng Túc Tôn có nghĩa là phước túc và huệ túc.
Thiện Thệ: Khéo vượt qua và qua lại cõi sinh tử và Niết Bàn một cách dễ dàng.
Thế Gian Giải: Khi Phật còn tại thế, ngài có thể giải thích rõ ràng hết tất cả những sự việc xảy ra trong không gian và thời gian với chư Tăng, chư Phật tử, mọi loài chúng sinh.
Vô Thượng Sĩ: Sự học và thành tựu của ngài đều do ngài tự chứng ngộ và không có thầy nào khác trên ngài.
Điều Ngự Trượng Phu: Bậc trượng phu có thể điều ngự hoặc điều khiển chính mình. Cho nên khi Phật giác ngộ ngài tuyên bố rằng: “Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng lấy mình. Chiến thắng lấy mình đó là chiến công oanh liệt nhất.” Khi làm chủ được chính mình thì làm chủ được tất cả các pháp.
Thiên Nhân Sư : Phật xứng đáng làm thầy của trời và người.
Phật: Phật là giác giả tức là giác ngộ hoàn toàn (tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn).
Thế Tôn: Có nghĩa là do nhân thế tôn xưng ngài với 10 danh hiệu trên, không phải do chính ngài tự tôn xưng.
Chúng ta về chùa để cảm nhận cái tình cảm thân thiết của con người, cái tình thương bình đẳng của đức Phật đến với tất cả muôn loài.
Chùa là bóng mát quê hương
Là nơi chan chứa tình thương đậm đà
hay là
Mỗi người, mỗi nước, mỗi non
Bước vào cửa đạo như con một nhà
Không phải chỉ riêng ngày Phật Đản mà là bất cứ ngày nào trong đời, chúng ta nên mang Phật chất vào đời bằng cách sống vị tha, nhân ngã và phải biết rằng thế giới này chỉ là tạm bợ mà thôi. Do đó chúng ta phải trồng hạt giống tốt để dù cho có đi đến thế giới nào đi nữa hoặc trở lại cõi này, cuộc sống của chúng ta cũng vẫn luôn cao thượng và tốt đẹp hơn. Nói một cách khác, chúng ta phải làm sao để lúc nào cũng thấy Phật, thấy pháp, nghe Kinh thì như vậy là chúng ta đem đạo Phật vào đời.
Đức Phật nhập Niết Bàn 2546 năm và Phật đản sinh 2626 năm nhưng cái hương vị ngài trao truyền cho tất cả đều bình đẳng như nhau. Nếu như chúng ta nhớ tưởng, tôn kính đến đức Phật thì chúng ta cảm nhận được cái hạnh phúc được làm đệ tử của ngài. Chúng ta hãy phát nguyện tự tìm về chính mình, tự giác ngộ, tự tìm Phật chất của chính mình, và trong những thời gian nào của riêng mình thì chúng ta hãy tự tịnh kỳ ý. Như vậy là chúng ta đã vâng lời dạy của chư Phật và đã cúng dường chư Phật. Ý nghĩa quan trọng nhất trong ngày Phật Đản là “ngày Đản Sanh (ngày rằm tháng Tư) của đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có ý nghĩa bất diệt, bất tử của nó, nhưng chính những gì Phật làm cho thế gian này sau khi ngài sanh ra làm cho ngày Đản Sanh trở nên bất diệt.”
Mừng Phật Đản trong tinh thần hòa hợp, hiểu biết, thương yêu và sống mang lại những hạnh phúc cao thượng nhất mà ánh sáng đạo Phật đã mang lại cho chúng ta.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(Mừng Lễ Phật Đản PL 2546 (TL 2002) tại Minh Quang Thiền Viện, 30-32 Chadderton Street, Canley Vale, Sydney, NSW 2166, Australia -- http://www.minhquangthienvien.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora khác trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Sau đây là phần 2, tiếp theo phần 1 (kỳ trước) bàn về các ý niệm và định nghĩa của diaspora. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài.
Ngày 2 tháng 8 năm 2022, các cử tri ở Kansas đã chọn chống lại việc lật ngược quyền phá thai theo hiến pháp của tiểu bang. Vài ngày sau, các nhà lập pháp Indiana đã quyết định cấm gần như tất cả các trường hợp phá thai. Cả hai đều là các bang theo xu hướng bảo thủ, và đều ủng hộ nỗ lực tái đắc cử của cựu Tổng thống Donald Trump với tỷ suất gần giống nhau vào năm 2020: 56.1% - 41.5% ở Kansas và 57% - 41% ở Indiana. Vậy điều gì giải thích cho các kết quả khác nhau? Câu trả lời là ở Kansas, cử tri trực tiếp quyết định kết quả. Ở Indiana, thì các nhà lập pháp là người ra quyết định. Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đối với các vấn đề gây tranh cãi như phá thai, cũng như trong các vấn đề nổi bật khác, các cơ quan lập pháp tiểu bang không phải lúc nào cũng đại diện cho mong muốn của công chúng, người dân trong tiểu bang của họ.
Làm cách nào để tôi được xóa khoản nợ sinh viên? Ai đủ điều kiện để được tha khoản nợ sinh viên? Liệu các khoản nợ tư nhân có được xóa? Các khoản nợ của sinh viên đã tốt nghiệp có đủ điều kiện để được tha nợ không? Các khoản vay của Parent Plus có đủ điều kiện không? Sinh viên còn đang đi học có đủ điều kiện được tha nợ không? Các khoản vay FFEL có đủ điều kiện không? Chương trình có giới hạn những gì người vay đang còn đi học phải trả không? Tôi có thể vay nợ liền bây giờ và được hưởng theo chính sách mới không? Chính phủ sẽ xác định thu nhập của tôi như thế nào để đủ điều kiện được tha nợ? Tôi nợ hơn 10,000 đô la. Khi nào thì tôi bắt đầu phải thanh toán trở lại? Tôi có phải trả thuế cho khoản nợ sinh viên đã được tha không? Điều này có làm cho lạm phát tồi tệ hơn? Chi phí xóa nợ cho sinh viên là bao nhiêu? Liệu điều này có mang lại lợi ích cho những người Mỹ giàu có không?
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.