Hôm nay,  

Ân Sủng

05/04/200300:00:00(Xem: 6805)
Từ nhỏ tôi ưa la cà khắp xóm, kết bạn với đám trẻ con nhà nghèo. Tôi nhớ mãi một người bạn con lai Tây, mẹ đi ở đợ để nuôi con học trường Tây. Năm nào người bạn này cũng phải xin học bổng vì gia cảnh quá nghèo. Đến năm cuối của cấp tiểu học anh bạn này phải bỏ ngang vì nhà trường ngưng không cấp học bổng.

Tôi có một anh bạn khác có tật ăn cắp. Anh lớn lên trong cảnh gia đình túng quẫn nên ăn cắp đã thành cá tính, không bỏ được. Anh chỉ ăn cắp những cái cỏn con, nho nhỏ và lấy làm sung sướng. Có lần hai đứa rủ nhau đi mua chanh để làm nước giải khát. Tôi sửng sốt khi thấy anh mua chỉ một trái rồi trong khi bà bán hàng đang loay hoay thối tiền, anh thuổng thêm một trái nữa thành hai. Thấy tôi trố mắt nhìn, anh cười bẽn lẽn. Điểm đặc biệt của anh bạn này là rất rộng lươ.ng. Anh ăn cắp về rồi chia sẻ hết với bạn bè, chẳng giữ gì làm của riêng.

Ngược lại, trong trường tôi học cũng có mấy anh bạn con nhà giầu su.. Có chàng ở nhà vila ngay tại Sàigòn mà có cả một vườn cỏ rộng lớn thả ngựa. Khi cả nước đang khói lửa chiến tranh thì chiều chiều chàng cưỡi ngựa rong chơi. Trong nhà có hồ bơi, có rạp chiếu xi-nê nhỏ cho riêng gia đình xem. Gia nhân, lính gác, tài xế, đầu bếp lên đến hàng chục người. Tôi ít giao du với mấy người bạn như vậy. Chẳng phải vì họ xấu mà vì tôi thấy nơi họ không có gì hấp dẫn để tìm hiểu. Hình như sự dư thừa vật chất làm cho tâm hồn con người ta nghèo nàn đi thì phải.

Những kinh nghiệm ấu thời này lưu lại ấn tượng sâu đậm nơi tôi. Lớn lên tôi chỉ thích giao du với những con người khốn khó vì họ có những kinh nghiệm sống phong phú để tìm hiểu.

Rồi năm 1988, tôi tình cờ bước chân vào cuộc tranh đấu cho thuyền nhân. Chân ướt chân ráo, lúc ấy tôi nào ngờ là công việc sẽ kéo dài đến đúng một chục năm. Và lại càng không ngờ là một chục năm ấy là một chục năm ân sủng hiếm hoi.

Tôi gọi là ân sủng vì thời gian ấy tôi được sống trong một thế giới kỳ diệu, kết lại từ hàng ngàn cuộc đời khác nhau.

Năm 1988 cả thế giới, dẫn đầu là Hoa Kỳ, quay lưng lại với thuyền nhân. Các quốc gia tạm dung vàcác quốc gia định cư quyết tâm dứt điểm làn sóng người Việt vượt biển. Họ đặt ra tiến trình thanh lọc, mà cuối cùng trở thành một trò vờ vĩnh dùng để loại trừ mọi người tị nạn và xua đuổi họ về Việt Nam.

Cùng với một vài người bạn trẻ khác, cả Mỹ cả Việt, tôi lập ra chương trình gởi luật sư đến các trại. Quốc tế dùng pháp lý thì mình đối chọi lại bằng pháp lý, trực diện và tháu cáy.

Trong nhiều chuyến hướng dẫn các phái đoàn luật sư đến trại tạm dung, tôi bắt tay lập hồ sơ. Vì đây là hồ sơ xin tị nạn, tôi phải hỏi han tỉ mỉ từng chi tiết trong cuộc đời của người đối diện. Sau đó phải viết lại cho có lớp lang. Nhiều lúc khám phá ra những điểm có vẻ bất nhất, tôi lại phải phỏng vấn đi phỏng vấn lại cho đến khi hiểu cặn kẽ và thoả đáng. Khi hoàn tất hồ sơ, tôi thuộc lòng cả cuộc đời của đương sự, với những ngã rẽ, những lau sậy, những sông ngòi, những đường mương cuộc đời. Bỗng dưng, con người ấy không phải chỉ là xác thịt mà trở thành một vũ trụ với những chiều sâu thăm thẳm, những ngõ ngách trùng điệp.

Tôi thấy tấm áo trên lưng người đối diện không phải chỉ là vải đã bạc mầu. Mà tấm áo ấy người vợ hiền đã dành dụm tiền mua, ủi và xếp ngay ngắn cho chồng đem theo ngày đi vượt biên. Những sợi chỉ sơ vì tháng năm đã từng dệt mộng ước của vợ con ở lại. Những mộng ước ấy đang phai dần với mầu áo.

Và trên khuôn mặt nhầu nát của người ngồi đối diện, tôi thấy được vết hằn của sự chờ đợi mỏi mòn và ứa lên nỗi tuyệt vọng với ngày tháng trôi qua. Qua giọng nói, tôi nghe được tiếng thoi thóp của niềm hy vọng đang ở phút lâm chung. Qua từng cử chỉ, tôi cảm nhận được sự giằng co nội tâm, bên này bảo thôi thì phó thác cho số phận còn bên kia nói hãy giữ lấy niềm tin, hãy chiến đấu đến cùng cho vợ con còn ở lại.

Như người lần đầu tiên mở mắt, tôi sực thấy cả một thế giới kỳ bí, hồn hậu, đậm mầu.

Và có những giây phút, tôi cảm giác như mình hoà nhập hẳn vào cuộc sống của người đối diện. Vuị với niềm vui của người ấy. Buồn với nỗi buồn của người ấy. Có lần, tôi choáng váng và rùng mình khi, chỉ trong một tích tắc, trào lên trong lòng cảm xúc tái tê từ những trang hồ sơ đang cầm trên tay. Làm như một luồng khí từ những trang giấy truyền qua tay đến khắp thân thể, rồi vỡ ồ ra thành trăm ngàn mảnh tình cảm ngổn ngang. Như bị điện giật, phải mấy phút sau mới thật sự hoàn hồn.

Có vài người thắc mắc, lý do nào làm tôi đeo đuổi công việc mười năm. Đơn giản lắm, tôi không thể bỏ cuộc vì đời sống của hàng ngàn con người mà tôi biết rất rõ đã trở thành đời sống của riêng tôi.

Vào những ngày tàn của vấn đề thuyền nhân, tôi có dịp nhìn lại mười năm đã qua. Tôi thấy trong mình mang dấu ấn của một ngàn cuộc sống khác nhau. Những cuộc sống mà lẽ ra là những thửa đất rào khép, cấm kỵ, vì tình cờ tôi may mắn được bước vào để hiểu, để cảm, để sống. Các thuyền nhân đã cho tôi một ân sủng hiếm ai trên thế gian này có được. Họ không biết đó, tôi là người cám ơn ho..

Thuở nhỏ khi còn la cà từ đầu phố đến cuối xóm, có khi nào tôi ngờ được là lớn lên tôi có cơ hội la cà trên cả một vùng thế giới. Có khi nào cậu bé ưa tìm hiểu những người bạn nhỏ nhà nghèo lớn lên lại được may mắn hoà nhập vào với hàng ngàn thế giới của những con người khốn cùng, để cùng với họ nuôi dưỡng hy vọng, niềm tin, và ngọn lửa tranh đấu.

Cách đây mấy năm, một cô bạn nhỏ hỏi tôi lần đầu gặp gỡ: "Vì sao anh làm điều anh đang làm" Và anh chỉ có 30 giây để trả lời thôi đấy."

"Mỗi người sinh ra chỉ có một cuộc sống. Nhưng nếu muốn, chúng ta ai cũng có thể chọn sống một ngàn cuộc đời. Tôi làm chuyện này vì nó cho tôi sống rất nhiều cuộc sống cùng một lúc, mỗi ngày."

Tôi không hiểu cô bạn nhỏ ấy có hiểu gì không hay nghĩ rằng tôi đang mê sảng.
(Trích Mạch Sống, Tháng 3, 2003)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.