Hôm nay,  

Trúc Biếc Hoa Vàng

8/25/200500:00:00(View: 5989)
Chỉ là chuyện nói chơi, nhưng thần khẩu hại xác phàm.
Ừ thì một liều ba bảy cũng liều. Người viết nhạc chỉ có bảy nốt, giờ phãi xử dụng tới hai mươi bốn chữ cái để “diển tỏa” âm thanh, chắc là vong mạng thôi. Nhưng vì thế nhân TQL sẽ một lần thí mạng cùi.
Đọc trên mạng, bài thơ “ TBHV “, viết về Vu Lan. Có đôi chữ không vừa ý, nhưng đó là ý kiến của người nhạc, còn người làm thơ thì có biết gì về âm thanh, âm nhạc đâu mà thắc mắc hay thắc rẽ.
Nhưng thấy vậy không phải chỉ có vậy !!! Diệu Trân ra lệnh : Anh phổ nhạc bài thơ “Trúc biếc hoa vàng” cho kịp mùa Vu Lan đi. Trời đất ơi trời ơi, thế này là đại họa rồi. Nhưng thân trai mười hai bến nước trong nhờ đục “ráng chịu”, mà bến của TQL thì!!!

Ngồi trước máy điện toán, đọc lại bài thơ , tá hỏa :

Pháp thân như trúc biếc
Bát Nhã tựa hoa vàng
Tóc rơi từng sợi nhỏ
Tàn cây nhang

Sao chơi khó nhau thế "
Nếu khởi đi bằng một đoạn bốn câu năm chữ thì người nhạc có thể dùng các thể loại bình thường của Jazz như tango, rumba, dễ ăn như cháo, đằng này người thơ ác ôn , thiếu hai chữ ở câu thứ tư. Thì thôi, có khó mới đáng để chúng ta thi thố khả năng, phải không các bậc nhạc sĩ đàn anh " Bản năng sinh tồn khiến TQL phải chọn cung La thứ, là cung dễ nhất trong âm nhạc, không thăng, không giảm, tha hồ chuyển sang trưởng , sang các cung họ hàng lân bang, tha hồ mưu sinh thoát hiễm. Có được cung La thứ rồi, TQL hơi an lòng, nhưng còn điệu thì sao đây""" Nhạc Vu lan mà chơi Valse thì tươi quá, chơi Rumba là các Sư sẽ đập thằng tác giả nhạc chết ngay, ờ ờ thôi thì ta cứ tà tà ở điệu nhè nhẹ, câu giờ rồi sẽ tính. Bây giờ tới chuyện nhanh chậm, lại khổ thôi. Thì thế này nhé, tạm thời ta để tốc độ chín mươi, rồi kề sơ ra sờ ra.
Coi như phần cung bậc, nhịp điệu, tốc độ tạm xong.
Bây giờ chuyển thơ thành nhạc là phần sẽ có chuyện máu lửa đây.
TQL đọc bốn câu thơ đầu tiên thì đã tá hoả :

Tóc rơi từng sợi nhỏ,
ừ thì cũng tạm hiễu được đi, nhưng ngay sau đó :… tàn cây nhang. Trời đất ơi, tóc rơi mà tàn cây nhang được hỉ !!! Chịu thua, vì TQL có biết gì Phật pháp đâu mà dám lý với luận…Ta sẽ theo thơ mà đi từng nốt, từng ý, cẩn thận , nếu không, vong mạng là cái chắc. Để diển tả tóc rơi từng sợi , ta phải dùng một phách cho chữ tóc, một phách cho chữ rơi, người nghe có thể tưởng tượng từng sợi tóc , từng sợi nhỏ, lià đầu, không phải lìa đời, và rồi thì sẽ … tàn cây nhang. Giữa chuyện sợi tóc rơi và chuyện cây nhang tàn không giây mơ rể má gì cả đó nhé.

Đọc tiếp :

Người xoè tay, tay trắng
Bình bát củ khoai lang
Cúng dường Xá Lợi Phất
Công đức ba ngàn thế giới
hồi hướng Vu Lan

Ác cũng ác vừa phải thôi chứ,
Ba câu năm chữ, sao không thêm hai câu năm chữ nữa, nở nào hạ độc thủ bằng hai câu sáu chữ và bốn chữ. Muốn thử xem người nhạc có đọc cẩn thận không hỉ. Cũng được, cứ làm khó nhau đi rồi sẽ biết tay.

Ta sẽ kéo chữ “tay” dài ra một phách rưỡi, để mọi người có đủ thì giờ nhìn cho kỹ, thấy gì , thấy bàn tay, bàn tay thế nào, bàn tay trắng, ta sẽ kéo chữ “trắng” ra một phách rưỡi để mọi người nhìn thấy bàn (tay trắng), hay (trắng tay") bàn tay trắng đó đã bỏ củ khoai lang vào bình bát của Bồ tát Xá Lợi Phất, người đã nhận sự cúng dường thành tâm của một người dân nghèo mạt rệp nhưng lòng yêu Pháp, yêu Tăng không ai dám cân đo. Củ khoai lang đó (không biết có sùng hay không") là bửa ăn cả ngày của người nghèo khó,(cũng như hai mỹ kim phiếu tem thực phẫm mà có lần TQL đã nhận được trong một dịp tổ chức đại nhạc hội cứu thuyền nhân tại các đảo), củ khoai lang đó xứng đáng “công đức ba ngàn thế giới”.

Cha về với Phật, Mẹ còn đây
Sương sớm có tan, trăng có gầy
Mẹ ơi tháng Bảy Vu Lan tụng
Đóa hồng cài áo, hồi chuông xa bay…

Đang năm chữ, người nở nào nhảy sang bảy chữ, rồi tám chữ " Vừa phải thôi, ta phải đối phó thế nào với lòng người dã man tàn bạo thế này"""

Nói đến Vu Lan thường thì nhân sinh vẫn nói đến Mẹ, người vẫn quên không có Cha thì làm sao có ta, Vu Lan chỉ báo hiếu Mẹ thôi, Cha đi chỗ khác chơi hỉ , cái này bất công và vô ơn với đấng sinh thành quá. Bốn câu thơ trên đã nhắc đến Cha, phải, Cha về với Phật , Mẹ còn đây, TQL đã đọc lộn : Cha về với Mẹ, Phật còn đây, tội lỗi, tội lỗi, quỳ hương, quỳ hương!!!

Nói đến Cha, phải nói thật cảm động, dù Cha không còn nhưng nhạc phải dùng đến hai phách để âm hưởng, hình ảnh Cha hiện diện thật rõ, thật lâu trong tâm tư các con, và phải ở nốt thật cao, cao như công lao khổ nhọc cha nuôi con, Cha phải được hát vỡ oà ở nốt Mi. Mẹ phải xuống thấp và phải nhờ cảm âm Sol thăng, dù có hơi lạm dụng đôi chút, nhưng không chắc có ai phản đối nếu TQL diển tả MẸ như vậy. Mẹ còn đây, nhạc phải dùng hai phách rưởi để các Con ghi nhận sự hiện hữu của Mẫu thân lúc này, không gian này, cuộc đời này,

Cha như núi
Mẹ như sông
Núi cao dựng vách
Xanh phấn thông
Sông chảy mênh mang giòng sữa ngọt
một trời hư không…

Đến đây thì TQL hết chịu thấu !!!
Chơi như vậy thì chơi với rắn.

Người đổi giọng, thí ta đổi giọng, người thay lòng thì ta đổi dạ. Người chuyển thể thì ta chuyển thể. Những câu thơ này được dùng để chuyển ý nhạc từ dồn dập sang chậm rãi.
Cha một phách rưởi cũng ở độ cao Mi, núi ba phách cũng ở cùng độ cao với Cha, mẹ như sông, sông hai phách, thấp hơn Cha và núi một chút, ở độ cao Ré thôi, nhưng từ Mi xuống Ré là một bước gần gủi thân thương lắm, (Mí ré mí, mì ré ré) núi cao dựng vách, vách thì phải cao, thì nhạc phải đưa vách lên tận nốt mí để cho người nghe biết rằng vách cao lắm, và kéo dài hai phách rưởi, âm thanh vang dội núi rừng, vách đá, ca sĩ vừa hát vừa nói tiếng Đức, nhưng “đã” lắm, chữ vách này lên cao, đắc địa tuyệt vời, cung bậc đi xuống dần, đúng luật giang hồ lắm, từ chữ vách nốt Mí đưa xuống phấn nốt ré và thông nốt Đô, là một chuổi (Mí ré mí Mí ré đồ) rất trôi chảy với chữ thông bốn phách, sông được kéo dài hai phách và đưa xuống Si để hợp thành một chuổi dài Mí ré mí, ré, ré, Mí ré đo Si). Để diển tả : Sông chảy mênh mang giòng sữa ngọt một trời hư không, TQL đã đưa chữ Ngọt xuống thấp (Đồ, dài hai phách) nhưng đã cường điệu bằng cách dùng khoản tám , (là là la Si) để diển tả Một trời hư không, Chữ Không tại nốt Si và kéo dài ba phách và một phách lặng cho người nghe cảm giác bao la của Đất trời.
Sóng gió đã đi qua phần nào khi TQL kinh qua được những câu thơ đó, những câu còn lại thì dễ như ăn gỏi thôi:

Con xuống tóc đi tìm Cha
Sợi vương cửa động, sơn hà lung lay
Rừng chiều một cánh chim bay
chợt nghe gió thoảng hương say hoa rừng

Người lại thay lòng đổi dạ nữa, từ thơ tự do, chạy sang sáu tám, một thể thơ cạm bẩy sẵn sàng
giết bất cứ anh hùng nào vừa bước vào đường phổ nhạc!!! Cũng được, thời thế tạo anh hùng, có cứng mới đứng đầu gió, ta sẽ đứng ở mũi tàu như kép chánh phim Titanic. Nhạc sẽ khai thác đọan thơ này thành câu đáp của đọan nhạc trước.

Người xuống thì ta sẽ cho nhạc xuống theo :
Con xuống tóc đi tìm Cha = Mi ré đô Si là Si, Con xuống tóc chẫm rãi, mỗi chữ một phách, Cha được kéo dài hai phách cho thật cảm động nhưng gió rừng thổi thì phải mạnh, nên chữ thoảng được đẩy lên tới nốt Mí và kéo dài hai phách rưởi và hợp với “hương say hoa rừng” thành một chuổi “Mí ré đô si Là” Trở về được chủ âm là thấy đời màu hồng rồi,
Nhưng cuộc đời TQL không phẳng lặng như mơ đâu. Tự nhiên người lại phọt thêm hai câu sáu tám nữa, trời đất ơi trời ơi :

Con về ngủ dưới gốc thông
Trong mơ hé nụ đóa hồng Vu Lan.

Cái này là vở nợ lớn. Đã trở về chủ âm rồi, bi chừ còn hai câu lòng thòng lục bát này thật là loạn to.

Thôi được, túng thì tính thôi.

Người đã triệt buộc thì ta đành chuyển từ La thứ, tức là La nho nhỏ sang La trưởng, tức là La to to, để chống chỏi tình thế nguy ngập này.
Bốn trường canh chót biến sang cung La trưởng để chuyên chở một hình ảnh bình an của người nằm an giấc (ngàn thu ") dưới cội thông già và mơ về nụ hồng, nụ hồng VU LAN.

Tran Quan Long
(Viết riêng tặng HDL, một đạo hữu không nghe được… cả âm nhạc )

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.