Hôm nay,  

Trúc Biếc Hoa Vàng

25/08/200500:00:00(Xem: 6000)
Chỉ là chuyện nói chơi, nhưng thần khẩu hại xác phàm.
Ừ thì một liều ba bảy cũng liều. Người viết nhạc chỉ có bảy nốt, giờ phãi xử dụng tới hai mươi bốn chữ cái để “diển tỏa” âm thanh, chắc là vong mạng thôi. Nhưng vì thế nhân TQL sẽ một lần thí mạng cùi.
Đọc trên mạng, bài thơ “ TBHV “, viết về Vu Lan. Có đôi chữ không vừa ý, nhưng đó là ý kiến của người nhạc, còn người làm thơ thì có biết gì về âm thanh, âm nhạc đâu mà thắc mắc hay thắc rẽ.
Nhưng thấy vậy không phải chỉ có vậy !!! Diệu Trân ra lệnh : Anh phổ nhạc bài thơ “Trúc biếc hoa vàng” cho kịp mùa Vu Lan đi. Trời đất ơi trời ơi, thế này là đại họa rồi. Nhưng thân trai mười hai bến nước trong nhờ đục “ráng chịu”, mà bến của TQL thì!!!

Ngồi trước máy điện toán, đọc lại bài thơ , tá hỏa :

Pháp thân như trúc biếc
Bát Nhã tựa hoa vàng
Tóc rơi từng sợi nhỏ
Tàn cây nhang

Sao chơi khó nhau thế "
Nếu khởi đi bằng một đoạn bốn câu năm chữ thì người nhạc có thể dùng các thể loại bình thường của Jazz như tango, rumba, dễ ăn như cháo, đằng này người thơ ác ôn , thiếu hai chữ ở câu thứ tư. Thì thôi, có khó mới đáng để chúng ta thi thố khả năng, phải không các bậc nhạc sĩ đàn anh " Bản năng sinh tồn khiến TQL phải chọn cung La thứ, là cung dễ nhất trong âm nhạc, không thăng, không giảm, tha hồ chuyển sang trưởng , sang các cung họ hàng lân bang, tha hồ mưu sinh thoát hiễm. Có được cung La thứ rồi, TQL hơi an lòng, nhưng còn điệu thì sao đây""" Nhạc Vu lan mà chơi Valse thì tươi quá, chơi Rumba là các Sư sẽ đập thằng tác giả nhạc chết ngay, ờ ờ thôi thì ta cứ tà tà ở điệu nhè nhẹ, câu giờ rồi sẽ tính. Bây giờ tới chuyện nhanh chậm, lại khổ thôi. Thì thế này nhé, tạm thời ta để tốc độ chín mươi, rồi kề sơ ra sờ ra.
Coi như phần cung bậc, nhịp điệu, tốc độ tạm xong.
Bây giờ chuyển thơ thành nhạc là phần sẽ có chuyện máu lửa đây.
TQL đọc bốn câu thơ đầu tiên thì đã tá hoả :

Tóc rơi từng sợi nhỏ,
ừ thì cũng tạm hiễu được đi, nhưng ngay sau đó :… tàn cây nhang. Trời đất ơi, tóc rơi mà tàn cây nhang được hỉ !!! Chịu thua, vì TQL có biết gì Phật pháp đâu mà dám lý với luận…Ta sẽ theo thơ mà đi từng nốt, từng ý, cẩn thận , nếu không, vong mạng là cái chắc. Để diển tả tóc rơi từng sợi , ta phải dùng một phách cho chữ tóc, một phách cho chữ rơi, người nghe có thể tưởng tượng từng sợi tóc , từng sợi nhỏ, lià đầu, không phải lìa đời, và rồi thì sẽ … tàn cây nhang. Giữa chuyện sợi tóc rơi và chuyện cây nhang tàn không giây mơ rể má gì cả đó nhé.

Đọc tiếp :

Người xoè tay, tay trắng
Bình bát củ khoai lang
Cúng dường Xá Lợi Phất
Công đức ba ngàn thế giới
hồi hướng Vu Lan

Ác cũng ác vừa phải thôi chứ,
Ba câu năm chữ, sao không thêm hai câu năm chữ nữa, nở nào hạ độc thủ bằng hai câu sáu chữ và bốn chữ. Muốn thử xem người nhạc có đọc cẩn thận không hỉ. Cũng được, cứ làm khó nhau đi rồi sẽ biết tay.

Ta sẽ kéo chữ “tay” dài ra một phách rưỡi, để mọi người có đủ thì giờ nhìn cho kỹ, thấy gì , thấy bàn tay, bàn tay thế nào, bàn tay trắng, ta sẽ kéo chữ “trắng” ra một phách rưỡi để mọi người nhìn thấy bàn (tay trắng), hay (trắng tay") bàn tay trắng đó đã bỏ củ khoai lang vào bình bát của Bồ tát Xá Lợi Phất, người đã nhận sự cúng dường thành tâm của một người dân nghèo mạt rệp nhưng lòng yêu Pháp, yêu Tăng không ai dám cân đo. Củ khoai lang đó (không biết có sùng hay không") là bửa ăn cả ngày của người nghèo khó,(cũng như hai mỹ kim phiếu tem thực phẫm mà có lần TQL đã nhận được trong một dịp tổ chức đại nhạc hội cứu thuyền nhân tại các đảo), củ khoai lang đó xứng đáng “công đức ba ngàn thế giới”.

Cha về với Phật, Mẹ còn đây
Sương sớm có tan, trăng có gầy
Mẹ ơi tháng Bảy Vu Lan tụng
Đóa hồng cài áo, hồi chuông xa bay…

Đang năm chữ, người nở nào nhảy sang bảy chữ, rồi tám chữ " Vừa phải thôi, ta phải đối phó thế nào với lòng người dã man tàn bạo thế này"""

Nói đến Vu Lan thường thì nhân sinh vẫn nói đến Mẹ, người vẫn quên không có Cha thì làm sao có ta, Vu Lan chỉ báo hiếu Mẹ thôi, Cha đi chỗ khác chơi hỉ , cái này bất công và vô ơn với đấng sinh thành quá. Bốn câu thơ trên đã nhắc đến Cha, phải, Cha về với Phật , Mẹ còn đây, TQL đã đọc lộn : Cha về với Mẹ, Phật còn đây, tội lỗi, tội lỗi, quỳ hương, quỳ hương!!!

Nói đến Cha, phải nói thật cảm động, dù Cha không còn nhưng nhạc phải dùng đến hai phách để âm hưởng, hình ảnh Cha hiện diện thật rõ, thật lâu trong tâm tư các con, và phải ở nốt thật cao, cao như công lao khổ nhọc cha nuôi con, Cha phải được hát vỡ oà ở nốt Mi. Mẹ phải xuống thấp và phải nhờ cảm âm Sol thăng, dù có hơi lạm dụng đôi chút, nhưng không chắc có ai phản đối nếu TQL diển tả MẸ như vậy. Mẹ còn đây, nhạc phải dùng hai phách rưởi để các Con ghi nhận sự hiện hữu của Mẫu thân lúc này, không gian này, cuộc đời này,

Cha như núi
Mẹ như sông
Núi cao dựng vách
Xanh phấn thông
Sông chảy mênh mang giòng sữa ngọt
một trời hư không…

Đến đây thì TQL hết chịu thấu !!!
Chơi như vậy thì chơi với rắn.

Người đổi giọng, thí ta đổi giọng, người thay lòng thì ta đổi dạ. Người chuyển thể thì ta chuyển thể. Những câu thơ này được dùng để chuyển ý nhạc từ dồn dập sang chậm rãi.
Cha một phách rưởi cũng ở độ cao Mi, núi ba phách cũng ở cùng độ cao với Cha, mẹ như sông, sông hai phách, thấp hơn Cha và núi một chút, ở độ cao Ré thôi, nhưng từ Mi xuống Ré là một bước gần gủi thân thương lắm, (Mí ré mí, mì ré ré) núi cao dựng vách, vách thì phải cao, thì nhạc phải đưa vách lên tận nốt mí để cho người nghe biết rằng vách cao lắm, và kéo dài hai phách rưởi, âm thanh vang dội núi rừng, vách đá, ca sĩ vừa hát vừa nói tiếng Đức, nhưng “đã” lắm, chữ vách này lên cao, đắc địa tuyệt vời, cung bậc đi xuống dần, đúng luật giang hồ lắm, từ chữ vách nốt Mí đưa xuống phấn nốt ré và thông nốt Đô, là một chuổi (Mí ré mí Mí ré đồ) rất trôi chảy với chữ thông bốn phách, sông được kéo dài hai phách và đưa xuống Si để hợp thành một chuổi dài Mí ré mí, ré, ré, Mí ré đo Si). Để diển tả : Sông chảy mênh mang giòng sữa ngọt một trời hư không, TQL đã đưa chữ Ngọt xuống thấp (Đồ, dài hai phách) nhưng đã cường điệu bằng cách dùng khoản tám , (là là la Si) để diển tả Một trời hư không, Chữ Không tại nốt Si và kéo dài ba phách và một phách lặng cho người nghe cảm giác bao la của Đất trời.
Sóng gió đã đi qua phần nào khi TQL kinh qua được những câu thơ đó, những câu còn lại thì dễ như ăn gỏi thôi:

Con xuống tóc đi tìm Cha
Sợi vương cửa động, sơn hà lung lay
Rừng chiều một cánh chim bay
chợt nghe gió thoảng hương say hoa rừng

Người lại thay lòng đổi dạ nữa, từ thơ tự do, chạy sang sáu tám, một thể thơ cạm bẩy sẵn sàng
giết bất cứ anh hùng nào vừa bước vào đường phổ nhạc!!! Cũng được, thời thế tạo anh hùng, có cứng mới đứng đầu gió, ta sẽ đứng ở mũi tàu như kép chánh phim Titanic. Nhạc sẽ khai thác đọan thơ này thành câu đáp của đọan nhạc trước.

Người xuống thì ta sẽ cho nhạc xuống theo :
Con xuống tóc đi tìm Cha = Mi ré đô Si là Si, Con xuống tóc chẫm rãi, mỗi chữ một phách, Cha được kéo dài hai phách cho thật cảm động nhưng gió rừng thổi thì phải mạnh, nên chữ thoảng được đẩy lên tới nốt Mí và kéo dài hai phách rưởi và hợp với “hương say hoa rừng” thành một chuổi “Mí ré đô si Là” Trở về được chủ âm là thấy đời màu hồng rồi,
Nhưng cuộc đời TQL không phẳng lặng như mơ đâu. Tự nhiên người lại phọt thêm hai câu sáu tám nữa, trời đất ơi trời ơi :

Con về ngủ dưới gốc thông
Trong mơ hé nụ đóa hồng Vu Lan.

Cái này là vở nợ lớn. Đã trở về chủ âm rồi, bi chừ còn hai câu lòng thòng lục bát này thật là loạn to.

Thôi được, túng thì tính thôi.

Người đã triệt buộc thì ta đành chuyển từ La thứ, tức là La nho nhỏ sang La trưởng, tức là La to to, để chống chỏi tình thế nguy ngập này.
Bốn trường canh chót biến sang cung La trưởng để chuyên chở một hình ảnh bình an của người nằm an giấc (ngàn thu ") dưới cội thông già và mơ về nụ hồng, nụ hồng VU LAN.

Tran Quan Long
(Viết riêng tặng HDL, một đạo hữu không nghe được… cả âm nhạc )

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
LTS: Bài viết sau của cụ bà Đinh Thanh Trang kể về một số kinh nghiệm dùng thuốc Nam, thuốc ta chữa bệnh sau khi bệnh viện và thuốc Tây bế tắc
(Fasting For Physical Rejuvenation)       Mặc dù sự cần thiết của Nhịn Ăn đã được chúng tôi nói đến từ nhiều năm qua.Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết Nhịn Ăn cách nào"Có lợi ích gì"Có hại gì không"
1- “Sữa Ong Chúa” là gì" Giá trị dinh dưỡng và trị bệnh ra sao" Tiếng Anh của Sữa Ong Chúa là “Royal Jelly”.
Nói đến thịt thỏ, cần phân biệt 2 loại thịt thỏ nhà hay rabbit (lapin, theo tiếng Pháp) và thịt thỏ rừng hay hare (lièvre).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.