Hôm nay,  

Hai Lần Phép Lạ

21/01/200600:00:00(Xem: 6597)
- Tháng 1-2006, Jan 19, 2006

(Bài viết theo lời kể của bà Nguyễn Thị Yến, thuyền nhân từ Phi đến định cư tại San Jose. Khách mời của đêm tân niên hội ngộ mùng 1 Tết Bính Tuất do Radio Dân Sinh và IRCC tổ chức.)

Vâng, tôi xin kể hầu quý vị về cuộc đời làm mẹ của tôi với hai lần phép lạ. Tôi có hai đứa con mà chẳng bao giờ được gần nhau.

16 năm trước, ghe tỵ nạn của tôi ra đi từ Năm Căn ở Cà Mau. Trước khi cơn bão đến, cả tàu 156 người toàn đàn bà, trẻ con tưởng chết ở biển khơi thì được tàu Mỹ của hạm đội 7 vớt.

Đó là phép lạ đến với cuộc đời tôi lần thứ nhất trên biển đông.

Phép lạ lần thứ hai hiện ra ngay tại văn phòng của thủ đô Phi Luật Tân ở Manila vào ngày 27 tháng 8-2005.

Cuộc đời của tôi đã có dịp kể rõ trong buổi phỏng vấn với phái đoàn Mỹ như sau:

Hôm đó tôi gặp ông Mỹ trắng hơn 50 tuổi, nói tiếng Việt rất rõ ràng. Tuy có thông dịch viên, nhưng tôi được nói chuyện thẳng với ông và ông hiểu rõ câu chuyện đời tôi. Vừa nói vừa khóc, tôi kể đời tỵ nạn cho ông Mỹ là tại sao tôi là người mẹ có chồng, có con mà 16 năm qua lại ở Palawan một mình. Tôi nói với ông Mỹ như thế này.

Thưa ông, xin ông thương cháu. Bố mẹ gốc miền Bắc, Thiên Chúa giáo, di cư vào Nam 1954, sinh ra cháu có đi học ở Sài Gòn. Trước năm 1975 đã đi học ở trường Đắc Lộ và đỗ tú tài. Cháu thi tuyển vào làm nhân viên dân chính ở Cục Công Binh ở đường Trần Quốc Toản được một năm thì “giải phóng” vào.

Vâng, vì là nhân viên của chính quyền ngụy nên cũng phải đi học tập mấy tuần và phải tham gia công tác thủy lợi. Gia đình di cư, anh cháu lại là trung sĩ nhảy dù nên cuộc sống không có tương lai trong chế độ mới.

Sau cháu lập gia đình rồi đi bán chợ. Khi được hai con, con gái 6 tuổi, con trai 2 tuổi thì cả nhà tìm đường vượt biên. Đã đi nhiều lần không thoát, nhưng lần cuối ngày 10 tháng 6-1989 coi như thành công. Nhưng khổ thay, từ hai ghe nhỏ chở ra ghe vượt biên, gia đình cháu chia đôi. Người tổ chức cho đàn bà đi trước. Cháu xách theo hai giỏ quần áo cho cả nhà. Chồng thì ôm hai đứa con đi với đàn ông ở chuyến sau.

Đàn bà và một số trẻ em lên ghe được tất cả 156 người. Các ghe sau của đàn ông bị bắt lại. Ghe vượt biên thành công ra biển mà chỉ toàn đàn bà, trẻ con với biết bao nhiêu là tiếng khóc. Nhà nào cũng có chồng con kẹt lại. Đã thế còn chưa xong. Đi được ba ngày thì tàu hỏng máy. Tài công bỏ neo cố sửa chữa. Suốt 5 ngày ai nấy đều lo sợ, đạo nào cầu theo đạo ấy.

Sau cùng tàu lại chạy được nhưng chỉ đi tới chứ không đi lui, nên cũng chẳng biết hướng nào mà chạy.

Tiếp theo là cơn bão đen trời kéo đến. Tất cả coi sắp chết hết. Cả tàu lại cầu kinh. Và phép lạ lần đầu tiên hiện ra. Tàu chiến Mỹ chạy đến cứu tất cả 155 người. Chỉ có 1 người chết.

Trên tàu chiến Mỹ của hạm đội 7 có mấy người lính gốc Việt đến giúp dân tỵ nạn. Thôi thì mừng rỡ biết đâu mà kể xiết. Cả tàu viết thư nhờ Mỹ gửi về Việt Nam báo tin. Sau đó Mỹ điện về báo cáo và Cao Ủy thuận, đưa về Phi Luật Tân. Nhưng lúc đó vào năm 1989, trại đã có thanh lọc. Các nước không nhận tỵ nạn dễ dàng như trước.

Thưa với ông Mỹ là cháu ở trại tỵ nạn đã 8 năm trên đảo Palawan. Ngày đêm cầu nguyện cho hai đứa con bỏ lại. Tin tức cho biết là chồng và hai con bị tù vượt biên mấy tháng rồi chạy ra được. Bố con ở với nhau một thời gian rồi cha các cháu gửi hai con nhỏ cho người bác nuôi. Chồng cháu đi kiếm việc làm ăn và được một vài năm thì có vợ khác. Hai đứa con nhỏ làm con nuôi nhưng cũng được nuôi sống qua ngày.

Suốt 8 năm đầu, khai với ông Mỹ là sống rất vất vả trong trại nên không có gì để gửi về cho con. Tưởng là nhân viên dân chính của Cục Công Binh thì cũng có điều kiện đi Mỹ nhưng bị rớt. Tưởng là tàu Mỹ vớt thì cũng có ưu tiên nhưng lại bị từ chối vì vớt sau thời hạn ấn định.

Tuy thương hai con nhỏ nhưng cũng cắn răng chịu và ngày ngày đi làm công tác tình nguyện trông nom các trẻ em không cha mẹ ở trại tỵ nạn.

Sau 8 năm dài, có lệnh trục xuất rồi lại được chính phủ Phi cho về Làng Việt Nam. Ở Làng được thời gian ngắn tôi dọn ra phố để đi bán rong. Mới ra bán hàng được một tuần thì bị cướp sạch. Lại còn bị đánh, hiện trên mặt còn vết sẹo lớn. Nhưng rồi phải gây dựng lại để đi bán rong, quần áo, giầy dép, đủ cả. Những năm sau này bắt đầu có tiền gửi về cho con.

Từ sau năm 2000, nhờ máy điện toán, mẹ con hẹn nói chuyện và coi hình của nhau. Khi nào có tiền là ra ngoài phố. Hai mẹ con còn nhờ người ta chỉ cho để nói chuyện và coi được cả hình. Lúc đầu thì chỉ khóc, rồi dần dần mẹ con trò chuyện, khuyên bảo, nâng đỡ tinh thần nhau.

Tuy nói chuyện, thấy hình ảnh nhưng thực sự không biết ngày nào có thể gặp nhau. Nói với ông Mỹ phỏng vấn là mình thương, nhớ các con biết chừng nào. Mẹ con xa nhau trong một chuyến vượt biên ghê gớm như thế. Nếu ông có đứa con gái 6 tuổi với thằng con trai 2 tuổi mà xa cách 16 năm, ông nghĩ sao"

Rồi để tôi kể tiếp cho các chị nghe. Tuy là đời sống buôn bán có chút tiền nhưng rất vất vả và hoàn toàn không có tương lai. Không lẽ mẹ con cứ xa cách mãi sao"

Đến khi có tin luật sư Trịnh Hội xin cho được đi Mỹ, chúng tôi rất mừng rỡ nhưng nghĩ đến con cái, lòng lại đau thắt ruột. Mẹ con nói chuyện với nhau và các con ước mong được đi như mẹ. Nhưng con ơi, mẹ là dân tỵ nạn 16 năm chờ đợi mới cho đi chứ các con dù mồ côi hay khổ sở nhưng lớn lên ở Sài Gòn thì làm sao mà xin đi được. Thôi đành để mẹ đi trước rồi sẽ xin đoàn tụ sau.

Tôi cũng trình bày hoàn cảnh với ông Mỹ phỏng vấn như thế. Vừa nói vừa khóc. Ông Mỹ này hiểu biết. Chợt ông gặng hỏi là thế hồ sơ của bà đi như thế là bây giờ chỉ có một mình hay sao" Bà có lấy ai ở Phi không" Không, nhà cháu suốt 16 năm vẫn có một mình và ý nghĩa của cả cuộc đời là hai đứa con. Bây giờ, đứa nhỏ đã 18 tuổi và đứa con gái lớn 22 tuổi.

Dù đã biết rằng, hai đứa con của tôi ở Sài Gòn nhưng ông vẫn hỏi: Thế hai đứa con của bà bây giờ ở đâu"

Ôi, Chúa ơi! Tôi khóc thật lớn và nói rằng, ông Mỹ ơi, hai đứa con của cháu hiện giờ nó đứng chờ ở bên ngoài kia.

Ông Mỹ rất ngạc nhiên liền cho hai cháu vào gặp. Qua bao nhiêu là nước mắt, ông Mỹ phỏng vấn cầm hồ sơ ngần ngại, lật qua, lật lại rồi nói rằng: Tôi đặc biệt làm giấy giờ cho con trai bà vì nói dưới 21 tuổi, còn độc thân. Con gái thì trên 21 tuổi, quá 3 tháng nên không nhận được.

Mẹ con tôi lại ôm nhau khóc, nhưng tôi biết rằng, đi được một đứa cũng là phép lạ rồi.

Thú thật là tôi không hề nghĩ sẽ đem cháu đi được nhưng người mẹ nào cũng có những hy vọng rất vô lý.

Vì thế trước khi đi lên Manila phỏng vấn, tôi đã cố gửi tiền về cho hai con chạy xin chiếu khán du lịch qua Phi. Phải mua vé khứ hồi $500 Mỹ kim để được phép đi tối đa 21 ngày.

Tôi bán đồ lấy tiền lên thủ đô vào ở nhà người quen chờ phỏng vấn. Lại ra phi trường đón các con từ Sài Gòn qua rồi cùng đi gặp phái đoàn. Những đứa con tôi chỉ nghe tiếng nói và thấy mặt qua hình nhưng khi gặp lại thì nó đã lớn biết chừng nào. Con gái khi tôi bỏ đi có 6 tuổi. Con trai 2 tuổi. Chia tay ở Năm Căn, Cà Mau tưởng chốc lát gặp lại, nào ngờ vĩnh biệt.

16 năm mới gặp lại. Cháu gái sắp tốt nghiệp đại học. Thằng con trai năm nay 18 tuổi, vừa thi đỗ vào đại học. 30 ngàn người mà chỉ tuyển có 300, vậy mà cháu đỗ được hai ngày thì đem túi quần áo qua Phi tưởng là gặp mẹ lần chót tiễn chân đi Mỹ. Chúng nó chờ tôi ở ngoài, xem mẹ phỏng vấn có đậu không.

Qua câu chuyện đầy nước mắt, phép lạ lần thứ hai trong đời tôi đã xảy ra. Ông Mỹ cho con trai tôi ghép hồ sơ. Mẹ độc thân ở trại 16 năm chợt có thêm đứa con 18 tuổi.

Con trai tôi cầm thông hành du lịch đi khứ hồi mà nay đổi qua diện tỵ nạn cấp kỳ. Nó xững sờ không thể ngờ được sự kêu nài vớ vẩn của mẹ thành sự thật.

Cháu đến Phi ngày 25 tháng 8-2005 ở đảo Palawan với tôi đến 28 tháng 11-2005 là vào Mỹ. Chị nó ở chơi với tôi và em đủ 21 ngày là phải trở về Sài Gòn để dự thi tốt nghiệp.

Các bác có biết không" Tôi là mẹ mà không nuôi được con. Chị em nó đùm bọc nhau suốt 16 năm. Trong chuyến đi Phi, em được ở lại với mẹ, chị phải về Sài Gòn chỉ vì khai sinh lớn hơn có 3 tháng nên quá 21 tuổi. Giữa chị em nó tình cảm lớn lao làm sao đo được. Bây giờ chúng nó lại chỉ gặp nhau trên máy điện toán.

Ngay sau khi tôi mở đường suôi lọt thì bà con còn lại điện về Sài Gòn cho các đám con dưới 21 tuổi mấy chục đứa qua Phi vào phỏng vấn đều đi được hết.

Thật cũng đáng công cha mẹ ở lỳ bên Palawan 16 năm dài để phúc cho con.

Khi tôi được tàu Mỹ vớt vào năm 1989, các anh lính Việt trên tàu Mỹ nói là có lệnh của tổng thống từ thời ông Carter. Đồng bào Việt Nam biểu tình thắp nến ở thủ đô được ông tổng thống Mỹ thương cảm mà chấp thuận cho hải quân cứu thuyền nhân. Đó là phép lạ lần thứ nhất.

Đến lần phép lạ lần thứ hai, 16 năm sau đưa được con trai của tôi vào Mỹ, không biết nhờ được thần linh nào giúp đỡ hay chỉ do ông Mỹ phỏng vấn thấy tôi khóc quá nên rủ lòng thương.

Bây giơ tôi thấy ngày tháng sao quá lâu, chỉ mong sao cho qua mau để làm hồ sơ đoàn tụ cho con gái tôi là Nguyễn Hương Nhiên được may mắn như em nó.

Còn con trai tôi là Nguyễn Đức Cảnh, mới qua nhưng đã thi được bằng lái xe. Mẹ con chỉ mong sao thuê được chỗ ở rẻ tiền vì từ lúc vào thiên đường nước Mỹ đến nay, cháu chưa được ngủ trên giường.

Tuy nhiên, tôi vẫn biết tôi là bà mẹ đau khổ nhất nhưng cũng là bà mẹ sung sướng nhất. Con trai 2 tuổi của tôi suốt 16 năm sống không có mẹ, bây giờ chợt lại sống có mẹ một bên. Nhà không có tiền mà trở thành đi du học Hoa Kỳ.

16 năm dài chờ đợi ở đất Phi, bây giờ đã trở thành tiền bạc mua hạnh phúc cho tương lai của con tôi. Phép lạ biển Đông 16 năm trước cứu được mẹ, phép lạ 16 năm sau trên đất Phi, trong phòng thanh lọc, ông Mỹ lại cứu thêm đứa con tôi.

Đó là câu chuyện của một người mẹ không nuôi được con chỉ có cầu nguyện và nước mắt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.
Ở Hy Lạp thời cổ đại, Thế vận hội Olympics không chỉ là sự kiện để các vận động viên thể hiện sức mạnh và tài năng, mà còn là dịp để những tâm hồn thi ca tỏa sáng – họ sẽ mang những vầng thơ của mình xướng lên trước đám đông khán giả đang háo hức. Và thời đó, các vận động viên cũng thường cậy nhờ những thi sĩ nổi tiếng sáng tác những bài thơ ca ngợi chiến thắng vinh quang của mình. Sau đó, những bài thơ này sẽ được các dàn hợp xướng biểu diễn trong các buổi lễ long trọng. Có một thời văn-võ đã song hành với nhau như thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.