Hôm nay,  

Bush Loạn Chiêu

06/10/200500:00:00(Xem: 5894)
- Gặp rất nhiều nghịch cảnh, Tổng thống Bush chỉ điêu đứng khi nào thành phần trung kiên vẫn ủng hộ ông bắt đầu mất niềm tin. Điều ấy đang xảy ra…
Trong bài bình luận cho ban Việt ngữ BBC, được đưa lên Web của BBC ngày Thứ Hai mùng ba tháng 10 vừa rồi, người viết bài này có phân tách cái "nghiệp kỳ hai" của Tổng thống George W. Bush và nêu nhận xét là ông có chừng một tháng để trấn an các thành phần trung kiên của ông và chinh phục lại niềm tin của quần chúng. Nếu không, ông sẽ là tổng thống hết thời, cầm quyền cho hết nhiệm kỳ mà không lãnh đạo nổi…
Người ta không phải đợi một tháng.
Cùng ngày Thứ Hai đó, ông đã làm một việc trái ngược khi chỉ định Harriet Miers vào Tối cao Pháp viện. Phản ứng lập tức - trong có vài giờ - và gay gắt của nhiều phái bảo thủ về quyết định này khiến tòa Bạch Ốc lật đật - điều rất hy hữu - tổ chức cuộc họp báo tại vườn hồng Rose Garden, để ông Bush trấn an xu hướng bảo thủ ấy trong gần một tiếng đồng hồ.
Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đáng chú ý: ông Bush có dấu hiệu loạn chiêu khiến những người ủng hộ ông bắt đầu nêu câu hỏi về khả năng lãnh đạo của ông. Điều ấy sẽ dội ngược vào hồ sơ Iraq lẫn tư thế của Hoa Kỳ trên thế giới. Cực kỳ đáng ngại.
*
Trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ có sáu vị tổng thống đã được tái đắc cử cho nhiệm kỳ hai và đều bị cái "nghiệp kỳ hai" khi lên đến cực thịnh khiến thành tích chung cuộc sút giảm. Đó là các ông Wilson, (Franklin) Roosevelt, Eisenhower, Nixon, Reagan và Clinton. Nếu kể thêm bốn người kế nhiệm vị tổng thống bị mất đương khi tại chức là (Theodore) Roosevelt, Coolidge, Truman và Johnson, thì hồi hai của sự nghiệp vẫn thường kém hồi đầu, có khi không được đề cử (Truman) hoặc dám tái tranh cử (Johnson). Trong một chục người ấy, ngoại lệ duy nhất nếu có là Theodore Roosevelt và Calvin Coolidge. May lắm thì Eisenhower được coi là bình hòa.
Vì sao như vậy"
Thói thường, khi được tự do hành động và chỉ còn chú ý đến vị trí của mình trong lịch sử hơn là che chắn đây đó để giành phiếu trong cuộc bầu cử tới, các vị tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ hai thường bị bệnh chủ quan bất cẩn. Ngoài ra, qua nhiệm kỳ hai người ta cũng dễ mệt mỏi và tìm giải pháp dễ dãi khi bận tô tượng cho mình. Rồi vì thế mà có khi vấp ngã vì chuyện không đáng. Như Nixon vì vụ Watergate, Reagan vì vụ Iran-Contra, Clinton vì vụ Monica Lewinsky, những tai tiếng để lại tỳ vết khó xóa trong lịch sử, và trước mắt, còn cản trở những kế hoạch dự tính thực hiện cho hậu thế.
Nhiều người cũng thất bại vì quyết định đối ngoại xuất phát từ nhiệm kỳ trước. Wilson chiến thắng trong Thế chiến I mà thất bại vì Quốc hội đảo ngược lập trường, chống lại kế hoạch Hội quốc liên (League of Nations) khiến ông bất lực tại hội nghị Versailles. Hòa ước Versailles vì vậy gieo mầm cho Thế chiến II. Lên kế nhiệm (Franklin) Roosevelt, Truman không kết thúc nổi chiến tranh Cao Ly. Kế nhiệm Kennedy, Johnson không giải quyết nổi chiến tranh Việt Nam. Họ thất bại nặng nên dù có muốn cũng không thể tái tranh cử.
Một khía cạnh khác của cái "nghiệp kỳ hai" là trong nhiệm kỳ hai này, vị tổng thống không được sự nhân nhượng nào của truyền thông hay đối thủ và bị phê phán nghiêm khắc hơn. Họ thường bị đả kích rất nặng, kể cả Eisenhower, và gặp sự chống đối gay gắt đến độ hằn học và tất nhiên là bất công của đối phương.
Tuy nhiên, những người dù gặp sóng gió mà vẫn tai qua nạn khỏi và cuối cùng hoàn tất được nhiệm kỳ hai đều có một nét chung: họ không bị khối quần chúng trung kiên bỏ rơi. Đó là trường hợp của Roosevelt, Eisenhower, Reagan và Clinton. Những người khác đã thất bại nặng chính là vì mất sự tín nhiệm của các thành phần đã từng ủng hộ mình: Wilson gặp sự nổi loạn trong đảng Dân chủ, Truman không được đảng Dân chủ tái đề cử, Johnson có muốn ra tái tranh cử chưa chắc đã được hậu thuẫn của đa số Dân chủ, khi đó đã đảo ngược lập trường, trở thành phản chiến. Nixon phải từ chức khi gặp sức chống rất mạnh của các Nghị sĩ Cộng hòa.
Nói vắn tắt, các tổng thống Mỹ có thể bị vấp ngã trong nhiệm kỳ hai vì 1) chủ quan bất cẩn, 2) mệt mỏi đâm ra lười biếng, 3) lãnh di sản nặng nề của nhiệm kỳ một, 4) và bị tấn công rất nặng vì mọi chuyện. Nhưng họ vẫn có thể vượt qua sóng gió để hoàn tất nhiệm kỳ nếu còn hậu thuẫn của các thành phần quần chúng trung kiên của mình. Nếu không, họ hết thời và nước Mỹ sẽ bị khủng hoảng.
Tổng thống Bush không thể không biết điều ấy: ông đã bất cẩn trong vụ Katrina, có thể vì hao mòn sức lực và tâm trí, lại đang lãnh di sản Iraq và bị đối lập và truyền thông, đa số là thiên tả, tấn công rất gắt. Trong tháng Tám, dù kinh tế tăng trưởng khả quan, tỷ lệ tín nhiệm của ông Bush vẫn sa sút vì vụ Iraq. Trong tháng Chín, vụ Katrina đẩy tỷ lệ bất tín nhiệm lên quá 60% và đấy là lúc ông cần tựa vào thành đồng bảo thủ để tìm thế phản công. Nếu họ có hoài nghi về khả năng lãnh đạo, thí dụ như tại Iraq, thì vẫn tin tưởng vào cá tính chân thành và quả quyết của Tổng thống, là điều ông Bush đã chứng tỏ trong suốt năm năm qua.
Suốt tháng Chín, ông Bush có cơ hội tổng phản công sau vụ Katrina nhưng kết quả lại trái ngược. Ông bọc xuôi theo dư luận để tung ra kế hoạch tăng chi sặc mùi bao cấp hầu chuộc lỗi sơ sẩy tại Katrina trong khi ban tham mưu quân sự của ông nói ra những mâu thuẫn về vụ Iraq, đôn quân hay rút quân đều cần như nhau! Chưa ra khỏi Iraq, ông Bush đã hai lần vấp ngã trong trận Katrina, trước và sau bão lụt.
Điều đáng kinh ngạc và đáng thất vọng cho quần chúng bảo thủ là trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, ông lại bổ nhiệm luật sư riêng của mình là bà Harriet Miers vào ghế Thẩm phán Tối cao Pháp viện thay bà Sandra O'Connor đã xin về hưu từ tháng Bảy. Họ đang kết luận là chẳng những có khả năng lãnh đạo kém, ông Bush còn mất đức tính đáng kính là kiên định lập trường và chí công vô tư. Yếu tố sau cùng ấy mới đáng chú ý.
Nếu đảng Cộng hòa thất cử nặng vào năm tới và sẽ mất cả tòa Bạch Ốc lẫn Quốc hội vào năm 2008, người ta sẽ nhớ đến ngày mùng ba tháng 10 vừa rồi và Harriet Miers.
Khi O'Connor ngỏ ý xin về hưu, Tổng thống Bush và ban tham mưu đã phải có quyết định được chờ đợi từ lâu, đó là tìm người thay thế vị phụ nữ đầu tiên vào Tối cao Pháp viện do quyết định bổ nhiệm của Tổng thống Reagan. Bà O'Connor này là người có khả năng, uy tín và từ xu hướng bảo thủ đã chuyển dịch vào lập trường ôn hòa ở giữa, giữ vị trí bản lề cho các phán quyết của Tối cao Pháp viện gồm chín người.
Nếu người thay thế bà mà có lập trường bảo thủ, Tối cao Pháp viện sẽ ngả về cánh hữu với tỷ lệ 5-4, qua chủ trương suy diễn Hiến pháp theo sát tinh thần nguyên thủy, giới hạn vai trò của chính quyền Liên bang để tăng cường vai trò của Tiểu bang và địa phương, tôn trọng kỷ cương và đạo đức xã hội (hạn chế phá thai và chống hôn nhân đồng tính chẳng hạn) và nhất là ngăn cản trào lưu làm luật theo xu hướng thiên tả và can thiệp của Quốc hội.
Tổng thống Bush đã chọn Thẩm phán John Roberts vào vị trí ấy. Ông là người có thực tài, uy tín và lại bảo thủ nên sẽ đẩy Tối cao Pháp viện về cánh hữu theo ý nguyện của thành phần bảo thủ xưa nay vẫn kiên trì ủng hộ Bush trong hai kỳ tranh cử, dù ông gặp nhiều vấp váp tại Iraq. Điều bất ngờ là Chủ tịch cơ chế tối cao này là ông William Rehquist - một nhân vật bảo thủ do Nixon bổ nhiệm - lại qua đời hôm mùng ba tháng Chín. Bất ngờ hơn nữa, ông Bush lại đôn luôn Thẩm phán Roberts vào ghế Chủ tịch ấy. Ông Roberts xuất sắc vượt qua các cuộc điều trần và được Thượng viện phê chuẩn với phân nửa lá phiếu Dân chủ để chủ tọa phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện mới, vào ngày mùng ba vừa qua, một biến cố rất đáng chú ý.

Nhưng biến cố ấy bị nhận chìm bởi quyết định cùng ngày của ông Bush là bổ nhiệm Harriet Miers vào ghế O'Connor. Đây là sai lầm khó tha thứ về thời điểm vì làm giảm mất ý nghĩa của thắng lợi John Roberts. Chính quyền Bush chưa khi nào xuất sắc trên mặt trận tuyên truyền và chiến tranh tâm lý, lần này thì lại quá tệ.
Với việc đôn một người bảo thủ vào vị trí của một người bảo thủ vừa quá vãng, cán cân lực lượng tả hữu tại Tối cao Pháp viện lại chuyển dịch về chỗ cũ và ông Bush phải tìm ra người thay thế lá phiếu bản lề của bà O'Connor.
Ông không chọn một trong hàng chục người có uy tín, thực tài hay lập trường rõ rệt mà chọn lại một luật sư riêng của mình từ thời Texas, một người đã theo ông vào tòa Bạch Ốc và trở thành nhân vật thân tín của tổng thống trong các quyết định liên hệ đến pháp luật. Mà hồ sơ pháp luật trên bàn của tổng thống chính là vấn đề chính trị của quốc dân.
Bà Miers gặp sự chống đối từ các nhóm bảo thủ không phải vì chưa từng là thẩm phán mà vì 1) không ai biết chủ trương rõ rệt của bà ra sao, 2) có tư thế dính liền đến tổng thống, 3) chứ không là một nhà tư tưởng có viễn kiến hay thẩm quyền về luật Hiến pháp, và quan trọng nhất đối với dư luận bảo thủ, 4) bà lấy mất chỗ của nhiều nhân vật xứng đáng hơn. Trong số này, có hai nhân vật đáng chú ý là một nữ thẩm phán da đen, bảo thủ, gốc California, hoặc Giáo sư Đinh Việt, có thẩm quyền về luật Hiến pháp, rất quen biết trong cộng đồng Việt Nam và được kính trọng trong bộ Tư pháp Mỹ khi góp phần soạn thảo đạo luật Patriot Act.
Nói vắn tắt, nếu không là một phụ nữ, lại là tay chân thân tín của tổng thống, không đời nào bà Miers có thể vượt qua cả chục nhân vật khác để được đề cử vào Tối cao Pháp viện.
Quyết định của Bush bị chỉ trích vì ông hành xử y hệt như đảng Dân chủ, là cố tính đề cử nhân sự chỉ vì lý do chính trị mị dân (phụ nữ hay da màu) chứ không vì khả năng. Ông cũng mặc nhiên xác nhận điều mà đảng Dân chủ xưa nay vẫn công kích, là đưa tay chân vào việc nước. Ông Bush càng cố gắng chứng minh khả năng của bà Miers lại càng kẹt: ông biết rõ khả năng ấy hơn thiên hạ vì Miers là luật sư thân tín của ông. Tức là Hoa Kỳ lại trở về chế độ thân tộc, lãnh đạo đưa tay chân vào nắm quyền, v.v…. Sau những đồn đãi oan về tổ hợp Halliburton đến vụ rút lui của Giám đốc FEMA, nhân vật kém khả năng được bổ nhiệm vì lý do chính trị, việc đưa Miers vào Tối cao Pháp viện chứng tỏ nhược điểm về cá tính con người, không chỉ về khả năng lãnh đạo, của ông Bush.
Khi thấy đối thủ sa hố, đảng Dân chủ tất nhiên vỗ tay. Họ chưa có một ai hoặc một chủ trương nào thống nhất, khả tín hay khả thi, về ngần ấy vấn đề đối nội và đối ngoại, nên nhiệt liệt hoan nghênh quyết định về bà Miers và ngồi nhìn thành đồng bảo thủ của ông Bush tan rã.
Điều ấy không sai.
Nhìn trên bề mặt, đảng Cộng hòa đang lãnh đạo Hành pháp, chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc hội và có thế mạnh tại Tối cao Pháp viện, nhưng không phải là không có vấn đề vì cuộc chiến chống khủng bố chưa ngã ngũ mà nội bộ thuần nhất đang rạn nứt dần. Khi nói đến "phe bảo thủ" ta cần phân biệt khá nhiều phái. Từ vụ Katrina qua vụ Miers, ông Bush đang chuyển phe thành phái. Đã vậy, thành đồng ấy của ông đang lập chiến hào đả kích lẫn nhau và nay công khai than phiền khả năng lãnh đạo lẫn cá tính con người của ông.
Trong phe bảo thủ, ta có sự đối nghịch giữa phái giản chánh - chống bao cấp và muốn thu hẹp vai trò của bộ máy hành chánh công quyền - và phái tăng chi nhằm mở rộng sự can thiệp của chính quyền. Tôn chỉ "bảo thủ với từ tâm" của ông Bush biến thành bảo thủ nhưng bao cấp, mặc tình tăng chi để ban phát quyền lợi, bất chấp khiếm hụt ngân sách và các khoản chi mị dân - không chính đáng nhưng dễ hốt phiếu.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ kinh tế hay kinh doanh đối nghịch với phái bảo thủ tôn giáo. Phái bảo thủ kinh doanh rất khó chịu về sự ồn ào của phái bảo thủ tôn giáo, thí dụ như họ thất vọng với quyết định hạn chế nghiên cứu phôi bào (stem cell) vì lý do tín ngưỡng. Nhiều doanh gia đã kín đáo phản đối ông Bush và gọi phái bảo thủ tôn giáo là Taliban - chế độ giáo quyền Afghanistan đã dung dưỡng khủng bố.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ tôn giáo đối nghịch với phái hoài nghi vai trò của chính quyền liên bang. Phái bảo thủ tôn giáo đòi chính quyền liên bang phải can thiệp, qua luật lệ, để chấn hưng đạo đức hay phát huy tín ngưỡng. Ngược lại, phái kia không muốn chính quyền can thiệp vào các quyết định riêng tư của đời sống, thí dụ như việc trợ tử đang được Tối cao Pháp viện đưa ra thảo luận tuần này, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch John Roberts.
Trong phe bảo thủ, ta có phái địa phương đối địch với phái trung ương. Phái địa phương gồm các tiểu bang miền Tây và miền Nam luôn luôn nghi ngờ trò xào nấu chính trị ở thủ đô, trong khi phái trung ương thì say đòn với hai lần thắng cử và muốn dùng thủ đô làm bàn đạp bành trướng ảnh hưởng. Phái địa phương e là phái trung ương lấn lướt vai trò của địa phương và rơi vào thói quen đổi chác chính trị rất tồi bại ở thủ đô.
Trong phe bảo thủ, ta còn có phái cổ chống phái tân. Phái tân bảo thủ đã đẩy mạnh việc phát huy dân chủ và xây dựng nền móng quốc gia ở các nước khác để diệt trừ khủng bố và bảo vệ quyền lợi của Mỹ trên toàn cầu. Phái bảo thủ cổ điển và thực tiễn thì cho rằng Hoa Kỳ chưa và sẽ không thắng tại Iraq, chi bằng nên dàn xếp giải pháp thỏa hiệp để rút quân về bảo vệ lấy thân ở nhà. Vả lại, cùng phe bảo thủ với nhau và cùng chia sẻ một sự hoài nghi chung về vai trò của chính quyền, cớ sao lại muốn thiết lập loại chính quyền ấy ở các xứ khác"
Cho đến nay, năm phe mười phái ấy vẫn kín đáo vận động vào chính quyền Bush và tin rằng nếu ông Bush còn mạnh thì chủ trương của họ còn có hy vọng được thực hiện. Vì vậy, dù có hoài nghi kết quả đối ngoại - khủng bố, Afghanistan, Iraq, Iran, Bắc Hàn, Trung Quốc, v.v… - họ vẫn trung thành ủng hộ tổng thống. Bây giờ, niềm tin ấy đang bị soi mòn…
Họ kết luận: ông Bush hết là giải pháp đắc lực và có thể đi từ thất bại này qua thất bại khác. Trong khi ấy, nhiều vị đại diện dân cử còn phải chuẩn bị cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, vào năm tới. Sự nghiệp chính trị của họ tại địa phương trở thành quan trọng hơn việc bênh vực Bush trên các hồ sơ thuộc loại toàn quốc. Họ sẽ buông tay, không ủng hộ những quyết định cải cách lớn lao mà đầy rủi ro của tổng thống.
Những vấn đề trên tất nhiên là đang ám ảnh ban tham mưu của Bush và họ phải chuẩn bị một phép lạ mới có thể đảo ngược tình hình. Vài người lạc quan thì cho là bà Miers sẽ gỡ rối cho thượng cấp bằng cách rút lui để ông Bush sửa sai. Nhưng chính ông Bush đã cho biết, bà nhỏ con mà là thứ dữ ("pitt bull đi giày số sáu"), nên bà sẽ chẳng lùi, nhất là khi đảng Dân chủ sẽ trải chiếu hoa cho bà bước lên.
Nếu không bị khủng hoảng trong nội bộ vì làn sóng ngầm của xu hướng cực tả, phản chiến, mị dân và vô trách nhiệm đang nổi lên từ cơ sở, lãnh đạo đảng Dân chủ có một cơ hội rất lớn để giành lại đa số trong Quốc hội vào tháng 11 năm tới và chuẩn bị cho cuộc tranh cử 2008. Họ càng có hy vọng ấy khi kinh tế Mỹ có thể bất ngờ sa sút vào năm tới, là điều chúng ta sẽ tìm hiểu sau.
Nhưng, một ông Bush vấp ngã sẽ khiến Hoa Kỳ không thể ứng phó với rất nhiều vấn đề trọng đại đang xảy ra trên khắp thế giới. Đảng Dân chủ có khả năng lãnh đạo và ứng phó hay không" E rằng không - hoặc chưa. Chẳng lẽ ông Bush tồn tại không vì khả năng của mình và vì đối phương còn kém mình rất xa!
Và đấy mới là vấn đề.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.