Hôm nay,  

Ân Sủng

05/04/200300:00:00(Xem: 6010)
Từ nhỏ tôi ưa la cà khắp xóm, kết bạn với đám trẻ con nhà nghèo. Tôi nhớ mãi một người bạn con lai Tây, mẹ đi ở đợ để nuôi con học trường Tây. Năm nào người bạn này cũng phải xin học bổng vì gia cảnh quá nghèo. Đến năm cuối của cấp tiểu học anh bạn này phải bỏ ngang vì nhà trường ngưng không cấp học bổng.

Tôi có một anh bạn khác có tật ăn cắp. Anh lớn lên trong cảnh gia đình túng quẫn nên ăn cắp đã thành cá tính, không bỏ được. Anh chỉ ăn cắp những cái cỏn con, nho nhỏ và lấy làm sung sướng. Có lần hai đứa rủ nhau đi mua chanh để làm nước giải khát. Tôi sửng sốt khi thấy anh mua chỉ một trái rồi trong khi bà bán hàng đang loay hoay thối tiền, anh thuổng thêm một trái nữa thành hai. Thấy tôi trố mắt nhìn, anh cười bẽn lẽn. Điểm đặc biệt của anh bạn này là rất rộng lươ.ng. Anh ăn cắp về rồi chia sẻ hết với bạn bè, chẳng giữ gì làm của riêng.

Ngược lại, trong trường tôi học cũng có mấy anh bạn con nhà giầu su.. Có chàng ở nhà vila ngay tại Sàigòn mà có cả một vườn cỏ rộng lớn thả ngựa. Khi cả nước đang khói lửa chiến tranh thì chiều chiều chàng cưỡi ngựa rong chơi. Trong nhà có hồ bơi, có rạp chiếu xi-nê nhỏ cho riêng gia đình xem. Gia nhân, lính gác, tài xế, đầu bếp lên đến hàng chục người. Tôi ít giao du với mấy người bạn như vậy. Chẳng phải vì họ xấu mà vì tôi thấy nơi họ không có gì hấp dẫn để tìm hiểu. Hình như sự dư thừa vật chất làm cho tâm hồn con người ta nghèo nàn đi thì phải.

Những kinh nghiệm ấu thời này lưu lại ấn tượng sâu đậm nơi tôi. Lớn lên tôi chỉ thích giao du với những con người khốn khó vì họ có những kinh nghiệm sống phong phú để tìm hiểu.

Rồi năm 1988, tôi tình cờ bước chân vào cuộc tranh đấu cho thuyền nhân. Chân ướt chân ráo, lúc ấy tôi nào ngờ là công việc sẽ kéo dài đến đúng một chục năm. Và lại càng không ngờ là một chục năm ấy là một chục năm ân sủng hiếm hoi.

Tôi gọi là ân sủng vì thời gian ấy tôi được sống trong một thế giới kỳ diệu, kết lại từ hàng ngàn cuộc đời khác nhau.

Năm 1988 cả thế giới, dẫn đầu là Hoa Kỳ, quay lưng lại với thuyền nhân. Các quốc gia tạm dung vàcác quốc gia định cư quyết tâm dứt điểm làn sóng người Việt vượt biển. Họ đặt ra tiến trình thanh lọc, mà cuối cùng trở thành một trò vờ vĩnh dùng để loại trừ mọi người tị nạn và xua đuổi họ về Việt Nam.

Cùng với một vài người bạn trẻ khác, cả Mỹ cả Việt, tôi lập ra chương trình gởi luật sư đến các trại. Quốc tế dùng pháp lý thì mình đối chọi lại bằng pháp lý, trực diện và tháu cáy.

Trong nhiều chuyến hướng dẫn các phái đoàn luật sư đến trại tạm dung, tôi bắt tay lập hồ sơ. Vì đây là hồ sơ xin tị nạn, tôi phải hỏi han tỉ mỉ từng chi tiết trong cuộc đời của người đối diện. Sau đó phải viết lại cho có lớp lang. Nhiều lúc khám phá ra những điểm có vẻ bất nhất, tôi lại phải phỏng vấn đi phỏng vấn lại cho đến khi hiểu cặn kẽ và thoả đáng. Khi hoàn tất hồ sơ, tôi thuộc lòng cả cuộc đời của đương sự, với những ngã rẽ, những lau sậy, những sông ngòi, những đường mương cuộc đời. Bỗng dưng, con người ấy không phải chỉ là xác thịt mà trở thành một vũ trụ với những chiều sâu thăm thẳm, những ngõ ngách trùng điệp.

Tôi thấy tấm áo trên lưng người đối diện không phải chỉ là vải đã bạc mầu. Mà tấm áo ấy người vợ hiền đã dành dụm tiền mua, ủi và xếp ngay ngắn cho chồng đem theo ngày đi vượt biên. Những sợi chỉ sơ vì tháng năm đã từng dệt mộng ước của vợ con ở lại. Những mộng ước ấy đang phai dần với mầu áo.

Và trên khuôn mặt nhầu nát của người ngồi đối diện, tôi thấy được vết hằn của sự chờ đợi mỏi mòn và ứa lên nỗi tuyệt vọng với ngày tháng trôi qua. Qua giọng nói, tôi nghe được tiếng thoi thóp của niềm hy vọng đang ở phút lâm chung. Qua từng cử chỉ, tôi cảm nhận được sự giằng co nội tâm, bên này bảo thôi thì phó thác cho số phận còn bên kia nói hãy giữ lấy niềm tin, hãy chiến đấu đến cùng cho vợ con còn ở lại.

Như người lần đầu tiên mở mắt, tôi sực thấy cả một thế giới kỳ bí, hồn hậu, đậm mầu.

Và có những giây phút, tôi cảm giác như mình hoà nhập hẳn vào cuộc sống của người đối diện. Vuị với niềm vui của người ấy. Buồn với nỗi buồn của người ấy. Có lần, tôi choáng váng và rùng mình khi, chỉ trong một tích tắc, trào lên trong lòng cảm xúc tái tê từ những trang hồ sơ đang cầm trên tay. Làm như một luồng khí từ những trang giấy truyền qua tay đến khắp thân thể, rồi vỡ ồ ra thành trăm ngàn mảnh tình cảm ngổn ngang. Như bị điện giật, phải mấy phút sau mới thật sự hoàn hồn.

Có vài người thắc mắc, lý do nào làm tôi đeo đuổi công việc mười năm. Đơn giản lắm, tôi không thể bỏ cuộc vì đời sống của hàng ngàn con người mà tôi biết rất rõ đã trở thành đời sống của riêng tôi.

Vào những ngày tàn của vấn đề thuyền nhân, tôi có dịp nhìn lại mười năm đã qua. Tôi thấy trong mình mang dấu ấn của một ngàn cuộc sống khác nhau. Những cuộc sống mà lẽ ra là những thửa đất rào khép, cấm kỵ, vì tình cờ tôi may mắn được bước vào để hiểu, để cảm, để sống. Các thuyền nhân đã cho tôi một ân sủng hiếm ai trên thế gian này có được. Họ không biết đó, tôi là người cám ơn ho..

Thuở nhỏ khi còn la cà từ đầu phố đến cuối xóm, có khi nào tôi ngờ được là lớn lên tôi có cơ hội la cà trên cả một vùng thế giới. Có khi nào cậu bé ưa tìm hiểu những người bạn nhỏ nhà nghèo lớn lên lại được may mắn hoà nhập vào với hàng ngàn thế giới của những con người khốn cùng, để cùng với họ nuôi dưỡng hy vọng, niềm tin, và ngọn lửa tranh đấu.

Cách đây mấy năm, một cô bạn nhỏ hỏi tôi lần đầu gặp gỡ: "Vì sao anh làm điều anh đang làm" Và anh chỉ có 30 giây để trả lời thôi đấy."

"Mỗi người sinh ra chỉ có một cuộc sống. Nhưng nếu muốn, chúng ta ai cũng có thể chọn sống một ngàn cuộc đời. Tôi làm chuyện này vì nó cho tôi sống rất nhiều cuộc sống cùng một lúc, mỗi ngày."

Tôi không hiểu cô bạn nhỏ ấy có hiểu gì không hay nghĩ rằng tôi đang mê sảng.
(Trích Mạch Sống, Tháng 3, 2003)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đọc lịch sử, ta thấy bất cứ dòng họ vua chúa nước nào cũng thường trải qua một thời hưng thịnh ban đầu rồi dần dần suy tàn, nhường chỗ cho một triều đại mới. Những kẻ cướp ngôi hầu hết đều thuộc hạng bề tôi đã gây được thế lực đủ mạnh để lấn lướt nhà vua...
Dọc đường tôi đi bộ bên bờ kênh Delaware và Raritan, khoảng cuối tháng Tư có loại hoa màu tím nhạt nở từng chùm treo lúc lỉu trên những cành cây; thấp thì sà xuống mặt nước, cao thì cách mặt đất chừng chục mét. Hoa thuộc loại dây leo, nở lâu sắp tàn thì màu tím nhạt dần rồi biến thành màu trắng; khi chưa nở, nụ hoa trông giống như những hạt đậu màu tím. Có lẽ vì thế người ta gọi là cây đậu tía. Hoa còn có tên khác, đẹp hơn. Hoa Tử Đằng. Có người giải thích, Tử là màu tím; Đằng là chữ dùng chung cho loại dây leo.
Đó là một buổi sáng thứ Hai băng giá ở Matxcơva. Bên trong Viện Văn hóa Nhà nước của thành phố, Yuri Kot quyết tâm khơi ngọn lửa trong lớp. “Là người Nga nghĩa là gì?” ông gầm lên, nghiêng người về phía trước và nhìn chằm chằm vào các sinh viên. Kot – một người đàn ông 47 tuổi tóc vàng, trông giống một con gấu với những tuyên truyền yêu nước đã khiến ông trở thành khách mời nổi tiếng trên các chương trình truyền hình Nga – là trưởng khoa báo chí của học viện này.
Tìm được một nụ cười trên môi một người VN lưu vong vào tháng 4 hàng năm không dễ dàng. Cả 30 ngày của tháng tư, "những ngày mây xám giăng trên đỉnh trời", hình ảnh những người đã bỏ mình cho 20 năm tự do của miền Nam, những người mãi mãi nằm lại dưới đáy đại dương , không đặt chân được bến bờ tự do hiện về trong ký ức của chúng tôi rõ mồn một như mới hôm qua.
Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership -- Six Studies in Wold Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành năm 2022, (trang 149-63). Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này. Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young có phát hiện một sự thật khác: Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại.
Một quy hoạch vùng cho hệ thống cao tốc đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước đã được phê duyệt, thực ra công trình giao thông này đã đến với dân chậm mất vài thập niên vì quy hoạch này đã sớm phải là một trong những ưu tiên cao nhất quốc gia...
Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.
✱ ĐS Martin: Tôi nói, tôi có cảm giác rằng nếu ông không có quyết định sớm, các tướng lãnh của ông sẽ yêu cầu ông ra đi - tôi đoán là ông ta sẽ sớm ra đi bằng cách này hay cách khác. Nếu các tướng lãnh của ông ta cho thêm vài ngày nữa - và rằng nếu ông không hành động sớm, các sự kiện sẽ ập đến với ông. ✱TT Thiệu: Cái bản văn hiệp định đó là bản văn hiệp định Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho cộng sản – tôi nói với ông Ngoại trưởng Kissinger lúc đó nếu như ông chấp nhận bản hiệp vì lý do riêng tư tôi không biết, nể nang nhau, đổi chác nhau, đem quyền lợi sinh mạng của dân tộc miền Nam này ra bán – chớ tôi là người Việt Nam, tôi không chấp nhận - Nếu tôi không có thiện chí đàm phán thì làm sao hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 được ký kết? Mặc dù thỏa thuận đó là một thỏa thuận què quặt, tôi phải chấp nhận nó. ✱ TT Thiệu: Người Mỹ... thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường...
Rõ ràng là các gen của quý vị và vợ/chồng của quý vị sẽ xác định giới tính của con cái quý vị. Nhưng quý vị có biết rằng gen xác định giới tính mà quý vị truyền lại cho con cái có thể đã được truyền lại từ ông của chúng không?
Có phải bạn rất đỗi ngạc nhiên về tiêu đề của bài viết này? Có thể bạn nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó không ổn trong câu chuyện này, bởi vì lịch sử về cuộc đời của đức Phật xưa nay không hề thấy nói đến chuyện đức Phật đi tới Châu Âu và Châu Phi. Bạn nghĩ không sai.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.