Hôm nay,  

Đẹp

03/09/200200:00:00(Xem: 7823)
Sự ra đi bất thần, và bi thảm của nàng công chúa mang bóng dáng cái chết ngay trong tên của mình, Di, đang làm cả thế giới bàng hoàng, xúc động.
"Nàng là cái đẹp, một phản đề của cái chết", death's antithesis, Roger Rosenblatt viết, trong bài essay trên tờ Time.
"Cái đẹp không chỉ có một vị trí đặc biệt, để tôn vinh, nhưng còn là một cái gì trường cửu, như thể đây là một thí dụ, cho thấy ý hướng của thiên nhiên muốn hoàn hảo chính nó. Như thể cái đẹp, khi đã được hoàn thành, là thiên thu, vĩnh viễn."
Nhưng thế giới không chỉ nhìn nàng như một nhan sắc, mà còn của thiện tâm, của tình thương yêu đồng loại. "Diana biết mọi người thích ngắm nàng, và nàng nghĩ, tốt nhất là mình hãy đứng kế bên, những gì mà mọi người "thích" ngắm: những đứa trẻ cần sự giúp đỡ, những bãi mìn... (Time).
Nữ tài tử Audrey Hepburn, vị đại sứ của UNICEF, trong lần tới Bosnia, đã nói về những nấm mồ tập thể - những biểu hiện rõ rệt nhất từ trên phi cơ nhìn xuống - và âm thanh/ cuồng nộ "của sự im lặng", ở nơi những đứa trẻ. Audrey "thú nhận", bà có một "món nợ" cần phải trả, như là một nạn nhân sống sót từ trại tập trung.
Trường hợp Diana, ngón tay vương giả (royal touch) muốn giản dị chỉ là ngón tay dân giả (common touch). Khi phải chọn một tấm hình, đăng kèm bài phỏng vấn của một ký giả, chỉ 4 ngày trước khi chết, Diana đã chọn tấm hình nàng thích nhất, trong lần viếng thăm một nhà thương ở Lahore, Pakistan. Và Diana đã không thể nào rời mắt khỏi một em bé bệnh nhân. "Không biết sao, nhưng tôi hiểu là em sắp chết. Tôi nói với bà mẹ, xin bà cho tôi bế cháu một chút... Giọng em thật nhỏ nhoi, với chút buồn phiền: "Đừng dỡn chơi, với tôi." Chúa ơi, làm sao tôi có thể làm một chuyện như vậy, dỡn chơi trên nỗi đau khổ của một em bé. Tôi như nghẹn lời. Nhưng em bé không còn nhìn thấy, kể cả cái đẹp, cái xấu, sự dỡn chơi. Em đã mù, vì chứng liệt não. Em chết liền sau đó. Tôi không thể nào quên được em." (Diana, Princess of Wales Feb 22, 97).
Trong một chuyện thần tiên chúng ta đọc hồi nhỏ, có một nàng công chúa, nhỏ xíu, và một hạt đậu nhỏ xíu, ở bên dưới mấy chục tấm nệm giường. Nàng công chúa đêm đó đã không ngủ được. Đây là cách người dân giả "thử" cô, coi có thật là công chúa không.

Nữ tài tử Audrey Hepburn đã từng đóng vai công chúa, trong một phim tuyệt vời, Nghỉ Hè ở La Mã. Cô công chúa trong phim, cuối cùng phải trở về hoàng cung, cùng với "căn cước" của cô. Với Diana, nàng đã từng cố gắng làm một chuyện không thể: kéo hoàng gia xuống đường, nhập vào đám đông, sung sướng được chia sẻ nỗi đau, niềm vui của từng người, của mọi người, thay vì làm một ông bình vôi. Nhưng nàng đã thất bại. Hạt đậu nhỏ xíu đó, có thật, và nằm ở trong trái tim của nàng. Khi đi thăm một chỗ trú ẩn, cho những con người vô gia cư, nàng bị chỉ trích, "làm phiền" chính quyền Tory. Đi thăm bệnh nhân AIDS: Tỏ ra "dễ dãi", với sự "vô đạo đức". Đi thăm một bệnh viện Phi châu: Đỏng đảnh. Một bệnh viện khác ở Pakistan: Bị bà thủ tướng Bhutto buộc tội, giúp đỡ thành phần đối lập. Nhưng "ghê gớm" nhất, là chuyến Diana viếng thăm Angola, hồi đầu năm, do Hội Hồng Thập Tự tổ chức, nhằm "lay động" lương tâm nhân loại, trước 70 ngàn nạn nhân của những trái mìn, tại đây. Diana đã đi qua bãi mìn, "trực tiếp" theo dõi những vụ gỡ, phá mìn... trong hy vọng loài người sẽ không chế tạo những đồ chơi nguy hiểm như thế nữa. Chính quyền Tory đã phát khùng vì những tấm hình này. "Đúng là một chuyện không tưởng." "Vấn đề quá lớn lao, so với bộ não của một con chim nhỏ bé". Diana đã không giấu diếm, sự mừng rỡ, khi chính quyền Labor đã hưởng ứng việc "dẹp" chế tạo mìn. Đây là một thành quả lớn lao. "Tôi hy vọng chúng ta sẽ thuyết phục Hoa Kỳ, trong cuộc họp tại Ottawa vào tháng Chạp năm nay." Mới đây, một viên tướng Mỹ cũng lên tiếng, đại khái, mìn, vốn mù, không phân biệt được nạn nhân của nó. Và mìn Mỹ giết lính Mỹ, nhiều hơn là giết địch quân!

"Báo chí thật là ác độc. Nó chẳng tha thứ cho ai. Nó bới lông tìm vết. Bất cứ một ý hướng nào cũng bị làm cho méo mó. Bất cứ cử động nào cũng bị chỉ trích. Ở bên ngoài tôi được đối xử khác, với sự ưu ái. Tôi được mọi người chấp nhận, như tôi là, không thiên kiến, không soi mói, chỉ chờ tôi hụt chân. Ở Anh, mọi chuyện khác hẳn. Tôi nghĩ, ở vào địa vị tôi, một con người bình thường, không trục trặc cái đầu, đã bỏ đi từ lâu. Nhưng tôi không thể. Tôi còn con của tôi. Và tôi phải nghĩ tới điều đó". Trong nhiều năm, Diana cảm thấy, nàng đã học được một điều, đó là "vờ đi", sự chỉ trích. "Trớ trêu là, chính nó đã đem đến cho tôi, một sức mạnh, mà tôi chưa từng nghĩ rằng, tôi có được. Nói như vậy, không có nghĩa là nó hết làm tôi đau đớn, thương tổn. Ngược lại. Nhưng nó quả đã đem đến cho tôi sức mạnh, để đi trọn con đường, mà tôi đã chọn lựa cho tôi... Ở đây, có vẻ chi đó của định mệnh: Tôi sẽ chạy tới bất cứ người nào, đang trong cơn tuyệt vọng, và người đó gọi tôi, cho dù người đó ở mãi đâu đâu."

Diana tuổi Sửu. Năm nay là năm tuổi của nàng. Tuổi con trâu vốn cực, và thường hay chọn "lầm" người. Trong Liêu Trai, của Bồ Tùng Linh, có chuyện một nhan sắc, làm nghề cầm ca. Nàng không chọn lầm người, nhưng lầm nơi. Một bữa, có một ông khách tới nghe nàng hát. Ông than: Ôi chao, nhan sắc này, tiếng hát này, uổng thật! Thế rồi ông dí nhẹ ngón tay lên trán người đẹp. Vết chàm, từ ngón tay cứ thế lan ra khắp mặt. Nhờ vậy, danh sĩ nghèo, người yêu của nàng mới có cơ hội kéo nàng ra khỏi chốn bùn lầy. Một bữa, người chồng tình cờ gặp ông khách. Ông hỏi thăm về người đẹp. Anh nói, có chồng rồi. Chồng ra sao. Cũng xoàng thôi. Xoàng cỡ nào. Cỡ tui. Ông khách cười xòa, đưa anh chồng một gói mỹ phẩm "Noevir". Xoa tới đâu, nhan sắc xưa lộ ra tới đó. Ra lạy tạ, ông khách đã bỏ đi...
Jennifer Tran
(Bài viết ngay sau khi Di mất - http://www.saomai.org/~tinvan/unicode/index.html )

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.
Trong hơn hai thế kỷ qua, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã “trưởng thành” cùng đất nước thông qua các tu chính án. Những sửa đổi mang tính lịch sử như Tu Chính Án 13 (xóa bỏ chế độ nô lệ) hay Tu Chính Án 19 (mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ) là minh chứng rõ ràng cho tinh thần ấy: Hiến Pháp không phải là những điều bất biến, mà là một công trình luôn phát triển cùng thời đại.
Năm 1978, Hồng y Karol Józef Wojtyla, Tổng Giám mục Kraków của Ba Lan, được bầu làm giáo hoàng (John Paul II, Gioan Phaolô II). Năm 1980, thi sĩ Czesław Miłosz, giáo sư gốc Ba Lan tại Đại học Berkeley, được trao giải Nobel Văn chương, là người đầu tiên của trường nhận giải Nobel không phải trong lãnh vực khoa học và ông có những quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó tôi chú ý đến đất nước Ba Lan nhiều hơn, nhất là chuyến trở về quê hương lần đầu tiên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, vợ chồng sắp bay sang Ý dự đám cưới con gái vào ngày 12. Sáng ấy, ông vẫn dậy 4 giờ rưỡi, tắm, hát điệu music-hall, mặc bộ pin-stripe xanh đậm – ông bắt nhân viên an ninh mang áo cà vạt mỗi ngày; nhiều người khó, ông tự móc tiền mua cho. 8 giờ 15 như lệ, gọi cho Susan. Nửa giờ sau, Susan đang nói chuyện với con thì đầu dây khác reo: “Mở tivi lên!” Tháp phía bắc bốc khói. Bà gọi văn phòng chồng; đồng nghiệp bảo: “Rick đang ngoài hành lang, cầm loa, đưa mọi người ra.” Ở Florida, Dan Hill xem tivi thì điện thoại reo: Rick gọi từ di động. “Tôi đang sơ tán.” Hill nghe ông dùng loa, giọng bình tĩnh, rồi bật hát bài “Men of Harlech”: “Đứng vững, người Cornwall ơi… đừng bao giờ chịu khuất.” Rick nói thêm: Ban quản trị toà nhà bảo ở yên. “Tôi bảo hắn cút đi,” Rick nói. “Những tầng trên điểm trúng sẽ sập, kéo cả nhà xuống. Tôi đưa người của tôi ra.” Vài phút sau, máy bay thứ hai ngoặt trái lao vào tháp nam. Susan bấm gọi; không ai bắt máy...
Về mặt pháp lý và hình sự ở châu Âu, hiện nay không có một Tòa án Hình sự duy nhất nào có thẩm quyền chung cho toàn châu Âu như kiểu “Tòa án Tối cao Hình sự châu Âu”. Tuy nhiên, có một số cơ quan và tòa án có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định có liên quan đến hình sự chung cho châu Âu. European Union Agency for Criminal Justice Cooperation, EUROJUST không phải là tòa án mà là cơ quan hợp tác tư pháp hình sự của Liên minh châu Âu, có chức năng hỗ trợ và điều phối hợp tác điều tra và truy tố hình sự xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên. Các tội phạm xuyên quốc gia là khủng bố, buôn ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng... Cơ quan này có trụ sở đặt tại The Hague, Hà Lan.
Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.