Hôm nay,  

Thư Gửi Bạn Ta

22/01/200500:00:00(Xem: 7287)
[Gửi bác sĩ BVN. NQT]

"Nhà văn nào nổi bật nhờ sự khác biệt của chế độ chính trị thì thường không bền...".
Nguyễn Mộng Giác
[trích bài viết Tản mạn, của Nguyễn Khắc Phê, trên talawas]

Bền, chịu được sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, theo một nghĩa nào đó, có nghĩa là trở thành cổ điển.
Nhưng thế nào là đương thời, thế nào là cổ điển"-Là một nhà văn đương thời, có nghĩa là, sẽ có hai nhà phê bình, nếu ngồi cùng bàn, một khen hết lời, một chê chẳng kém, cuốn sách bạn vừa mới xuất bản, trong khi cả hai đều mê Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay gần hơn, tuỳ bút Nguyễn Tuân.
Tôi không dám nghĩ tới trường hợp, cả hai ông đều chửi um lên!]
Cổ điển, có nghĩa là sống sót được cả hai thằng cha phê bình đó!
Ý trên, mô phỏng Virginia Woolf, trong How it strikes a contemporary. Riêng về cụm từ "chê chẳng kém", bà nữ sĩ Anh này cay độc hơn nhiều: cái thứ đó chỉ đáng giấy chùi đít (waste paper), và nếu lửa đốt không cháy, thì phải dí vào tận đáy lò.

Ý dưới, từ Coetzee, trong What is a Classic"

Nhà văn Nam Phi này nhắc tới một bài diễn thuyết cùng tên, của T.S. Elliot, vào tháng Mười 1944, tại London, khi Đồng Minh đang quần nhau với Nazi tại đất liền (Âu Châu). Về cuộc chiến, ông chỉ nhắc tới, bằng cách xin lỗi thính giả, rằng chỉ là tai nạn của hiện tại (accidents of the present time), một cái hắt hơi, xỉ mũi, đối với cuộc sống của Âu Châu, và nó làm ông không thể sửa soạn chu đáo cho bài nói chuyện.

"Nhà là nơi một người bắt đầu" [Home is where one starts from], "Trong cái bắt đầu là cái chấm dứt của tôi" [In my beginning is my end], nhà thơ [Eliot] cho rằng, để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta phải trở lại với nhà thơ lớn lao nhất, "cổ điển của chính thời đại của chúng ta" (the great poet of the classic of our own times), tức nhà thơ Ba Lan, Zbigniew Herbert.
Với Herbert, đối nghịch Cổ Điển không phải Lãng Mạn, mà là Man Rợ. Với nhà thơ Ba Lan, viết từ mảnh đất văn hóa Tây Phương không ngừng quần thảo với những láng giềng man rợ, không phải cứ có được một vài tính cách quí báu nào đó, là làm cho cổ điển sống sót man rợ.
Nhưng đúng hơn là như thế này: Cái sống sót những xấu xa tồi tệ nhất của chủ nghĩa man rợ, và cứ thế sống sót, đời này qua đời khác, bởi những con người nhất quyết không chịu buông xuôi, nhất quyết bám chặt lấy, với bất cứ mọi tổn thất, (at all costs), cái mà con người quyết giữ đó, được gọi là Cổ Điển.

Như vậy, với chúng ta, cuộc chiến vừa qua, cũng chỉ là một cái hắt hơi của lịch sử. Không phải viết từ những đối nghịch chính trị, như một hậu quả của cuộc chiến đó, mà trở nên bền. Muốn bền, là phải lần tìm cho được, cái gọi là nhà, liệu có đúng như Eliot nói đó không: Nhà là nơi một người bắt đầu.
Hay nhà là nơi cứ thế sống sót những xấu xa của chủ nghĩa Man Rợ, đời này qua đời khác, bởi những con người nhất quyết không chịu buông xuôi, nhất quyết bám chặt lấy, với bất cứ mọi tổn thất...
Câu trên, Nhà là nơi một người bắt đầu, có vẻ như áp dụng cho một nhà văn Việt nam ở hải ngoại.
Câu dưới, có vẻ như dành cho nhà văn trong nước.

Xa quê, nhớ nhà.


Christine Brooke-Rose, trong bài viết Exsul, được in trong cuốn Lưu Vong và Sáng Tạo [Exile and Creativity, nhà xb Duke University, 1998], kể về thời thơ ấu của bà, tại Brussels. Được nuôi dưỡng trong khí hậu nhị-ngôn, Pháp-Anh, bà cứ nghĩ, exile là ex-ile, nghĩa là do chữ “đảo”, ile, tiếng Pháp, mà ra. Bà chắc chắn như vậy, không phải vì Quần Đảo Anh, là chốn bà con họ hàng nơi thường xuyên lui tới của bà, nhưng còn vì, đối với một đứa trẻ, những hòn đảo thật diệu kỳ: nào là Đảo Kho Tàng, Đảo Lỗ-bình-sơn, miền đất không bao giờ-không bao giờ của Peter Pan (Peter Pan’s never-never land)... Lưu vong như thế có nghĩa là một ốc đảo cô đơn, một nơi chốn mà đứa trẻ, với cuốn sách, tập làm quen với nỗi cô đơn, thèm được ở mãi trong đó, và sẽ hết sức bực dọc nếu bị đuổi ra...
Nhưng không phải vậy.
Exile (La-tinh exilium, trước đó exsilium; exul, exsul, một người bị bỏ, bị biếm), từ lâu vốn được coi như liên hệ với solum, đất (soil), nhưng bây giờ (coi tự điển La-tinh, E.A. Andrews biên soạn, nhà xb Harper, 1987), gốc rễ của nó là sal, tiếng Sankrit sar (đi, to go), L. saline/saltare; và L. exsilio có nghĩa là ‘nhẩy lên’ (spring from). Nhưng sau đó, trong tiếng Pháp Cổ, exilier hay essilier có nghĩa là ‘to ravage’, ‘to devastate’, dây mơ rễ má của nó còn nhận thấy qua từ exterminate, nghĩa đen là ‘vượt quá biên cương, bờ luỹ’.
Thành thử ngoài nỗi đau khổ vì bị biếm, còn chuyện lao tới một cuộc đời mới, vượt ra khỏi những lũy tre làng thân quen (vượt ra khỏi những biên cương của một cái đảo tự mình tạo ra cho chính mình). Thí dụ như, “Ý đại lợi, thiên đàng của lưu đầy”, Shelly viết, năm 1818.
Đây là nghĩa “đẹp” của nó.
Còn nghĩa ‘đau thương’ thê thảm của nó, thì có, thí dụ như, lời nói chót của Đức Giáo Hoàng Gregory VII: “Tôi yêu sự chính trực, điều phải, thù ghét sự bất công, cho nên tôi phải chết trong lưu đầy.”
Vẫn theo tác giả, ngày nay, không một nhà văn nào thực sự xứng đáng là một lưu đầy xứ người, so với những chính trị gia. Nhưng bởi vì là nhà văn, nên họ thường đưa ra được nhiều vấn nạn hơn là những khuôn mặt chính trị. Và được kể là những khuôn mặt chính trị, theo tác giả, có những thường nhân, thí dụ như một người nướng bánh, một ông thợ mộc...

Như đoạn viết trên cho thấy, ngày nay, nhà văn thua nhà chính trị, nếu nói về lưu vong. Những nhà văn đi về cùng một nghĩa như nhau, lại càng thua những nhà chính trị, nhất là những ông, sau khi cho in sách một cách rất ư là tự do, bèn đưa sách về nhà để xin được kiểm duyệt.
Thành thử, nhà văn thua thường dân xa, bởi vì thường dân, vẫn còn coi họ là lưu vong, hơn cả nhà văn, như trong bài viết trên cho thấy.

Tôi đã hân hạnh được quen một ông, một vị bác sĩ. Ông già của ông, ở Việt Nam, nằm hấp hối ở bệnh viện. Ông về, suốt thời gian, ở bên giường bệnh của ông cụ, ở bệnh viện, sau đó, ở bên quan tài của ông cụ, khi ông cụ mất. Đưa ông cụ về với đất, là ông đi trở ra ngoài này liền. Ông nói, tôi muốn làm khác đi, cũng không được.
Theo tôi, ông bạn của tôi được hưởng cả hai cái sướng, của cả hai câu ở trên, một, “Ý đại lợi, thiên đàng của lưu đầy”, của Shelly viết, năm 1818, và một, “Tôi yêu sự chính trực, điều phải, thù ghét sự bất công, cho nên tôi phải chết trong lưu đầy”, của Đức Giáo Hoàng Gregory VII.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buôn bán phụ nữ là một tội ác quốc tế, tội ác nghiêm trọng nhất trong tệ nạn buôn người trên thế giới. Dù nhiều tổ chức nhân quyển quốc tế đã lên tiếng tố cáo tệ nạn này từ nhiều thập niên qua nhưng chỉ gần đây cộng đổng quốc tế mới quan tâm đến (1). Ngày 31 tháng 1 năm 2001, Đại Hội Đồng LHQ thông qua một nghị quyết
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, ngày 9-12-1998 Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã biểu quyết thông qua Bản Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, gọi tắt là Tuyên Ngôn Phụ Đính. Mục đích để đề xướng
...Dù có quy chế mậu dịch bình thường và là hội viên của WTO, Việt Nam có thể vẫn gặp khó khăn về mậu dịch từ phía Quốc hội Hoa Kỳ, với nhiều luật lệ khác được Quốc hội ban hành.   Suốt tuần qua, dư luận tại Việt Nam hồi hộp chờ đợi kết quả đàm phán Mỹ-Việt tại thủ đô Hoa Kỳ về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
LGT: Nguyệt san “Current History” –quy tụ những cây viết gồm những học giả, nhà nghiên cứu, giáo sư Đại học Hoa Kỳ- trong số tháng 05/2006 đã ra một chủ đề về sự chuyển mình của Á Châu, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến sự trổi dậy của Trung Quốc. Chúng tôi chọn lựa chuyển
Lời giới thiệu: Để tìm hiểu về thảm trạng phụ nữ làm dâu tại Đài Loan, nữ văn sĩ Ngọc Thủy, chủ bút tạp chí Suối Văn và cũng là người phụ trách chương trình phát thanh Tiếng Việt Mến Yêu, đã đích thân đi đến Đài Loan để tiếp xúc với những nạn nhân đáng thương này, cũng như trực tiếp
(LTS: Vy Thanh là bút hiệu của Cựu Tổng Thơ ký Đại Học Cần Thơ, vượt biên qua Mỹ tiếp tục làm việc lại cho Đại học Michigan Mỹ.   Ong là người thời học sinh từng "nóp với giáo" vào bưng biền kháng chiến chống Pháp. Nhưng thức tỉnh sớm trước sự xâm nhập thống trị của CS Hà Nội
Cách đây một năm đúng vào ngày này, tôi đang ngồi làm việc thì máy LapTop tuýt một cái, báo hiệu cho biết là nhận được email mới. Vào lúc không có gì quan trọng nên tôi liền mở ra xem và bàng hoàng khi người quen gởi điện thư cho biết Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nhật Trường vừa qua đời. Trưa hôm đó, trong giờ nghỉ tôi đã vào
Tôi đã có ý định viết bài này ngay từ khi còn bị tù ở trong trại giam Nam Hà từ những năm 2003-2005. Ý nghĩ đó nung nấu trong tôi suốt mấy năm trời, vì lương tri mách bảo, thúc giục tôi phải lên tiếng về một trường hợp đặc biệt đó là tình cảnh của anh Trương Văn Sương
Ta mất người như người đã mất tên, ba mươi mốt năm thủ đô thân yêu chúng ta phải chịu mang tên một người, mà trớ trêu thay, chính ông ta đã đem lại bần cùng nghèo đói, đau thương và tang tóc cho nhân dân miền Nam . Còn gì đau khổ cho bằng tai phải nghe, miệng phải nhắc đến tên
Đêm Tình Thương do Phân Hội Chuyên Gia Toronto tổ chức tại Sky Dragon Restaurant vào tối Thứ Bảy 13-5-2006, buổi tối trước Ngày Lễ Mẹ (14-5) năm nay.   Đây là một điều thật ý nghĩa, vì Đêm Tình Thương nhắm mục đích gây quỹ giúp công nhân và cô dâu Việt Nam đang bị ngược đãi tại Đài Loan, những bà mẹ bất hạnh  
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.