Hôm nay,  

Du Kích Tại Thủ Đô

23/11/200500:00:00(Xem: 7566)
-Cuộc tranh luận về Iraq đã lên đến cực điểm khôi hài, tiêu biểu cho chính trị tại thủ đô Mỹ.

Cả hai người đều là cựu chiến binh đáng kính trọng tại Việt Nam. Một người là Dân biểu John Murtha bên đảng Dân chủ, người kia là Nghị sĩ John McCain bên đảng Cộng hòa.

Tuần qua, khi Dân biểu Murtha đề nghị lập tức rút quân khỏi Iraq, hai nhật báo lớn tại miền Đông là The New York Times và Wahington Post đã tường thuật trên trang nhất. Khi Nghị sĩ McCain đề nghị tăng thêm 10.000 quân vào Iraq, bài diễn văn quan trọng của ông tại American Enterprise Institute vào ngày 10 tháng 11 được tờ Times cho vào trang 21. Tờ Post khá hơn, đưa lên trang 16.

Thí dụ ấy cho thấy là ta không nên ngạc nhiên vì sao dân Mỹ không hiểu rõ về tình hình Iraq và có cái nhìn thiên lệch về những gì phải làm tại đây. Đấy là chuyện của truyền thông và khiến chúng ta nên thận trọng khi luận với nhau, rằng "báo Mỹ nó nói như vậy!" Báo Mỹ còn nói nhiều điều tệ hơn vậy về Việt Nam thời xưa, nhưng người Việt ta được cái chóng quên. Hoặc cả tin.

Biết như vậy rồi, mình hãy tự hỏi một cách khách quan là trong hoàn cảnh hiện nay, Hoa Kỳ nên làm gì hoặc chính quyền Bush có thể làm gì tại Iraq"

Từ vụ Việt Nam, và trước đó nữa, đảng Dân chủ luôn luôn mang mặc cảm là "không đáng tin về an ninh hay quốc phòng". Họ đùng đùng đổ quân vào Việt Nam, lật đổ một chính thể hiện hữu để giành tay lái điều khiển cuộc chiến, khi thất bại thì xoay ngược lập trường và tìm cách rút chạy. Mặc cảm ấy khiến đa số đại diện đã có chủ trương cứng rắn với Iraq, trước và sau vụ khủng bố 9-11. Đến khi công chuyện hết vui tại Iraq, họ bắt đầu xoay chiều. Trận chiến Iraq ra sao, dân Mỹ ít biết tường tận, nhưng trận du kích chính trị đang diễn ra tại thủ đô Mỹ thì được truyền thông tường thuật kỹ càng, với rất nhiều thiên lệch.

Tổng thống Bush đang có tỷ lệ ủng hộ thấp là đà ngang mặt nước. Ông chưa chìm và chuyện Iraq chưa ngã ngũ, nhưng trong thế yếu hiện nay, ông khó tìm ra giải pháp thỏa đáng cho hồ sơ gai góc này. Làm sao dư luận chúng ta nhìn ra sự thể và suy xét xem chủ trương lập trường nào là đúng"

Bên đảng Dân chủ, những nhân vật ồn ào nhất đều liên tục kết án ông Bush là gian dối về chuyện võ khí tàn sát WMD, hoặc cố tình lường gạt Quốc hội bằng những thông tin tình báo có chọn lọc nhằm thuyết phục Quốc hội cho phép ông tấn công Iraq. Thêm một lần nữa, đảng Dân chủ lại chứng tỏ sự bất khả tín của mình. Những thông tin tình báo ấy đã từng được Tổng thống Bill Clinton viện dẫn từ năm 1998 để tung chiến dịch Desert Fox sau khi Quốc hội thông qua đạo luật mang tên là "Giải phóng Iraq" (Iraq Liberation Act). Chính quyền Bush không xào nấu hồ sơ về võ khí tàn sát, sự xào nấu nếu có tất phải có từ thời chính quyền Clinton. Đảng Dân chủ biết rất rõ điều ấy nhưng mong là dư luận đã quên. Mà dư luận có lẽ đã quên thật!

Bên đảng Cộng hòa, chính quyền Bush cũng không khá hơn. Ông không giải thích mọi chuyện cho tường tận từ đầu, mãi tới khi đụng đáy mới bắt đầu phản công. Các đại diện bên đảng này cũng rất kém về thông tin và tuyên truyền khi một nữ Dân biểu đả kích John Murtha là hèn nhát bỏ chạy. Ông Murtha có thể sai lầm trong lý luận vì có chủ trương khác với chính quyền chứ không là người hèn nhát. Tuy nhiên, dù được truyền thông giới thiệu như một nhân vật diều hâu trong Hạ viện, thực ra Murtha có quan điểm khá ôn hòa và thực tế là chủ hòa.

Khi mà cả hai bên đều tung ra những ngón võ kỳ cục ấy, sự thật đã biến khỏi mặt báo, còn lại chỉ là nhiễu âm ồn ào.

Chính trường Hoa Kỳ không là một gương mẫu về sự trong sáng lành mạnh và các cuộc tranh luận về an ninh đều phơi bày một sự thật khó tin: lãnh đạo mơ hồ và mê sảng về chuyện quốc tế, có những lý luận khôi hài khiến thế giới và kẻ thù coi thường nước Mỹ.

Bây giờ, không nói về chuyện quá khứ nữa, về cái lẽ đúng sai của việc tấn công Iraq. Hãy tìm hiểu về những gì phải làm trong tương lai.

Sau những lời đả kích gay gắt, tuần qua Phó Tổng thống Dick Cheney nêu câu hỏi là bên đảng Dân chủ có giải pháp nào hay hơn thì cứ trình bày cho quần chúng biết. Đảng Dân chủ sẽ lúng túng khi phải đề nghị hơn là chỉ tấn công Bush như một chiến lược chuẩn bị cho cuộc bầu cử năm tới. Khách quan mà nói, chúng ta nhận định sự thể ấy như thế nào"

Hoa Kỳ không chỉ yếu kém về tình báo trước khi tấn công Iraq mà còn yếu kém và cho đến nay chưa khá hơn. Đây là loại vấn đề "lưỡng đảng" vì đã có từ thời trước và sẽ còn tiếp tục gây vấn đề sau này. Đang làm Tổng thống, ông Bush phải nhận trách nhiệm ấy là của mình và phải giải quyết. Ông có nhược điểm là không chịu khó giải thích mà luôn luôn coi là mình có lý, dù thực tế tại chỗ (Iraq) và ở nhà (nước Mỹ).

Lỗi lầm đầu tiên của chính quyền Bush là không trình bày lý do tham chiến cho rõ ràng mà cứ ghim vào một chuyện là võ khí tàn sát WMD - hậu quả của những yếu kém về tình báo (xin đọc bài "Ai điều tra ai" trên cột báo này, ngày 04 tháng 11). Lỗi lầm ấy có thể tha thứ được vì ông Bush chỉ khai triển lập luận của vị tiền nhiệm trên những mù mờ của hệ thống tình báo.

Lỗi lầm sau đó của chính quyền Bush là không dự đoán được sức phản công của chế độ Saddam Hussein sau khi sụp đổ.

Chế độ ấy sụp đổ chứ không tan rã và sai lầm của giới hữu trách về quân sự lẫn tình báo của Mỹ là không lường được đòn du kích của các phần tử Baath sau khi Baghdad đổi chủ. Thời điểm xảy ra chuyện này là trung tuần tháng Tư năm 2003, ba tuần sau khi bức tượng của Saddam Hussein bị kéo xập tại thủ đô.

Lúc ấy, người ta chỉ mừng rằng quân đội của Saddam đã tan rã không kháng cự mà không tự hỏi rằng ngần ấy sư đoàn lẫn võ khí đã đi đâu" Tình báo Mỹ không biết về võ khí tàn sát đã đành, lại chẳng biết là Saddam Hussein có kế hoạch "không thành" hay chăng. Rõ ràng là có, cho nên các nhóm võ trang mới mở ngay cuộc chiến du kích từ cuối tháng Tư qua suốt tháng Năm. Tốc độ ấy cho thấy phe "phiến quân" không tự phát nổi lên chống Mỹ mà có kế hoạch bài bản từ trước. Hoa Kỳ đã rục rịch tấn công Iraq từ cả năm trước, trong suốt năm 2002, cho nên nếu chế độ Saddam Hussein có chuẩn bị đối phó bằng cách không trực diện kháng cự mà tản vào trong dân và dùng đòn du kích thì cũng là điều có thể hiểu được.

Giới lãnh đạo chính trị và quân sự Mỹ lại không hiểu, dư luận Mỹ cũng vậy, mà cứ cho rằng trên sự sụp đổ của chế độ Saddam, họ sẽ xây dựng lại nền móng của một quốc gia hay một chính thể mới, như đã từng làm và thành công tại Đức hay tại Nhật sau Thế chiến II.

Nghĩa là sau chiến thắng quân sự thần tốc, từ 21 tháng Ba đến mùng chín tháng Tư năm 2003, Hoa Kỳ bắt đầu gặp vấn đề tại Iraq. Đây là một sai lầm về nhận thức về bản chất của bài toán.

Lãnh đạo cuộc chiến vào lúc ấy lại phạm sai lầm chính trị nặng nề nhất là giải tán bộ máy quân sự, cảnh sát lẫn hành chánh của chế độ cũ.

Dưới ách độc tài của Saddam, thành phần có chuyên môn hay kỹ thuật đều phải làm công chức. Khi họ tan hàng thì cả một xã hội bị hỗn loạn không có ai coi sóc việc quản lý hay điều hành những phương tiện công cộng tối thiểu.

Sau đó Hoa Kỳ tốn kém rất nhiều để thuê các công ty dân sự nhảy vào điều khiển việc ấy, trong khi lính tráng, cảnh sát và công chức đói rách của xứ Iraq chỉ còn cách đứng ngoài, hoặc bước vào yểm trợ lực lượng du kích đánh tỉa đội quân họ coi là chiếm đóng. Kết cuộc thì các đơn vị cơ động của Mỹ phải canh chợ, Vệ binh Quốc gia Mỹ đi làm công tác xã hội và dân Shia đứng ngoài giám trận. Các nước ganh ghét Hoa Kỳ thì được dịp vỗ tay.

Tình báo mù lòa và chính trị hồ đồ đã gây vấn đề cho chính quyền Bush ngay từ giữa năm 2003, chứ không phải bây giờ. Hãy nhớ lại việc bổ nhiệm người điều khiển cuộc chiến thì rõ, sau tướng Gardner là đại sứ Brehmer rồi đại sứ Negroponte; sau tướng Tommy Franks chỉ huy Centcom là tướng John Abizaid… Suốt thời gian ấy, quân du kích đã gây được ấn tượng sai lầm, được truyền thông Mỹ loan tải tiếp, là dân Iraq nổi lên chống Mỹ.

Thực ra chỉ có thành phần Sunni tham dự việc ấy thôi; bên phía Shia, chỉ có giáo sĩ al-Sadr là dùng lực lượng võ trang để mặc cả với Mỹ và lấn lướt ảnh hưởng của giáo chủ al-Sistani, trong khi dân Kurd thì sát cánh với các đơn vị Hoa Kỳ ngay từ đầu để giành thế thượng phong trong tương lai của Iraq.

Nói tóm lại, ông Bush không nhận lỗi, ban tham mưu về quân sự, ngoại giao và tình báo của ông cũng vậy, trong khi tình hình không tốt đẹp như người ta đã tưởng vào tháng Tư năm 2003.

Tuy nhiên, nhìn lại sự thể từ thời ấy, phải công nhận là chính quyền Bush đã phần nào chặn được đà suy sụp và đảo ngược nổi tình hình khi huy động các sắc dân Shia và Kurd vào giải pháp chính trị, khi các đơn vị Iraq được tập hợp và huấn luyện lại để đảm nhiệm việc bảo vệ an ninh. Về mặt chiến thuật, các đơn vị Mỹ đã "rút mà không ra", họ được tái phối trí để truy lùng các ổ kháng cự và tiêu diệt cơ sở đặc công và khủng bố.

Ít được chú ý nhất là việc Hoa Kỳ vừa đánh vừa đàm với kẻ thù là phe Sunni để họ buông súng bước vào nghị trường. Các trận đánh Al Fallujah hồi năm ngoái, đánh cứ như đùa, chính là để đạt kết quả ấy. Nhiều lãnh tụ Sunni cuối cùng đồng ý với giải pháp đấu tranh chính trị hơn là yểm trợ phiến quân. Trong khi ấy, các nhóm khủng bố "Thánh chiến" và al-Qaeda bị càn quét mạnh và mất dần hậu thuẫn của quần chúng Sunni. Việc Abu Musab al-Zarqawi mở tầm hoạt động qua Jordan và bị chính hậu phương cùng gia đình mình chối bỏ, tố cáo, là một biến cố đáng chú ý mà không được truyền thông trình bày cho rõ ràng.

Cuối cùng thì dân Iraq cũng đã đi bầu, xứ Iraq sẽ có hiến pháp và chính quyền mới. Gần đây nhất, chính quyền lâm thời do Hoa Kỳ yểm trợ tại Baghdad đã hợp tác với một đối thủ của Mỹ là Iran để cùng diệt trừ mạng lưới khủng bố của al-Qaeda. Hy vọng đã bắt đầu le lói tại Iraq trong khi Hoa Kỳ phải nói chuyện phải quấy với những thành phần mà đa số dân Mỹ cho là kẻ thù của Mỹ!

Nhưng, trong hai năm hàn gắn lại cái bình vỡ phần nào do chính mình đập nát, chính quyền Bush đã gây ra ấn tượng là đang bị sa lầy. Vào đúng lúc xứ này có hy vọng hồi phục thì dư luận Mỹ nản chí.

Ông Bush phạm thêm hàng loạt lỗi lầm sau khi tái đắc cử. Ông ồn ào thông báo kế hoạch cải tổ hệ thống An sinh Xã hội mà không cho bộ Ngân khố hay ban tham mưu kinh tế nghiên cứu gì thêm, để cuối cùng buông rơi hồ sơ này vào quên lãng. Ông chậm lụt trong vụ thiên tai Katrina, chủ quan trong việc bổ nhiệm bà Harriet Miers. Quan trọng nhất, ông không giải thích rõ và trình bày quá trễ lý do tham chiến lẫn những tiến triển tại Iraq.

Trong tất cả những nhược điểm của chính quyền, trầm trọng nhất là thông tin và tuyên truyền, khi đã biết xu hướng của truyền thông và tập quán cố hữu của đảng Dân chủ. Kết cuộc, ông Bush bị đả kích là lãnh đạo kém và đảng Dân chủ giáng thêm một tội nữa là thiếu ngay thật.

Từ nay cho đến giữa năm tới, tình hình Iraq có thể khả quan hơn, nhưng từ giờ đến đó, ông Bush bị cột tay và khó lấy những quyết định táo bạo mà cần thiết.

Những quyết định ấy là gì"

Sau khi Phát xít Nhật bị đánh bại, tướng Douglas MacArthur đã có thể viết lại hiến pháp và dựng lại cơ chế chính trị Nhật và tạo điều kiện cho sự phục hưng của một nước Nhật dân chủ. Hoa Kỳ không thể làm được điều ấy tại Iraq vì sự phân hóa giữa ba thành phần Shia, Sunni và Kurd. Hai năm vừa qua, chính quyền Bush phải vừa đánh vừa đàm để ba thành phần ấy cùng đồng ý với một giải pháp chính trị lâu dài. Nhưng, ngay trong mỗi thành phần, nhất là Shia và Sunni, chính quyền Bush cũng phải ứng xử với nhiều phe nhiều phái khác nhau, kể cả nói chuyện với tàn dư của chế độ Saddam.

Thí dụ là sau đợt tấn công Fallujah lần đầu, Mỹ đã thương thuyết với các thành phần Baath của chế độ cũ. Giải pháp thuần túy quân sự, bằng bom khôn chẳng hạn, không thể giải quyết nổi loại vấn đề chính trị, tôn giáo, kinh tế và sắc tộc này. Điều ấy, dư luận Mỹ không biết vì chính quyền không giải thích và chỉ phê phán trên mặt nổi là Mỹ đang bị sa lầy.

Trong tương lai, chính quyền Bush sẽ còn phải tiếp tục tiến hành việc thương thảo ấy với kẻ thù cũ để phe Sunni thành tâm tham gia sinh hoạt chính trị. Với đảng Dân chủ đang nhắm mắt tấn công bất kể trái phải và với ông Bush đang thất thế ở nhà, Hoa Kỳ có thể nào giữ thế mạnh trong việc thương thảo ấy chăng"

Biết là Mỹ yếu thế ở nhà, các phe phiến loạn chẳng dễ gì nhượng bộ, đâm ra Hoa Kỳ tự gây khó cho mình khi cho đối phương thấy sự rạn nứt trong nội bộ. Hậu quả là lính Mỹ thêm vất vả ngoài chiến tuyến. Mà đối phương không chỉ là các phe hay phái trong khối Sunni. Đối phương còn là các xu hướng Hồi giáo trong khu vực, kể cả Iran hay thành phần chống Mỹ trong chính quyền Syria.

Hoa Kỳ là đệ nhất siêu cường nhưng không là một quốc gia vô địch.

Lẽ công bằng của mọi sự là tính năng động đa nguyên có làm xã hội này sung mãn phú cường thì cũng khiến nước Mỹ không thống nhất được ý chí về bất cứ một chuyện gì trong lâu dài.

Đảng Dân chủ không tìm ra một giải pháp tất thắng cho xứ sở, nhưng trách nhiệm của chính quyền Cộng hòa là đã dẫn Hoa Kỳ vào một vùng đất mới, một bài toán nan giải mà không thấy trước. Và sau đó không giải thích được cho quần chúng hiểu rõ và ủng hộ. Ông Bush càng yếu thế ở nhà, càng kiệt sức về những đợt du kích chính trị ở thủ đô, thì đối phương càng có thế mạnh tại Iraq. Và hy vọng le lói từ nửa năm nay có khi sẽ tiêu tán trong nửa năm tới.

Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
Giữa những hình ảnh cánh đồng hoa anh túc và những chiến hào sũng nước trong ký ức chung về Thế Chiến I, ít ai để ý đến sự hiện diện của các trại tù binh chiến tranh ở vùng đảo British Isles. Nhưng trong suốt cuộc chiến, Anh đã giam giữ gần 116,000 người trong các trại tù binh trên khắp đất nước, từ Cung điện Alexandra ở London đến một trang trại cũ trên Đảo Isle of Man. Trong số đó có một võ sĩ đấm bốc và nghệ sĩ biểu diễn xiếc người Đức tên là Joseph Pilates.
Cựu Trung tướng Phạm Quốc Thuần đã qua đời vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Sáu 18-8-2023 tại Fountain Valley, California, hưởng thọ 98 tuổi. Ông sinh ngày 31-8-1926 tại Hà Đông. Trung tướng Phạm Quốc Thuần giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Bộ Binh (Thủ Đức) ngày 20-8-1969...
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
✱ Đs Anh/Đs Lodge: Đề xuất của Hồ Chí Minh về một hiệp định đình chiến - Nhu đã đáp lại rằng đề xuất này "không thực tế" nhưng có thể trở thành thực tế trong ba hoặc bốn tháng tới và đang được nghiên cứu. ✱ Báo Espresso, Italia: Ông Nhu sẵn lòng từ bỏ viện trợ Mỹ nếu đó là cái giá phải trả để loại bỏ sự hiện diện của người Mỹ - Nhu cho biết Việt Nam có thể tồn tại mà không cần người Mỹ - Ông Nhu phản ứng phẫn nộ khi người Mỹ muốn ông rời khỏi đất nước. ✱ Nhà báo M.West,Úc: Ông Nhu nói rằng ông muốn tất cả, lặp lại, tất cả các cố vấn Mỹ đều phải rời đi - Không có người Mỹ, chúng ta có thể thắng chiến tranh trong hai hoặc ba năm - Hiện nay trong ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, không có đạo đức. ✱ Đại sứ Lodge: Chúng ta nên xem xét việc rút quân là một khả năng ngày càng gia tăng. Sự bắt đầu của việc rút quân có thể gây ra một cuộc đảo chính...
Một nhóm khoa học giả quốc tế đã thấy bằng chứng lâu đời nhất về cà ri bên ngoài Ấn Độ và cho thấy ý nghĩa lịch sử của hành trình mà các thành phần gia vị này đã trải qua để đến đó. Các nhà nghiên cứu từ Úc, Việt Nam và Trung Quốc đã tìm thấy món ăn này – được biết đến với hương vị cay nồng của đất, có nguồn gốc từ Nam Á và hiện đã phổ biến trên toàn cầu – có lẽ đã được đưa đến bàn ăn của người Việt Nam hơn 1800 năm trước nhờ mạng lưới thương mại hàng hải.
Ở Hoa Kỳ, khi ai đó qua đời, thường thì họ sẽ được ướp xác, đặt trong quan tài và chôn cất tại nghĩa trang (thổ táng), hoặc mang đi hỏa táng, phần tro cốt sẽ được trả lại cho gia đình, người thân. Tuy nhiên, thổ táng và hỏa táng nay đã không phải là các lựa chọn duy nhất. Ngày càng có nhiều nhà tang lễ, cả các công ty khởi nghiệp và tổ chức vô vụ lợi, cung cấp cho mọi người những nghi thức khác nhau dành cho người đã khuất. Trong tương lai, bối cảnh nghi thức tang lễ sẽ đa dạng hơn…
Đã mấy năm nay, một nhóm tên "Sinh viên tranh đấu cho được nhập học công bằng" (Students for Fair Admissions) kiện Đại Học Harvard về tình trạng mà họ cho là bất công lúc xét các ứng viên Á châu nộp đơn vào trường đại học ưu tú này của Mỹ. Nhóm này cho rằng Harvard thực hành “affirmative action” (hành động khẳng định) và "racial balancing" (quân bình chủng tộc) trong quá trình quyết định ai được nhận ai bị từ chối. Nếu không, theo họ, nếu chỉ căn cứ trên thành tích học tập (academics) tỷ lệ sinh viên Á châu được nhận sẽ là 43% tổng số, hay ít lắm 26% nếu xét thêm về hoạt động ngoại khóa, thể thao hay gia đình quen biết với trường ("legacy"); chứ không thấp như mức 18.7% như hiện nay.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.