Hôm nay,  

Luống Cải Chân Đồi

11/05/200500:00:00(Xem: 6084)
Thời Phật còn tại thế, trong một mùa an cư, Đức Phật và tăng đoàn có mặt tại thị trấn Vejanra khi nơi này đang bị mất mùa và dân chúng khắp vùng lâm nạn đói trầm trọng. Kho lúa dự trữ của thị trấn cũng được lệnh mở ra phân phát nhưng như gió lùa vách trống, muối bỏ đại dương, đâu đâu cũng thấy những bóng người dật dờ vì đói. Chính dân chúng cũng không có thực phẩm thì lấy gì cúng dường người tu hành. Thế nên, nhiều vị sa môn từng ôm bát về không sau giờ khất thực. Ngay Đức Phật cũng nhiều lần về lại khu rừng trú ngụ mà không có một hạt cơm trong bát! Nhưng Đức Phật vẫn an nhiên thiền định và sau khi xả thiền, vẫn nói pháp. Cái đói là một thực thể nhưng cái thực thể đó như không làm vẩn đục sự nhiệm mầu. Tất nhiên, tình trạng này không thể kéo dài. Đại Đức Moggallana đã trình Đức Phật, xin Người cùng tăng đoàn hãy di chuyển về miền Nam, nơi không gặp nạn đói. Đức Phật đã ôn tồn bảo Đại Đức Moggallana rằng: “Không được đâu, chúng ta đã đến đây khi dân chúng gặp đói khổ, chúng ta phải ở lại để chia xẻ, để an ủi và để hướng dẫn tâm linh họ trước ách nạn này. Trách nhiệm chúng ta phải lớn hơn ở những nơi cùng khổ” Đại Đức đã quỳ xuống sám hối trước lời từ bi của Đức Phật nhưng lòng rất khổ đau khi thấy Thế Tôn ngày một tiều tụy nên một lần lại thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con thấy trong rừng có một khỏang đất cây cỏ mọc rất xanh tươi, như vậy, đất dưới đó phải có chất dinh dưỡng tốt. Xin Thế Tôn cho phép con đào lên, lấy phần đất mềm ở dưới, hòa tan vào nước cũng có chút bổ dưỡng cho cơ thể”. Đức Phật lại nhu hòa mà nói rằng: “Không đâu, nếu cây cỏ nơi đó xanh tươi là nhờ đất tốt, ta đào lên, cây sẽ chết, đó là chưa kể còn biết bao côn trùng đang ẩn thân dưới phần đất mềm đó. Đại Đức an tâm, dân chúng đói, chúng ta cùng đói; dân chúng còn đó, chúng ta sẽ còn đây”.
Sự thanh thản an nhiên của Đức Phật là sức mạnh vô song giúp tăng đoàn giữ chánh niệm. Và sự nhiệm mầu đã xảy ra khi mọi người thấy Đại Đức Ananda, sau khi khất thực về đã lui cui nhặt củi khô nhóm lửa, đặt một đĩa sắt nhỏ lên và lấy trong túi ra gói giấy đựng dúm bột mầu vàng. Đại Đức nói với huynh đệ đang chăm chú vây quanh rằng: “đây là cám, cám nuôi ngựa, chúng ta rang cho thơm rồi dâng lên Thế Tôn dùng đỡ lòng. Hôm nay, khi khất thực, tôi gặp người lái buôn ngựa vừa di chuyển qua đây. Ông ta từng được nghe Thế Tôn thuyết pháp nên phát tâm cúng dường, nói với tôi rằng, khi sa môn nào không xin được thực phẩm thì ghé qua trại ngựa, nhận một phần cám; và chỉ khi nào không xin được gì hãy ghé nhận cám vì cám này cũng là xẻ bớt từ phần ăn của 500 con ngựa. Với khả năng hạn hẹp, ông ta chỉ có thể cúng dường như thế mà thôi. Ông ta vốc cho tôi một nắm, tôi xin một phần nữa để dâng Thế Tôn và đang rang đây”.
Cám nuôi ngựa của người lái buôn đã đến kịp thời trước khi những cơn mưa kỳ diệu đổ xuống hồi sinh sự sống của cây trái, mùa màng…..

Sự nghèo đói nơi nào cũng có, thiên tai lúc nào cũng bất ngờ xảy ra nhưng ở mỗi nơi và lòng mỗi người, thái độ chấp nhận nghèo đói và thiên tai khác nhau. Cùng trong ngục tối, chịu chung sự hà khắc giam cầm, vậy mà, người thì bình thản, kẻ lại loạn cuồng. Sự khác nhau do từ nội lực, từ trí tuệ quán chiều lẽ vô thường. Đối với bậc tu hành chân chính các ngài dễ dàng khắc phục khó khăn vì khi đối cảnh chẳng sanh tâm thì tâm sẽ lặng. Ấy thế mà giữa thời vô minh cai trị, chúng ta thấy thấp thoáng những lời thơ thống hận, những giòng lệ khôn ngăn từ bậc cao tăng. Gặp những chia xẻ này, người Phật tử chớ hấp tấp nhận định vì Bát Nhã phải được đón nhận bằng trí tuệ mới liễu ngộ được uyên nguyên. Chữ nghĩa chỉ là phương tiện từ chương mà thôi. Bằng phương tiện đó, các ngài đã dũng cảm nói thay cho những người không còn được nói, khóc thay cho những người không còn được khóc, nên lời ta thán đó chính là lời từ bi an ủi, nước mắt đó chính là cam lộ Quán Âm.
Vác cuốc xuống chân đồi
Nắng mai hồng đôi môi
Nghiêng vai hờn tuổi trẻ
Máu đỏ rợn bên trời
Sức yếu, lòng đất cứng
Sinh nhai tủi nhục nhiều
Thân gầy, tay cuốc nặng
Mắt lệ nóng tình yêu.
Không người Việt Nam nào đọc mấy câu thơ này mà không biết đây là hình ảnh những vùng được kẻ vô minh gọi là “kinh tế mới”. Sự mỉa mai đáng thương hại ở ngay nơi tên gọi “huy hoàng” đó vì bất cứ ai được hân hạnh gửi tới những “thiên đường” này đều không tìm thấy, nhìn thấy cái gì là “kinh tế” cả! Khi Vạn Lý Trường Thành được xây xong, mấy ai không biết rằng bức tường xuyên mây vượt núi hoàn thành không chỉ bằng gạch đá mà còn bằng vô số mạng người! Nhưng mạng người trong tay bạo chúa có hơn gì ruồi kiến! Bức tường còn đến ngày nay, được coi là kỳ quan thế giới, người đến thăm có rợn bước chân đi" có nghe bao oan hồn thoảng trong gió núi" Có cảm được gạch đá rưng rưng hờn uất khôn tan"
Cũng những nơi gọi là vùng kinh tế mới này, kẻ nắm quyền lùa dân vô tội, phán lời rằng “sỏi đá phải thành cơm!”
Thầy tóc trắng bơ vơ
Con mắt xanh đợi chờ
Đèn khuya cùng lẻ bóng
Khúc ruột rối đường tơ
Tuổi Thầy trông cánh hạc
Cánh hạc vẫn chốc mồng
Mắt con mờ ráng đỏ
Ráng đỏ lệ lưng tròng
Hỡi những ai tranh đấu cho Tự Do, Nhân Quyền,
Hỡi những nhà thống kê đại tài trên thế giới,
Có vị nào đếm nổi số oan hồn đã thành sỏi đá trên những vùng “sỏi đá phải thành cơm” không"
Lành thay, sứ giả Như Lai đã chưa từng vắng mặt với điêu linh, nên bằng pháp âm vi diệu mà:
Chân đồi xanh luống cải
Đời ta xanh viễn phương
Sống, chết, một câu hỏi
Sinh nhai lỡ độ đường.
Mưa pháp đã rạt rào trên oan khổ để chúng sinh trở về chánh niệm, biết được chỉ là “lỡ độ đường” thôi, là thoáng chốc, là một sát na thôi, làm sao hoen ố được mầu xanh viễn phương của chân như bản thể"
Nếu biết tác giả bài thơ này là ai, chắc quý Phật tử muôn phương sẽ thành tâm hướng về trời Nam mà đảnh lễ. Vâng, người đang nói lời thống hận thay cho hơn 80 triệu đồng bào là Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, vị sứ giả Như Lai đang theo bước chân Phật khi xưa là ở lại với nơi cùng khổ để “chúng sanh đói, ta cùng đói; chúng sanh còn, ta sẽ còn”.
Diệu Trân
Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.