Hôm nay,  

Đàn Bà Và Rượu Vang

07/03/200500:00:00(Xem: 6873)
Tôi không hiểu tại sao các cụ ta hồi trước chỉ thích ngồi khề khà uống rượu với đám bạn đàn ông, hoặc nếu không có bạn thì đành ngồi độc ẩm, nâng ly nhấm nháp một mình vậy. Các cụ rất ít khi - hoặc chẳng bao giờ - chia sẻ cái thú thưởng thức ly rượu ngon với người bạn hồng nhan tri kỷ của mình. Cụ Nguyễn Khuyến, khi nghe tin người bạn đồng song là cụ Dương Khuê từ trần, đã làm thơ khóc bạn:

Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua...

Vậy còn cụ bà đó thì sao" Cớ gì mà nhà thơ Yên Đổ lại không cứ tiếp tục mua rượu để uống chơi với cụ bà" Hay là tại cụ bà không biết uống rượu chăng" Tôi nghĩ cái nguyên nhân chính có lẽ là quan niệm trọng nam khinh nữ của xã hội Á Đông thời trước. Thời ấy, chỉ có đàn ông mới được uống rượu và được khuyến khích uống rượu. "Nam vô tửu như kỳ vô phong." Còn đàn bà thì được dạy là phải chui vào xó bếp, lo công việc tề gia nội trợ, phục vụ đức ông chồng và làm bổn phận đẻ con nối dõi tông đường, thế là hết. Ở đó mà đòi uống rượu! Đã không được phép nếm rượu từ thuở còn con gái thì các bà làm sao chén tạc chén thù được với đức lang quân sau này"

Thế nhưng khi đẩy phái nữ vào xó bếp, quý vị đàn ông đã tự tước bỏ đi của mình cái thú được chia sẻ với người đẹp những niềm vui thanh nhã của cầm kỳ thi tửu. Quý vị thiệt thòi biết bao nhiêu!

Thực ra thì lâu lâu người ta cũng thấy có những trường hợp ngoại lệ, những người đàn ông đáng gọi là “tiến bộ” như chàng Kim Trọng trong tác phẩm của Nguyễn Du chẳng hạn. Chàng này khi tìm lại được Thúy Kiều sau 15 năm lưu lạc giang hồ, đã bất chấp những thành kiến của thời đại để cùng nàng chung sống chuỗi ngày hạnh phúc:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên...

Thế có phải là sảng khoái không nào"

Ngày nay, chúng ta hơn các cụ ở chỗ chúng ta có cái thú vui được mời người đẹp đi “date”, đi ăn cơm tây uống rượu chát lu bù. Bạn hãy thử tưởng tượng coi, bạn đưa nàng vào một tiệm ăn nho nhỏ, ấm cúng, ngồi đối diện với nàng bên ngọn nến lung linh. Bạn kêu một chai rượu đỏ. Rượu được rót ra ly, óng ả như màu hồng ngọc và thơm ngát mùi nho chín lên men. Bạn cụng ly với nàng, rồi trìu mến nhìn những ngón tay thon nhỏ của nàng cầm ly rượu đong đưa trước mặt. Bạn sẽ thấy nàng đẹp hẳn lên, cặp mắt nàng như long lanh tình tứ hơn, đôi môi nàng chín mọng hơn và gò má nàng phản ánh màu rượu đỏ dường như cũng hồng hơn. Bạn sẽ nhận ra câu thơ Thôi Hộ là hay tuyệt: “Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”. Ở đây không có hoa đào nhưng đã có màu rượu vang thay thế. Rượu vang làm tôn nhan sắc của người đẹp lên gấp bội.

Hồi xưa, khi còn là cậu sinh viên mới lớn ở Saigon, tôi đã bị quyến rũ bởi những bài thơ vừa mới mẻ vừa lãng mạn của các ông Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, những người có cái may mắn được đi du học ở bên Pháp vào thời ấy. Tôi tưởng tượng ra cảnh mấy ổng đưa đào đi uống rượu vào một buổi chiều giá lạnh bên tả ngạn sông Seine mà thèm:

Mùa Thu Paris, Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, Rưng rưng rượu đỏ tràn ly...

Ngồi uống rượu với các nàng, chẳng những ta có cảm tưởng là chai rượu ngon hơn hẳn lên, mà về rất nhiều phương diện ta còn thấy rượu vang giống hệt với đàn bà nữa. Thật vậy, khi rót ra một ly rượu vang, ta thưởng thức trước hết là màu rượu. Dù đó là màu đỏ thẫm của rượu Bordeaux, màu đỏ hồng của rượu Bourgogne, hay màu vàng như hổ phách của rượu Sauternes để lâu năm, ta đều yêu cái nét óng ả của nó và ta gọi đó là “la robe du vin”, cũng ví như cái áo nàng mặc đang làm tôn vẻ đẹp của nàng. “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, ông Nguyên Sa đã nói như vậy.

Kế đó là vị rượu. Nó gồm đủ cả vị chua, vị chát, vị đắng, vị ngọt. Thì đàn bà chẳng cho chúng ta đủ thứ mùi vị đó hay sao" Những lúc nàng hờn ghen, giận dỗi, mỉa mai, gắt gỏng hay âu yếm, nũng nịu là những lúc chúng ta được nếm qua tất cả những ngọt bùi, chua chát, nồng nàn hay đắng ngắt của cuộc tình.

Rượu vang còn giống đàn bà ở chỗ tự nó có hương thơm ngào ngạt. Tôi không biết Ỷ Lan vương phi hồi xưa có mùi thơm tự nhiên tỏa ra như thế nào mà khi nàng đứng tựa dàn hoa thì mùi hương của da thịt nàng át hẳn trăm hoa, khiến cho nhà vua mê tít. Đời bây giờ tuy chẳng mấy nàng có được cái mùi thơm hấp dẫn tự nhiên như Ỷ Lan nhưng bù lại thì các nàng đã có bao nhiêu thứ son phấn, nuớc hoa từ Chanel, Guerlain cho đến Dior, Hermes. Ngay đến gái quê mộc mạc cũng lấy hoa chanh, hoa bưởi, hoa thiên lý cài lên tóc hay dắt vào mình cho thơm. Rượu vang thì càng qúy phái, sang trọng, đắt tiền bao nhiêu, càng có hương thơm nồng nàn quyến rũ bấy nhiêu. Chỉ cần nâng ly khoắng lên một chút để oxygen trong không khí tác động vào chất rượu là mùi thơm sẽ bốc lên ngào ngạt để khứu giác của ta thưởng thức.

Và cũng tương tự như đàn bà, rượu vang rất tươi mát hăng say khi còn trẻ nhưng càng để lâu thì vị chua (acidity) và vị chát (tannin) trong rượu càng lắng dịu xuống (mellow down), vị ngọt ngào của rượu trở thành đặm đà hơn, và cái dư vị dư hương (aftertaste) còn để lại trên cuống lưỡi tiếp theo sau ngụm rượu càng khiến cho ta ngây ngất.

Uống rượu vang với đàn bà có chừng ấy điều thích thú mà các vị sĩ phu hồi xưa – vì chịu ảnh hưởng nặng của cái thành kiến cổ hủ trọng nam khinh nữ – đã không dám mời phái đẹp cùng uống nên thua thiệt rất nhiều. Trường hợp điển hình là ông Lý Bạch những lúc không có lũ bạn nam nhi thì đành ngồi rót rượu dưới trăng uống một mình với bóng. Tôi chẳng hiểu qúy vị đọc những bài Nguyệt Hạ Độc Chước của ông ta thấy hay ho ra sao, chứ tôi thấy uống rượu kiểu đó nó chán ơi là chán. Nâng chén mời trăng thì trăng không thèm uống, còn cái bóng thì cứ quẩn theo chân mình. Giả như có người đẹp đối ẩm có phải là hào hứng và thú vị biết bao!

Điều đáng mừng là những người bạn mà tôi quen biết hồi sau này mỗi khi muốn thưởng thức cơm Tây rượu chát – dù là ở tiệm ăn hay ở nhà bằng hữu - đều cảm thấy cần phải có phu nhân hay bạn gái đi cùng để chia sẻ thì mới thật là vui. Cái khuynh hướng mới này khác hẳn với thói quen của đám nam nhi hào khách trước đây vài chục năm là chỉ uống với nhau thôi. Xét như vậy thì thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ở vào thời đại tương đối còn cổ hủ của ông, đã tiến bộ hơn chúng ta nhiều lắm. Nhà thơ họ Vũ chắc đã phải có những lúc được ngồi uống rượu rất thích thú với người tình nên đến khi nàng không còn ở bên ông nữa thì ông mới làm thơ nuối tiếc:
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai"

Vậy thì những ai trong bọn đàn ông chúng ta còn may mắn có em bên cạnh tại sao lại không mời nàng ra một quán ăn nho nhỏ, ấm cúng thân mật ngay buổi tối hôm nay, kêu một chai rượu vang ngon để nhâm nhi với nàng và đồng thời thưởng thức màu rượu đỏ ánh lên môi, lên má nàng cho cuộc đời thêm tình tứ lãng mạn phần nào"
Lê Văn, Certified Specialist of Wine
www.levanwineclub.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.