Hôm nay,  

Mừng Lễ Tạ Ơn

22/11/200500:00:00(Xem: 7507)
- Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là "Ngày Gà Tây" và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 40 triệu con gà Tây bị giết cho người dân Hoa Kỳ ăn mừng. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.

Theo tài liệu lịch sử Hoa Kỳ, những người tiền phong đến phần đất mới này, đã phải chịu nhiều gian nan cực nhọc, do khí hậu khắc nghiệt, bệnh hoạn và đất hoang chưa bao giờ khai phá. Với sự giúp đỡ chỉ bảo kinh nghiệm trồng hoa mầu của thổ dân trong vùng, họ đã khắc phục được mọi khó khăn.

Và để tỏ lòng biết ơn đất trời và những người bạn mới, họ đã mời thổ dân trong vùng tham dự bữa ăn với những món ăn do chính họ cầy cấy, như khoai lang, bắp ngô, bí đỏ và gà rừng vào một ngày cuối tháng Mười Một, và từ đó có tục lệ này.

Khởi từ câu chuyện chiếc tàu Mayflower. Tháng 09 năm 1620, một nhóm gồm 102 người, trong đó có 44 người thuộc giáo phái Separatist, tức nhóm ly khai Giáo Hội Anh Quốc Giáo, muốn tìm đất sống mới và có quyền tự do tín ngưỡng, đã lên chiếc tàu buồm Mayflower rời cảng Plymouth ở Anh, vượt Đại Tây Dương sang Bắc Mỹ.

Sau cuộc hành trình vất vả dài 65 ngày, tàu Mayflower không đến được nơi dự tính là vùng Virginia mà bị gió bão trôi giạt lên phía Bắc, đến một vùng ngày nay thuộc tiểu bang Massachusetts vào tháng 11 năm 1620. Nhóm di dân này được gọi là Pilgrims, đã trở thành những người đầu tiên định cư trên đất Mỹ, lập ra thành phố New Plymouth ngày nay. Do không chịu nổi đói và rét của mùa Đông lạnh giá đầu tiên nơi vùng đất mới, phân nửa những người di dân đã chết. Tới mùa Xuân năm sau, 1621 họ mới liên lạc được với thổ dân da đỏ Wampanoag và được những người thổ dân này giúp đỡ trong vấn đề trồng hoa mầu, cách bắt cá và săn thú rừng và họ đã gặt hái được kết quả.

Sau đó, những người di dân sống sót quyết định làm lễ tạ ơn Trời Đất và tạ ơn những người bản xứ da đỏ đã giúp đỡ họ vì họ tin rằng nếu không có những người dân tốt bụng này thì họ không thể tồn tại được qua năm đó. Và đây là sự kiện khởi đầu cho truyền thống Thanksgiving của Hoa Kỳ và truyền thống này còn mãi đến ngày nay.

Hơn 100 năm sau, với mục đích tạo dựng tinh thần đoàn kết giữa các người di dân chống lại ngoại xâm, tháng 10 năm 1789, tổng thống Washington đã công bố ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày 26 tháng 11. Điều nầy xác định được tính chất đặc thù của ngày lễ Tạ Ơn trong khi dân Mỹ đang phát động cuộc cách mạng để giải phóng dân tộc ra khỏi sự đô hộ của Anh quốc.

Vào những năm 1830, khi tình hình nước Mỹ bắt đầu bị chia rẽ, và các tiểu bang Miền Nam đòi ly khai, tổng thống Lincoln tuyên bố chọn ngày Thứ Năm của tuần lễ cuối tháng 11 năm 1863, làm ngày lễ Tạ Ơn, nhằm tạo nên tình đoàn kết dân tộc trong lúc cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ đang vào thời kỳ tương tàn và ác liệt nhất. Ông nhận thức được tầm quan trọng của ngày lễ Tạ Ơn, và cũng muốn nhắc nhở dân Mỹ nhớ đến công ơn của những người di dân đầu tiên đã xây dựng nên nước Mỹ.

Không dựa theo một tôn giáo nào, lễ Tạ Ơn trải qua gần 400 năm đã trở thành ngày hội của cả quốc gia, cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo mặc.

Truyền thống lễ Tạ Ơn của người Hoa Kỳ rất đẹp, không mang tính chất chính trị, không dành riêng cho một tôn giáo hay để tưởng niệm một cá nhân nào. Nó là ngày lễ cho tất cả các dân tộc có mặt trên nước Mỹ, vốn là những người di dân, để họ bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với đất nước, dân tộc, văn hoá và nền tự do dân chủ của Hoa Kỳ.

Ngày lễ Tạ Ơn giúp người di dân có cơ hội nói lên lòng biết ơn đến các bậc tiền nhân và những sự hy sinh của những người có công xây dựng đất nước. Ý nghĩa ngày lễ này gắn liền với lòng biết ơn của con người, nên rất đáng được chúng ta, những người di cư đến sau, trân quý và áp dụng. Trong giai đoạn đầu tiên định cư nơi xứ sở này, chúng ta cũng gặp vô vàn khó khăn, nhưng cuối cùng dân tộc Hoa Kỳ và đất nước này, đã giúp chúng ta vượt qua mọi trở ngại và chúng ta đã thành công, không có mùa màng nhưng được công ăn việc làm tốt, buôn bán thịnh vượng phát đạt, từ tiểu thương bán lẻ, từ làm móng tay, làm tóc đến buôn bán nhà cửa và thị trường chứng khoán. Vì thế chúng ta rất nên tổ chức lễ Tạ Ơn, sum họp gia đình, tùy theo tôn giáo của mình.

Với đạo Phật, lễ Tạ Ơn cũng không ngoài tinh thần lễ Tứ Ân mà người con Phật phải luôn luôn nhớ tưởng và báo đền. Theo kinh Tâm Địa Quán, bốn ơn đó là: ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc gia-xã hội, và ơn Tam Bảo.

Trong bốn ơn thì Ơn Cha Mẹ là ơn đứng hàng đầu, lớn lao sâu rộng tựa như trời biển. Chúng ta ra đời, lớn khôn, trưởng thành rồi góp mặt với xã hội là do công ơn cha mẹ sinh thành và nuôi dưỡng. Từ lúc bé thơ cho đến khi thành người, cha mẹ đã tốn không biết bao nhiêu là công sức, khổ nhọc để cho ta nên người. Cha mẹ đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt trong cuộc sống để cho ta hưởng trọn được những gì tốt đẹp nhất trong đời. Lòng hy sinh của cha mẹ dành cho con không bờ bến. Cho nên, bổn phận làm con không những phải nhớ ơn mà phải biết báo đền công ơn dưỡng dục và sanh thành của cha mẹ.

Thông thường chúng ta chỉ lo cho cha mẹ phần vật chất như cơm ăn, áo mặc, món ngon vật lạ, chăn ấm, nệm êm, nhà cao, cửa rộng, và không làm những việc để cha mẹ phải mang tiếng xấu hay không vui. Nhưng theo đạo Phật, như thế vẫn chưa đủ. Vậy bằng cách nào chúng ta có thể báo đền xứng đáng công ơn lớn lao đó.

Đức Phật dạy, chúng ta không những báo hiếu cha mẹ phần vật chất mà phải báo hiếu cả về phần tâm linh. Bởi vì việc nuôi dưỡng vật chất chỉ báo đáp công ơn cha mẹ trong cuộc đời nầy, còn báo đáp về phần tâm linh là hướng dẫn cha mẹ về con đường giải thoát, bỏ ác làm lành, tự thanh tịnh tâm ý, tức là bỏ con đường vô minh u tối và hướng đến ánh sáng trí tuệ.

Nếu cha mẹ không có lòng tin thì hướng dẫn để cha mẹ có lòng tin vào Phật pháp, xa lìa hẳn ác pháp và sống trong thiện pháp. Nếu cha mẹ có lòng tham thì khuyến khích cha mẹ thực hành hạnh bố thí. Nếu cha mẹ có tâm ác thì khuyến khích cha mẹ thực hành hạnh từ bi. Có như thế thì việc báo đền ơn cha mẹ mới đầy đủ vẹn toàn.

Thế giới chúng ta đang sống là một sự kết hợp hài hòa giữa cái này và cái khác. Thiếu cỏ cây, đất nước, ánh sáng mặt trời, chúng ta khó có thể tồn tại, hay nếu sống được thì chúng ta cũng sẽ sống trong ốm đau bệnh tật và đời sống sẽ tẻ nhạt khi thiếu vắng tiếng chim hót lúc ban mai, thiếu hoa nở khi trời vào xuân, thiếu tiếng nước chảy róc rách của mạch nước từ hang đá, thiếu tiếng ào ạt liên tục của dòng thác tạo thành bản nhạc rừng vĩ đại. Và con người sẽ sống cô đơn khi thiếu đồng loại của mình, sẽ héo mòn mỗi ngày, rồi sẽ trở thành trơ trọi, mất sức sống.

Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới của sự tương tức tương nhập, trùng trùng duyên khởi, thế giới của “cái này có thì cái kia có, và cái này không thì cái kia cũng không”. Thế giới chúng ta đang sống là thế giới của nợ nần nhau, của trả vay, vay trả nhiều đời. Chính tấm thân của chúng ta cũng là một sự vay mượn, tâm thức của chúng ta là một dòng luân lưu của ý thức từ nhiều người khác nhau, của ngoại cảnh và nội giới.

Suy nghĩ và hiểu được như vậy, chúng ta mới biết được rằng dù hiện tại, chúng ta và những sinh thể khác không biết nhau, nhưng trong quá khứ có thể đã có nhiều liên hệ mật thiết với nhau. Hiểu được như thế thì chúng ta không thể không nghĩ đến nỗi thống khổ của người khác, hay nhân rộng ra là những sinh thể khác.

Chúng ta cần phải cân nhắc trong ý nghĩ và hành động để không làm hại người, hại vật và hại mình là chúng ta đã biết được cách tri ân và báo ân giữa người và người, giữa người và môi trường xung quanh, để tạo nên một thế giới loài người sống có hòa ái. Phát tâm như vậy, chính là suối nguồn của tri ơn và báo ơn đến với chúng sanh.

Con người sinh ra và sống ở đời là đã chịu rất nhiều những ơn huệ của nhau. Ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn mưa, ơn nắng, ơn cỏ cây hoa lá và Ơn Quốc Gia Xã Hội, ơn những người đã dày công lập quốc và mở mang bờ cõi, ơn công lao những lòng dũng cảm giữ gìn an ninh và những nhà khoa học, miệt mài nghiên cứu tìm tòi để thăng tiến cuộc sống tiện ích cho mọi người.

Chúng ta nhớ ơn chúng sinh, nhớ ơn quốc gia xã hội, trong đó bao gồm ơn dân tộc và quốc gia đã cưu mang chúng ta, đã cho chúng ta thừa hưởng những di sản tinh thần quý báu như dân chủ và tự do, cùng là những tiện nghi công cộng vật chất. Khi ăn hột bắp hay hạt gạo chúng ta còn nhớ đến người cấy trồng huống hồ khi chúng ta lái xe an toàn trên xa lộ, bay trên không trung an lành nhanh chóng, hay đi tầu thuyền trên các hải lộ, mà không nhớ đến tiền thuế đóng góp của những thế hệ trước chúng ta đã tạo dựng nên quốc gia này.

Mỗi người chúng ta dù muốn dù không cũng cần đến người khác, tất cả đều có liên hệ hỗ tương với nhau, nên chúng ta phải sống với tấm lòng biết ơn lẫn nhau.

Và cuối cùng trong bốn ơn là Ơn Tam Bảo. Ơn Phật, ơn Pháp và ơn Tăng đã soi đường dẫn dắt chúng ta vượt thoát phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi. Quả thật không có nỗi khổ nào lớn lao bằng nỗi khổ cứ thăng trầm ngụp lặn mãi trong luân hồi sinh tử. Đức Phật đã thấy như thế và Ngài đã tìm ra con đường giải thoát để hướng dẫn chúng ta cũng được giải thoát như Ngài. Ngài đã từ bi phương tiện giáo hóa, mở nhiều cánh cửa để chúng ta gieo trồng thiện căn, phúc đức. Sở dĩ, hôm nay chúng ta gặp được Phật pháp, để biết được đâu là thiện căn đã gieo trồng từ trước và đâu là ác nghiệp, nếu gây ra sẽ nhận lãnh quả báo xấu trong tương lai. Tất cả những hiểu biết ấy của chúng ta hôm nay là từ Phật, Pháp và Tăng truyền dạy lại. Đó là ơn Tam Bảo mà chúng ta phải biết và phải đền đáp.

Ngày lễ Tạ Ơn đã trở thành một ngày lễ được dân Mỹ tôn trọng nhiều nhất, bất kể tôn giáo và nguồn gốc dân tộc. Qua đó, người ta xem sự biết cảm ơn lòng tốt của người xung quanh là điều không thể thiếu vắng trong sinh hoạt xã hội. Với cái nhìn sâu rộng, người ta muốn mang trọn vẹn ý nghĩa cảm tạ vào trong mùa Thanksgiving. Nó không đơn giản chỉ là một ngày quốc lễ, mà là một phần của nền văn hoá Hoa Kỳ.

Có lẽ ngày lễ Tạ Ơn là cơ hội thuận tiện cho chúng ta bày tỏ lòng biết ơn nhau, không chỉ riêng với đấng thiêng liêng tôn giáo, với Tứ Ân trong Phật Giáo, mà với mọi người thân như: cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn bè, tình nhân và những người gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày. Nếu được, hãy trao nhau một món quà nho nhỏ, hay chỉ một câu nói cám ơn chân tình qua tấm thiệp hay email để biểu lộ tấm lòng nhớ nhau và biết ơn nhau. Những nghĩa cử cao đẹp này sẽ mang lại hạnh phúc và niềm vui trong cuộc sống cho mọi người quanh ta.

Chúng ta ăn mừng lễ Tạ Ơn trong tinh thần lễ Tứ Ân, trong niềm hân hoan vui mừng thành đạt sau một năm trời làm việc hăng say, học hành tấn tới, buôn bán mệt nhọc.

Nhân dịp Thanksgiving, ban biên tập chúng tôi xin chân thành cảm tạ quý độc giả đã gửi thư góp ý và thăm viếng Thư Viện Hoa Sen và chúng tôi cũng không quên cảm tạ quý Thầy Cô cùng quý Phật tử khắp nơi trên thế giới đã đánh máy kinh sách, bài vở và góp công sức tạo dựng nên website Thư Viện Hoa Sen. Kính gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ Tạ Ơn tràn đầy an lạc và hạnh phúc.

Tâm Diệu

Thay mặt Ban Biên Tập

http://www.thuvienhoasen.org

Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Cho đến khi mất đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện… [Trần Vũ]
LTS: Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân vừa tạ thế tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 2026. Việt Báo xin đăng lại bài phỏng vấn do Olivier Vece và Benjamin Fayet thực hiện cho nhị nguyệt san quân sử Guerres & Histoire của Pháp, bản Việt ngữ do Trần Vũ chuyển dịch, như một lời tiễn biệt Ông.
Theo bản tin của PolitiFact, đăng lại trong mục Thế giới ngày 7 tháng 3 năm 2026 trên PBS, chỉ ít ngày sau khi phát động chiến tranh với Iran, Tổng thống Donald Trump đã đem nỗ lực của ông nhằm triệt hạ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran ra so sánh một cách thuận lợi với thỏa ước hạt nhân năm 2015 do một vị tiền nhiệm của ông thương thuyết. Thỏa ước hạt nhân dưới thời Tổng thống Barack Obama còn hiệu lực cho tới năm 2018, khi Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi đó trong nhiệm kỳ đầu của mình.
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.