Hôm nay,  

Đàn Bà Và Rượu Vang

07/03/200500:00:00(Xem: 7312)
Tôi không hiểu tại sao các cụ ta hồi trước chỉ thích ngồi khề khà uống rượu với đám bạn đàn ông, hoặc nếu không có bạn thì đành ngồi độc ẩm, nâng ly nhấm nháp một mình vậy. Các cụ rất ít khi - hoặc chẳng bao giờ - chia sẻ cái thú thưởng thức ly rượu ngon với người bạn hồng nhan tri kỷ của mình. Cụ Nguyễn Khuyến, khi nghe tin người bạn đồng song là cụ Dương Khuê từ trần, đã làm thơ khóc bạn:

Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua...

Vậy còn cụ bà đó thì sao" Cớ gì mà nhà thơ Yên Đổ lại không cứ tiếp tục mua rượu để uống chơi với cụ bà" Hay là tại cụ bà không biết uống rượu chăng" Tôi nghĩ cái nguyên nhân chính có lẽ là quan niệm trọng nam khinh nữ của xã hội Á Đông thời trước. Thời ấy, chỉ có đàn ông mới được uống rượu và được khuyến khích uống rượu. "Nam vô tửu như kỳ vô phong." Còn đàn bà thì được dạy là phải chui vào xó bếp, lo công việc tề gia nội trợ, phục vụ đức ông chồng và làm bổn phận đẻ con nối dõi tông đường, thế là hết. Ở đó mà đòi uống rượu! Đã không được phép nếm rượu từ thuở còn con gái thì các bà làm sao chén tạc chén thù được với đức lang quân sau này"

Thế nhưng khi đẩy phái nữ vào xó bếp, quý vị đàn ông đã tự tước bỏ đi của mình cái thú được chia sẻ với người đẹp những niềm vui thanh nhã của cầm kỳ thi tửu. Quý vị thiệt thòi biết bao nhiêu!

Thực ra thì lâu lâu người ta cũng thấy có những trường hợp ngoại lệ, những người đàn ông đáng gọi là “tiến bộ” như chàng Kim Trọng trong tác phẩm của Nguyễn Du chẳng hạn. Chàng này khi tìm lại được Thúy Kiều sau 15 năm lưu lạc giang hồ, đã bất chấp những thành kiến của thời đại để cùng nàng chung sống chuỗi ngày hạnh phúc:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên...

Thế có phải là sảng khoái không nào"

Ngày nay, chúng ta hơn các cụ ở chỗ chúng ta có cái thú vui được mời người đẹp đi “date”, đi ăn cơm tây uống rượu chát lu bù. Bạn hãy thử tưởng tượng coi, bạn đưa nàng vào một tiệm ăn nho nhỏ, ấm cúng, ngồi đối diện với nàng bên ngọn nến lung linh. Bạn kêu một chai rượu đỏ. Rượu được rót ra ly, óng ả như màu hồng ngọc và thơm ngát mùi nho chín lên men. Bạn cụng ly với nàng, rồi trìu mến nhìn những ngón tay thon nhỏ của nàng cầm ly rượu đong đưa trước mặt. Bạn sẽ thấy nàng đẹp hẳn lên, cặp mắt nàng như long lanh tình tứ hơn, đôi môi nàng chín mọng hơn và gò má nàng phản ánh màu rượu đỏ dường như cũng hồng hơn. Bạn sẽ nhận ra câu thơ Thôi Hộ là hay tuyệt: “Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”. Ở đây không có hoa đào nhưng đã có màu rượu vang thay thế. Rượu vang làm tôn nhan sắc của người đẹp lên gấp bội.

Hồi xưa, khi còn là cậu sinh viên mới lớn ở Saigon, tôi đã bị quyến rũ bởi những bài thơ vừa mới mẻ vừa lãng mạn của các ông Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, những người có cái may mắn được đi du học ở bên Pháp vào thời ấy. Tôi tưởng tượng ra cảnh mấy ổng đưa đào đi uống rượu vào một buổi chiều giá lạnh bên tả ngạn sông Seine mà thèm:

Mùa Thu Paris, Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, Rưng rưng rượu đỏ tràn ly...

Ngồi uống rượu với các nàng, chẳng những ta có cảm tưởng là chai rượu ngon hơn hẳn lên, mà về rất nhiều phương diện ta còn thấy rượu vang giống hệt với đàn bà nữa. Thật vậy, khi rót ra một ly rượu vang, ta thưởng thức trước hết là màu rượu. Dù đó là màu đỏ thẫm của rượu Bordeaux, màu đỏ hồng của rượu Bourgogne, hay màu vàng như hổ phách của rượu Sauternes để lâu năm, ta đều yêu cái nét óng ả của nó và ta gọi đó là “la robe du vin”, cũng ví như cái áo nàng mặc đang làm tôn vẻ đẹp của nàng. “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, ông Nguyên Sa đã nói như vậy.

Kế đó là vị rượu. Nó gồm đủ cả vị chua, vị chát, vị đắng, vị ngọt. Thì đàn bà chẳng cho chúng ta đủ thứ mùi vị đó hay sao" Những lúc nàng hờn ghen, giận dỗi, mỉa mai, gắt gỏng hay âu yếm, nũng nịu là những lúc chúng ta được nếm qua tất cả những ngọt bùi, chua chát, nồng nàn hay đắng ngắt của cuộc tình.

Rượu vang còn giống đàn bà ở chỗ tự nó có hương thơm ngào ngạt. Tôi không biết Ỷ Lan vương phi hồi xưa có mùi thơm tự nhiên tỏa ra như thế nào mà khi nàng đứng tựa dàn hoa thì mùi hương của da thịt nàng át hẳn trăm hoa, khiến cho nhà vua mê tít. Đời bây giờ tuy chẳng mấy nàng có được cái mùi thơm hấp dẫn tự nhiên như Ỷ Lan nhưng bù lại thì các nàng đã có bao nhiêu thứ son phấn, nuớc hoa từ Chanel, Guerlain cho đến Dior, Hermes. Ngay đến gái quê mộc mạc cũng lấy hoa chanh, hoa bưởi, hoa thiên lý cài lên tóc hay dắt vào mình cho thơm. Rượu vang thì càng qúy phái, sang trọng, đắt tiền bao nhiêu, càng có hương thơm nồng nàn quyến rũ bấy nhiêu. Chỉ cần nâng ly khoắng lên một chút để oxygen trong không khí tác động vào chất rượu là mùi thơm sẽ bốc lên ngào ngạt để khứu giác của ta thưởng thức.

Và cũng tương tự như đàn bà, rượu vang rất tươi mát hăng say khi còn trẻ nhưng càng để lâu thì vị chua (acidity) và vị chát (tannin) trong rượu càng lắng dịu xuống (mellow down), vị ngọt ngào của rượu trở thành đặm đà hơn, và cái dư vị dư hương (aftertaste) còn để lại trên cuống lưỡi tiếp theo sau ngụm rượu càng khiến cho ta ngây ngất.

Uống rượu vang với đàn bà có chừng ấy điều thích thú mà các vị sĩ phu hồi xưa – vì chịu ảnh hưởng nặng của cái thành kiến cổ hủ trọng nam khinh nữ – đã không dám mời phái đẹp cùng uống nên thua thiệt rất nhiều. Trường hợp điển hình là ông Lý Bạch những lúc không có lũ bạn nam nhi thì đành ngồi rót rượu dưới trăng uống một mình với bóng. Tôi chẳng hiểu qúy vị đọc những bài Nguyệt Hạ Độc Chước của ông ta thấy hay ho ra sao, chứ tôi thấy uống rượu kiểu đó nó chán ơi là chán. Nâng chén mời trăng thì trăng không thèm uống, còn cái bóng thì cứ quẩn theo chân mình. Giả như có người đẹp đối ẩm có phải là hào hứng và thú vị biết bao!

Điều đáng mừng là những người bạn mà tôi quen biết hồi sau này mỗi khi muốn thưởng thức cơm Tây rượu chát – dù là ở tiệm ăn hay ở nhà bằng hữu - đều cảm thấy cần phải có phu nhân hay bạn gái đi cùng để chia sẻ thì mới thật là vui. Cái khuynh hướng mới này khác hẳn với thói quen của đám nam nhi hào khách trước đây vài chục năm là chỉ uống với nhau thôi. Xét như vậy thì thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ở vào thời đại tương đối còn cổ hủ của ông, đã tiến bộ hơn chúng ta nhiều lắm. Nhà thơ họ Vũ chắc đã phải có những lúc được ngồi uống rượu rất thích thú với người tình nên đến khi nàng không còn ở bên ông nữa thì ông mới làm thơ nuối tiếc:
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai"

Vậy thì những ai trong bọn đàn ông chúng ta còn may mắn có em bên cạnh tại sao lại không mời nàng ra một quán ăn nho nhỏ, ấm cúng thân mật ngay buổi tối hôm nay, kêu một chai rượu vang ngon để nhâm nhi với nàng và đồng thời thưởng thức màu rượu đỏ ánh lên môi, lên má nàng cho cuộc đời thêm tình tứ lãng mạn phần nào"
Lê Văn, Certified Specialist of Wine
www.levanwineclub.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
✱ Đs Anh/Đs Lodge: Đề xuất của Hồ Chí Minh về một hiệp định đình chiến - Nhu đã đáp lại rằng đề xuất này "không thực tế" nhưng có thể trở thành thực tế trong ba hoặc bốn tháng tới và đang được nghiên cứu. ✱ Báo Espresso, Italia: Ông Nhu sẵn lòng từ bỏ viện trợ Mỹ nếu đó là cái giá phải trả để loại bỏ sự hiện diện của người Mỹ - Nhu cho biết Việt Nam có thể tồn tại mà không cần người Mỹ - Ông Nhu phản ứng phẫn nộ khi người Mỹ muốn ông rời khỏi đất nước. ✱ Nhà báo M.West,Úc: Ông Nhu nói rằng ông muốn tất cả, lặp lại, tất cả các cố vấn Mỹ đều phải rời đi - Không có người Mỹ, chúng ta có thể thắng chiến tranh trong hai hoặc ba năm - Hiện nay trong ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, không có đạo đức. ✱ Đại sứ Lodge: Chúng ta nên xem xét việc rút quân là một khả năng ngày càng gia tăng. Sự bắt đầu của việc rút quân có thể gây ra một cuộc đảo chính...
Một nhóm khoa học giả quốc tế đã thấy bằng chứng lâu đời nhất về cà ri bên ngoài Ấn Độ và cho thấy ý nghĩa lịch sử của hành trình mà các thành phần gia vị này đã trải qua để đến đó. Các nhà nghiên cứu từ Úc, Việt Nam và Trung Quốc đã tìm thấy món ăn này – được biết đến với hương vị cay nồng của đất, có nguồn gốc từ Nam Á và hiện đã phổ biến trên toàn cầu – có lẽ đã được đưa đến bàn ăn của người Việt Nam hơn 1800 năm trước nhờ mạng lưới thương mại hàng hải.
Ở Hoa Kỳ, khi ai đó qua đời, thường thì họ sẽ được ướp xác, đặt trong quan tài và chôn cất tại nghĩa trang (thổ táng), hoặc mang đi hỏa táng, phần tro cốt sẽ được trả lại cho gia đình, người thân. Tuy nhiên, thổ táng và hỏa táng nay đã không phải là các lựa chọn duy nhất. Ngày càng có nhiều nhà tang lễ, cả các công ty khởi nghiệp và tổ chức vô vụ lợi, cung cấp cho mọi người những nghi thức khác nhau dành cho người đã khuất. Trong tương lai, bối cảnh nghi thức tang lễ sẽ đa dạng hơn…
Đã mấy năm nay, một nhóm tên "Sinh viên tranh đấu cho được nhập học công bằng" (Students for Fair Admissions) kiện Đại Học Harvard về tình trạng mà họ cho là bất công lúc xét các ứng viên Á châu nộp đơn vào trường đại học ưu tú này của Mỹ. Nhóm này cho rằng Harvard thực hành “affirmative action” (hành động khẳng định) và "racial balancing" (quân bình chủng tộc) trong quá trình quyết định ai được nhận ai bị từ chối. Nếu không, theo họ, nếu chỉ căn cứ trên thành tích học tập (academics) tỷ lệ sinh viên Á châu được nhận sẽ là 43% tổng số, hay ít lắm 26% nếu xét thêm về hoạt động ngoại khóa, thể thao hay gia đình quen biết với trường ("legacy"); chứ không thấp như mức 18.7% như hiện nay.
Cuộc chiến trên đất nước chúng ta chấm dứt đã gần nửa thế kỷ và được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Bài nầy xin trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến để hiệu đính và bổ túc thêm bài trước cách đây khá lâu của cùng người viết.
Các nhà quan sát đương thời có thể khá ngạc nhiên khi biết rằng nguồn gốc của cụm từ “affirmative action” – cụm từ chứa đầy ý nghĩa trong bối cảnh chính trị ngày nay – có vài phần bí ẩn. Nói rộng ra, Affirmative Action (tạm dịch là Chính Sách Nâng Đỡ Người Thiểu Số) đề cập đến các chính sách và thực tiễn được thiết kế để tăng cơ hội cho các nhóm người thiểu số như người da màu trong lịch sử. Trong tuần này, quyết định của Tối Cao Pháp Viện (TCPV) về chính sách “affirmative action” sẽ đem đến những thay đổi đáng kể trong tương lai tuyển sinh ở các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ. Vào ngày 29 tháng 6, TCPV đã ra phán quyết rằng các trường cao đẳng và đại học tư thục cũng như công lập không còn được coi chủng tộc là một yếu tố xem xét trong tuyển sinh, đảo ngược tiền lệ pháp lý trong suốt 45 năm qua.
Các diễn biến cực kỳ sôi động về nội chính và bang giao quốc tế trong cuộc chiến tranh Đông Dương làm cho Hoa Kỳ thay đổi chiến luợc chống Cộng Sản từ hình thức trung dung sang ủng hộ Pháp. Vì sao Hoa Kỳ phát triển chính sách này lên cực điểm?
Nước Việt Nam được quốc tổ Hùng Vương sáng lập với quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang. Các vị vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu là Hùng Vương cả, chỉ phân biệt các đời vua theo con số thứ tự. Đến đời Hùng Vương thứ 18 thì một phiên thuộc là Thục Phán nổi lên đánh bại nhà vua và chiếm mất ngôi vào năm 257 trước Tây Lịch (TL). Thục Phán xưng hiệu là An Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Loa Thành (Phong Khê, Phúc Yên)...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.