Hôm nay,  

Hai Lần Phép Lạ

21/01/200600:00:00(Xem: 6553)
- Tháng 1-2006, Jan 19, 2006

(Bài viết theo lời kể của bà Nguyễn Thị Yến, thuyền nhân từ Phi đến định cư tại San Jose. Khách mời của đêm tân niên hội ngộ mùng 1 Tết Bính Tuất do Radio Dân Sinh và IRCC tổ chức.)

Vâng, tôi xin kể hầu quý vị về cuộc đời làm mẹ của tôi với hai lần phép lạ. Tôi có hai đứa con mà chẳng bao giờ được gần nhau.

16 năm trước, ghe tỵ nạn của tôi ra đi từ Năm Căn ở Cà Mau. Trước khi cơn bão đến, cả tàu 156 người toàn đàn bà, trẻ con tưởng chết ở biển khơi thì được tàu Mỹ của hạm đội 7 vớt.

Đó là phép lạ đến với cuộc đời tôi lần thứ nhất trên biển đông.

Phép lạ lần thứ hai hiện ra ngay tại văn phòng của thủ đô Phi Luật Tân ở Manila vào ngày 27 tháng 8-2005.

Cuộc đời của tôi đã có dịp kể rõ trong buổi phỏng vấn với phái đoàn Mỹ như sau:

Hôm đó tôi gặp ông Mỹ trắng hơn 50 tuổi, nói tiếng Việt rất rõ ràng. Tuy có thông dịch viên, nhưng tôi được nói chuyện thẳng với ông và ông hiểu rõ câu chuyện đời tôi. Vừa nói vừa khóc, tôi kể đời tỵ nạn cho ông Mỹ là tại sao tôi là người mẹ có chồng, có con mà 16 năm qua lại ở Palawan một mình. Tôi nói với ông Mỹ như thế này.

Thưa ông, xin ông thương cháu. Bố mẹ gốc miền Bắc, Thiên Chúa giáo, di cư vào Nam 1954, sinh ra cháu có đi học ở Sài Gòn. Trước năm 1975 đã đi học ở trường Đắc Lộ và đỗ tú tài. Cháu thi tuyển vào làm nhân viên dân chính ở Cục Công Binh ở đường Trần Quốc Toản được một năm thì “giải phóng” vào.

Vâng, vì là nhân viên của chính quyền ngụy nên cũng phải đi học tập mấy tuần và phải tham gia công tác thủy lợi. Gia đình di cư, anh cháu lại là trung sĩ nhảy dù nên cuộc sống không có tương lai trong chế độ mới.

Sau cháu lập gia đình rồi đi bán chợ. Khi được hai con, con gái 6 tuổi, con trai 2 tuổi thì cả nhà tìm đường vượt biên. Đã đi nhiều lần không thoát, nhưng lần cuối ngày 10 tháng 6-1989 coi như thành công. Nhưng khổ thay, từ hai ghe nhỏ chở ra ghe vượt biên, gia đình cháu chia đôi. Người tổ chức cho đàn bà đi trước. Cháu xách theo hai giỏ quần áo cho cả nhà. Chồng thì ôm hai đứa con đi với đàn ông ở chuyến sau.

Đàn bà và một số trẻ em lên ghe được tất cả 156 người. Các ghe sau của đàn ông bị bắt lại. Ghe vượt biên thành công ra biển mà chỉ toàn đàn bà, trẻ con với biết bao nhiêu là tiếng khóc. Nhà nào cũng có chồng con kẹt lại. Đã thế còn chưa xong. Đi được ba ngày thì tàu hỏng máy. Tài công bỏ neo cố sửa chữa. Suốt 5 ngày ai nấy đều lo sợ, đạo nào cầu theo đạo ấy.

Sau cùng tàu lại chạy được nhưng chỉ đi tới chứ không đi lui, nên cũng chẳng biết hướng nào mà chạy.

Tiếp theo là cơn bão đen trời kéo đến. Tất cả coi sắp chết hết. Cả tàu lại cầu kinh. Và phép lạ lần đầu tiên hiện ra. Tàu chiến Mỹ chạy đến cứu tất cả 155 người. Chỉ có 1 người chết.

Trên tàu chiến Mỹ của hạm đội 7 có mấy người lính gốc Việt đến giúp dân tỵ nạn. Thôi thì mừng rỡ biết đâu mà kể xiết. Cả tàu viết thư nhờ Mỹ gửi về Việt Nam báo tin. Sau đó Mỹ điện về báo cáo và Cao Ủy thuận, đưa về Phi Luật Tân. Nhưng lúc đó vào năm 1989, trại đã có thanh lọc. Các nước không nhận tỵ nạn dễ dàng như trước.

Thưa với ông Mỹ là cháu ở trại tỵ nạn đã 8 năm trên đảo Palawan. Ngày đêm cầu nguyện cho hai đứa con bỏ lại. Tin tức cho biết là chồng và hai con bị tù vượt biên mấy tháng rồi chạy ra được. Bố con ở với nhau một thời gian rồi cha các cháu gửi hai con nhỏ cho người bác nuôi. Chồng cháu đi kiếm việc làm ăn và được một vài năm thì có vợ khác. Hai đứa con nhỏ làm con nuôi nhưng cũng được nuôi sống qua ngày.

Suốt 8 năm đầu, khai với ông Mỹ là sống rất vất vả trong trại nên không có gì để gửi về cho con. Tưởng là nhân viên dân chính của Cục Công Binh thì cũng có điều kiện đi Mỹ nhưng bị rớt. Tưởng là tàu Mỹ vớt thì cũng có ưu tiên nhưng lại bị từ chối vì vớt sau thời hạn ấn định.

Tuy thương hai con nhỏ nhưng cũng cắn răng chịu và ngày ngày đi làm công tác tình nguyện trông nom các trẻ em không cha mẹ ở trại tỵ nạn.

Sau 8 năm dài, có lệnh trục xuất rồi lại được chính phủ Phi cho về Làng Việt Nam. Ở Làng được thời gian ngắn tôi dọn ra phố để đi bán rong. Mới ra bán hàng được một tuần thì bị cướp sạch. Lại còn bị đánh, hiện trên mặt còn vết sẹo lớn. Nhưng rồi phải gây dựng lại để đi bán rong, quần áo, giầy dép, đủ cả. Những năm sau này bắt đầu có tiền gửi về cho con.

Từ sau năm 2000, nhờ máy điện toán, mẹ con hẹn nói chuyện và coi hình của nhau. Khi nào có tiền là ra ngoài phố. Hai mẹ con còn nhờ người ta chỉ cho để nói chuyện và coi được cả hình. Lúc đầu thì chỉ khóc, rồi dần dần mẹ con trò chuyện, khuyên bảo, nâng đỡ tinh thần nhau.

Tuy nói chuyện, thấy hình ảnh nhưng thực sự không biết ngày nào có thể gặp nhau. Nói với ông Mỹ phỏng vấn là mình thương, nhớ các con biết chừng nào. Mẹ con xa nhau trong một chuyến vượt biên ghê gớm như thế. Nếu ông có đứa con gái 6 tuổi với thằng con trai 2 tuổi mà xa cách 16 năm, ông nghĩ sao"

Rồi để tôi kể tiếp cho các chị nghe. Tuy là đời sống buôn bán có chút tiền nhưng rất vất vả và hoàn toàn không có tương lai. Không lẽ mẹ con cứ xa cách mãi sao"

Đến khi có tin luật sư Trịnh Hội xin cho được đi Mỹ, chúng tôi rất mừng rỡ nhưng nghĩ đến con cái, lòng lại đau thắt ruột. Mẹ con nói chuyện với nhau và các con ước mong được đi như mẹ. Nhưng con ơi, mẹ là dân tỵ nạn 16 năm chờ đợi mới cho đi chứ các con dù mồ côi hay khổ sở nhưng lớn lên ở Sài Gòn thì làm sao mà xin đi được. Thôi đành để mẹ đi trước rồi sẽ xin đoàn tụ sau.

Tôi cũng trình bày hoàn cảnh với ông Mỹ phỏng vấn như thế. Vừa nói vừa khóc. Ông Mỹ này hiểu biết. Chợt ông gặng hỏi là thế hồ sơ của bà đi như thế là bây giờ chỉ có một mình hay sao" Bà có lấy ai ở Phi không" Không, nhà cháu suốt 16 năm vẫn có một mình và ý nghĩa của cả cuộc đời là hai đứa con. Bây giờ, đứa nhỏ đã 18 tuổi và đứa con gái lớn 22 tuổi.

Dù đã biết rằng, hai đứa con của tôi ở Sài Gòn nhưng ông vẫn hỏi: Thế hai đứa con của bà bây giờ ở đâu"

Ôi, Chúa ơi! Tôi khóc thật lớn và nói rằng, ông Mỹ ơi, hai đứa con của cháu hiện giờ nó đứng chờ ở bên ngoài kia.

Ông Mỹ rất ngạc nhiên liền cho hai cháu vào gặp. Qua bao nhiêu là nước mắt, ông Mỹ phỏng vấn cầm hồ sơ ngần ngại, lật qua, lật lại rồi nói rằng: Tôi đặc biệt làm giấy giờ cho con trai bà vì nói dưới 21 tuổi, còn độc thân. Con gái thì trên 21 tuổi, quá 3 tháng nên không nhận được.

Mẹ con tôi lại ôm nhau khóc, nhưng tôi biết rằng, đi được một đứa cũng là phép lạ rồi.

Thú thật là tôi không hề nghĩ sẽ đem cháu đi được nhưng người mẹ nào cũng có những hy vọng rất vô lý.

Vì thế trước khi đi lên Manila phỏng vấn, tôi đã cố gửi tiền về cho hai con chạy xin chiếu khán du lịch qua Phi. Phải mua vé khứ hồi $500 Mỹ kim để được phép đi tối đa 21 ngày.

Tôi bán đồ lấy tiền lên thủ đô vào ở nhà người quen chờ phỏng vấn. Lại ra phi trường đón các con từ Sài Gòn qua rồi cùng đi gặp phái đoàn. Những đứa con tôi chỉ nghe tiếng nói và thấy mặt qua hình nhưng khi gặp lại thì nó đã lớn biết chừng nào. Con gái khi tôi bỏ đi có 6 tuổi. Con trai 2 tuổi. Chia tay ở Năm Căn, Cà Mau tưởng chốc lát gặp lại, nào ngờ vĩnh biệt.

16 năm mới gặp lại. Cháu gái sắp tốt nghiệp đại học. Thằng con trai năm nay 18 tuổi, vừa thi đỗ vào đại học. 30 ngàn người mà chỉ tuyển có 300, vậy mà cháu đỗ được hai ngày thì đem túi quần áo qua Phi tưởng là gặp mẹ lần chót tiễn chân đi Mỹ. Chúng nó chờ tôi ở ngoài, xem mẹ phỏng vấn có đậu không.

Qua câu chuyện đầy nước mắt, phép lạ lần thứ hai trong đời tôi đã xảy ra. Ông Mỹ cho con trai tôi ghép hồ sơ. Mẹ độc thân ở trại 16 năm chợt có thêm đứa con 18 tuổi.

Con trai tôi cầm thông hành du lịch đi khứ hồi mà nay đổi qua diện tỵ nạn cấp kỳ. Nó xững sờ không thể ngờ được sự kêu nài vớ vẩn của mẹ thành sự thật.

Cháu đến Phi ngày 25 tháng 8-2005 ở đảo Palawan với tôi đến 28 tháng 11-2005 là vào Mỹ. Chị nó ở chơi với tôi và em đủ 21 ngày là phải trở về Sài Gòn để dự thi tốt nghiệp.

Các bác có biết không" Tôi là mẹ mà không nuôi được con. Chị em nó đùm bọc nhau suốt 16 năm. Trong chuyến đi Phi, em được ở lại với mẹ, chị phải về Sài Gòn chỉ vì khai sinh lớn hơn có 3 tháng nên quá 21 tuổi. Giữa chị em nó tình cảm lớn lao làm sao đo được. Bây giờ chúng nó lại chỉ gặp nhau trên máy điện toán.

Ngay sau khi tôi mở đường suôi lọt thì bà con còn lại điện về Sài Gòn cho các đám con dưới 21 tuổi mấy chục đứa qua Phi vào phỏng vấn đều đi được hết.

Thật cũng đáng công cha mẹ ở lỳ bên Palawan 16 năm dài để phúc cho con.

Khi tôi được tàu Mỹ vớt vào năm 1989, các anh lính Việt trên tàu Mỹ nói là có lệnh của tổng thống từ thời ông Carter. Đồng bào Việt Nam biểu tình thắp nến ở thủ đô được ông tổng thống Mỹ thương cảm mà chấp thuận cho hải quân cứu thuyền nhân. Đó là phép lạ lần thứ nhất.

Đến lần phép lạ lần thứ hai, 16 năm sau đưa được con trai của tôi vào Mỹ, không biết nhờ được thần linh nào giúp đỡ hay chỉ do ông Mỹ phỏng vấn thấy tôi khóc quá nên rủ lòng thương.

Bây giơ tôi thấy ngày tháng sao quá lâu, chỉ mong sao cho qua mau để làm hồ sơ đoàn tụ cho con gái tôi là Nguyễn Hương Nhiên được may mắn như em nó.

Còn con trai tôi là Nguyễn Đức Cảnh, mới qua nhưng đã thi được bằng lái xe. Mẹ con chỉ mong sao thuê được chỗ ở rẻ tiền vì từ lúc vào thiên đường nước Mỹ đến nay, cháu chưa được ngủ trên giường.

Tuy nhiên, tôi vẫn biết tôi là bà mẹ đau khổ nhất nhưng cũng là bà mẹ sung sướng nhất. Con trai 2 tuổi của tôi suốt 16 năm sống không có mẹ, bây giờ chợt lại sống có mẹ một bên. Nhà không có tiền mà trở thành đi du học Hoa Kỳ.

16 năm dài chờ đợi ở đất Phi, bây giờ đã trở thành tiền bạc mua hạnh phúc cho tương lai của con tôi. Phép lạ biển Đông 16 năm trước cứu được mẹ, phép lạ 16 năm sau trên đất Phi, trong phòng thanh lọc, ông Mỹ lại cứu thêm đứa con tôi.

Đó là câu chuyện của một người mẹ không nuôi được con chỉ có cầu nguyện và nước mắt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.
Tháng 5 vừa qua, một chuyến bay từ Johannesburg, Nam Phi đã đáp xuống phi trường Quốc tế Dulles, Hoa Kỳ. Trên phi cơ là khoảng 50 công dân Nam Phi da trắng thuộc cộng đồng Afrikaner. Những người này cho biết sinh kế của họ đang bị đe dọa nghiêm trọng do xã hội ngày càng “kỳ thị người da trắng.” Cách mô tả tình hình Nam Phi như vậy ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các nhà bình luận cánh hữu có ảnh hưởng ở Mỹ như Tucker Carlson, Charlie Kirk, và Stephen Miller.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.