Hôm nay,  

Opec - Saudi Vồ Ếch

16/02/200400:00:00(Xem: 5380)
Tuần qua, tổ chức OPEC vừa quyết định sẽ giảm sản lượng một triệu thùng mỗi ngày kể từ đầu tháng Tư khiến nhiều nơi e ngại là giá dầu thô gia tăng có thể ảnh hưởng đến tình hình kinh tế toàn cầu. Sự thật lại rắc rối hơn vậy.
Tuần qua, hôm Thứ Ba mùng 10, tổ chức các quốc gia xuất cảng dầu khí OPEC đã kết thúc hội nghị cấp Bộ trưởng với một quyết định làm thế giới xôn xao: kể từ mùng một tháng Tư giảm một triệu trong sản lượng 24,5 triệu thùng mỗi ngày hiện nay. Khi nhật lượng giảm thì giá dầu sẽ tăng (dù đã ở mức 30 đô la một thùng từ nhiều tháng nay): điều đó tất nhiên là gây ưu lo cho các nước tiêu thụ dầu hỏa trên thế giới vì sẽ là một khoản chi phí phụ trội.
Nhưng, thực tế lại không đơn giản như vậy và đòn dầu hỏa của OPEC chỉ là một cố gắng vất vả của Saudi Arabia trong hoàn cảnh đầy khó khăn của xứ này.
Trên lý thuyết, nhật lượng dầu thô của OPEC hiện đang chính thức là 24,5 triệu thùng mỗi ngày (barrels per day – bpd) và với khí hậu ấm mát hơn của mùa Xuân, các hội viên e ngại là nhu cầu dầu khí sẽ giảm khiến giá sẽ sụt. OPEC còn dự trù là nếu giá sụt dưới 25 đô la thì họ sẽ giảm thêm 0,7 triệu thùng mỗi ngày. Lý luận căn bản của OPEC ở đây là nhật lượng hiện đang được duy trì ở mức quá cao, chừng một triệu rưởi thùng, cho nên giá dầu sụt và các nước xuất khẩu bị thất thâu. Thực tế thì từ nhiều tháng nay dầu thô vẫn đứng giá ở mức 30 đô la một thùng, trong khi từ ba năm nay, OPEC chủ trương điều tiết sản lượng để giá dầu chỉ xê dịch trong biên độ từ 22 đến 28 đồng một thùng: thấp hơn là bị thất thâu, cao hơn là làm kinh tế thế giới bị suy thóai khiến số cầu sẽ giảm.
Khi giá dầu còn cao như vậy, lý luận của OPEC về giá cả có điều gì đó không ổn.
*
Tìm hiểu sâu xa hơn, người ta thấy rằng trong ngần ấy quốc gia hội viên, chỉ có ba nước còn thừa công xuất để bơm thêm dầu ra ngoài. Đó là Qatar, còn thừa nhật lượng khoảng 100.000 thùng, là United Arab Emirates, còn dư 25.000 thùng mỗi ngày, và Saudi Arabia, dư khoảng hai triệu thùng. Các nước khác đều đang bơm tối đa và thực tế thì chẳng có lý do gì để giảm sản lượng: kinh tế toàn cầu đang phục hồi, số cầu của nhiều quốc gia, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, đang tăng, nên giá dầu chưa thể sụt dưới mức thấp là 22 đồng một thùng. Do đó, mối lo của OPEC, rằng giá dầu sẽ sụt, là điều khó hiểu.
Theo dõi biên bản của Thượng đỉnh OPEC vừa qua, ta thấy chỉ có ba quốc gia ủng hộ quyết định này. Đó là Venezuela, Indonesia và Saudi Arabia.
Venezuela đang bị khủng hoảng chính trị, với tranh chấp gia tăng về thời điểm tổ chức trưng cầu dân ý (chống hay thuận với chính quyền của Tổng thống Hugo Chavez), và khủng hoảng âm ỉ từ nhiều năm đã gây ảnh hưởng xấu cho kỹ nghệ dầu hỏa, khiến xứ này không sản xuất đủ cho hạn ngạch của mình trong OPEC. Đó cũng là trường hợp của Indonesia. Tức là không bơm đủ dầu theo số ấn định OPEC cho mình để bán ra lấy tiền. Cho nên, khi OPEC quyết định giảm sản lượng để nâng giá thì hai xứ này chỉ có lợi nhờ tăng giá mà thôi.

Quốc gia thứ ba có lý do chính để đề xướng việc cắt sản lượng nhằm nâng giá là Saudi Arabia.
Hai lý do có thể được liệt kê ra sau đây. Thứ nhất, dầu thô được định giá bằng Mỹ kim, cho nên dù giá có tăng quá định mức 28 đồng một thùng, số thu thực ra cũng giảm vì mãi lực sút giảm của tiền Mỹ. Thứ hai, đáng chú ý hơn cả, là Saudi Arabia đang mấp mé khủng hoảng vì những vấn đề nội bộ.
Chế độ Hoàng gia Saudi xưa nay mặc nhiên ủng hộ các lực lượng Hồi giáo quá khích, như một hình thức hối lộ để yên thân, và có khi còn nhúng tay vào việc yểm trợ khủng bố al-Qaeda. Vì vậy, quan hệ của Saudi Arabia với Hoa Kỳ đã suy đồi nặng, dù trong nội bộ chính quyền Mỹ, xứ này vẫn còn được cảm tình của bộ Ngoại giao Mỹ. Hoa Kỳ đang ráo riết gây áp lực với Riyadh để Hoàng gia Saudi có hành động tiễu trừ al-Qaeda dứt khóat hơn. Ngược lại, Saudi Arabia cũng bị các lực lượng Hồi giáo quá khích công kích, bị al-Qaeda hăm dọa và bị dân chúng than phiền là trở thành tay chân của Mỹ.
Trong hoàn cảnh bị áp lực tứ phía như vậy, Riyadh lại gặp nhiều khó khăn kinh tế, nhất là mắc nợ quá nhiều so với nguồn lợi tức từ dầu hỏa, cho nên họ cần tiền hối lộ để mọi thành phần áp lực và cho thấy là dám đương đầu với Mỹ.
*
Việc Saudi Arabia chi phối được OPEC trong quyết định tiết giảm sản lượng cho thấy xứ này còn được một chút thế lực. Nhưng đó chỉ là thế lực biểu kiến, tượng trưng.
Thực tế thì Hoa Kỳ đã ngầm tác động vào nội bộ OPEC và nhiều hội viên, như Algérie hay Nigeria, công khai cho biết là quyết định của OPEC không có gì là chắc chắn. Các xứ khác, như Iran, Kuwait, Libya hoặc các tiểu vương quốc trong vùng Vịnh Ba Tư, cũng thấy là chẳng có lý do gì mà hùa theo Saudi Arabia để gây hấn với Hoa Kỳ. Ngoài ra, xứ nào cũng coi quyền lợi của mình là tối thượng, cho nên dù có đồng ý trên danh nghĩa là sẽ cắt sản lượng, chẳng xứ nào lại giảm đến một lon: họ tiếp tục bơm dầu bán ra lấy tiền. Nếu cần thì bơm lậu, ngoài hạn ngạch lý thuyết của OPEC, như đã làm từ nhiều năm nay. Vì vậy, ở trên ta mới nói nhật lượng của OPEC “chính thức” là 24,5 triệu thùng.
Rốt cuộc thì chỉ riêng có Saudi Arabia là phải giảm sản lượng, lủi thủi một mình, như đã đề xướng. Và nếu có bị thiệt thì đành phân bua, rằng mình cũng đã có quyết định chống Mỹ, một sự an ủi mong manh.
Kết luận thì vụ đòn phép dầu hỏa này không ảnh hưởng nặng đến kinh tế toàn cầu, nhưng làm Hoàng gia Saudi thêm điêu đứng trong những ngày tháng tới và còn phơi bày nhược điểm bên trong OPEC, bị Saudi xúi đi vồ ếch.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.