Hôm nay,  

Đêm Tình Thương

16/05/200600:00:00(Xem: 2445)

Đêm Tình Thương do Phân Hội Chuyên Gia Toronto tổ chức tại Sky Dragon Restaurant vào tối Thứ Bảy 13-5-2006, buổi tối trước Ngày Lễ Mẹ (14-5) năm nay.  Đây là một điều thật ý nghĩa, vì Đêm Tình Thương nhắm mục đích gây quỹ giúp công nhân và cô dâu Việt Nam đang bị ngược đãi tại Đài Loan, những bà mẹ bất hạnh đang kêu cứu ở Đài Loan.<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Chuyện công nhân và cô dâu Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nambị ngược đãi đã được báo chí nói đến nhiều.  Thậm chí báo chí cũng đã đưa ra những hình ảnh thật thương tâm của những phụ nữ Việt Nambị rao bán, bị đánh đập, bị xiềng xích.  Theo lời của Ban tổ chức Đêm Tình Thương: “Hiện nay, trên 100,000 cô dâu và trên 95,000 công nhân lao động Việt Nam tại Đài Loan và rất nhiều người đang phải sống trong thảm cảnh.  Tháng 1 năm 2004, linh mục Peter Nguyễn Văn Hùng đã chính thức thành lập VĂN PHÒNG  TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG VÀ CÔ DÂU VIỆT NAM và bắt đầu làm việc riêng với những người Việt Nam tại Đài Loan.  Ngay từ ngày khởi đầu, hơn 2,000 cô dâu và công nhân lao động đã tìm đến văn phòng để tìm kiếm sự giúp đỡ từ những vấn đề như, hãm hiếp, bị ép làm gái mãi dâm, cho tới tai nạn lao động và quỵt tiền lương.  Với sự thành công của một số vụ kiện, tin tức của văn phòng được truyền bá, cô dâu và công nhân lao động cần sự giúp đỡ, tìm đến ngày càng đông.”

 

Văn phòng hoạt động bất vụ lợi.  Người cần trợ giúp càng ngày càng đông.  Chi phí càng ngày càng nhiều.  Đó là lý do cần phải hỗ trợ VĂN PHÒNG  TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG VÀ CÔ DÂU VIỆT NAMtại Đài Loan.  Và đó cũng là lý do việc tổ chức Đêm Tình Thương 13-5-2006 tại Toronto.

 

Những hình ảnh trong slide show được trình chiếu, gây xúc động mạnh nơi người tham dự. Người tham dự khá đông, ngoài sự ước đoán của Ban tổ chức.  Được biết rằng hai ngày trước đó, Ban tổ chức đưa tin lên các diễn đàn ở Toronto, tỏ ra rất lo ngại về tình hình tiêu thụ vé còn chậm.  Vì tối 13-5-2006, cũng là tối tổ chức Đại lễ Phật Đản tại một ngôi chùa lớn ở Toronto; có ca sĩ từ Cali qua phụ diễn văn nghệ Phật giáo; trùng với Hội Phụ Nữ cũng tổ chức gây quỹ trong cùng tối đó.  Tuy nhiên, sau cùng, số người tham dự đầy chật cả nhà hàng hơi nhỏ, khoảng hơn 300 người.

 

Người tham dự yên lặng và đau xót theo dõi những hình ảnh thương tâm trên màn hình.  Những xiềng xích của kiếp nô lệ.  Những bầm dập vì bị đánh đập.  Những vết sẹo hằn lên khủng khiếp.  Những giọt nước mắt đau thương, chua xót.  Linh mục Peter Nguyễn Văn Hùng, từ Đài Loan qua Hoa Kỳ, vừa đến Toronto, đã kể lại sơ lược quá trình thành lập VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ, trình bày vài câu chuyện điển hình, tình hình pháp luật Đài Loan, sự thờ ơ vô trách nhiệm của nhà nước Việt Nam, và linh mục đã nhẹ nhàng kết luận, những thảm cảnh nầy chỉ có thể chấm dứt khi nào có sự thay đổi chính trị ở trong nước.

 

Linh mục Hùng tránh đề cập đến vấn đề chính trị.  Đúng ra, phải nói thẳng và nói rõ thảm trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Việt Namhiện nay do chính sách vô trách nhiệm của CSVN gây ra.  Càng rõ hơn nữa, là nguồn gốc của mọi sự đau khổ mà dân tộc Việt Namphải gánh chịu trong mấy chục năm qua, chính là chế độ cộng sản hiện nay ở trong nước.  Các đảng viên cộng sản cũng biết điều nầy.  Nhiều đảng viên nhắm mắt làm ngơ để hưởng lợi.  Một số đảng viên bị lương tâm bứt rứt, đã lên tiếng.  Dân chúng trong nước thì bị bịnh “cộng ám”.  Bệnh “cộng ám” còn độc hại hơn chất độc màu da cam.  Làm cho nhiều người bị “đui mù câm điếc”.  Bệnh nầy ngày nay bắt đầu có thuốc trị, nhờ sự phát triển của khoa học thông tin liên mạng quốc tế. 

 

Ở hải ngọai, dầu sống sung túc trong các chế độ tự do dân chủ, nhưng vì chút lợi danh, “tai ngơ mắt điếc”, lương tâm không bằng lương tiền, một số người đã đạp lên nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng Việt Nam, tiếp tay làm ăn buôn bán với nhà cầm quyền trong nước, để duy trì quyền lực của đảng độc tài toàn trị.

 

Khi được hỏi về mức chi phí hàng tháng của VĂN PHÒNG  TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ở Đài Loan, thì linh mục Peter Nguyễn Văn Hùng cho biết mỗi tháng hiện nay Văn phòng chi phí khoảng từ 6,000 đến 8,000 Mỹ kim, nghĩa là mỗi tuần khoảng 2,000 Mỹ kim.  Một ý kiến đáng ghi nhận ở đây:  Có một người tham dự cho rằng, nếu mỗi thành phố có người Việt tỵ nạn cộng sản cư ngụ, phụ trách một tuần chi phí của VĂN PHÒNG  TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐÀI LOAN, thì có thể giúp được văn phòng nầy điều hành trong suốt một năm.  Ý kiến nầy cũng đề nghị tiếp là Toronto, mỗi năm nên đóng góp một tuần chi phí cho văn phòng (2,000 Mỹ kim), và xin cộng đồng Torontocùng nhận điều nầy.  Nếu không được, thì người đưa ra ý kiến xin tình nguyện nhận lãnh trách nhiệm.  Hoan nghênh tinh thần thiện nguyện của nhà hảo tâm trẻ tuổi nầy.

 

Điều đáng suy nghĩ trong buổi dạ tiệc tối Thứ Bảy 13-5-2006, là bức tranh của một họa sĩ tài tử đã tặng ban tổ chức, để bán đấu giá gây quỹ.  Bức tranh sơn dầu, chưa sắc sảo về mặt mỹ thuật.  Nội dung trình bày hình ảnh vài nông dân Việt đang gò mình làm việc trên đồng ruộng.  Điều đặc biệt ở đây là người vẽ không phải là người Việt Nam, mà là một sinh viên ngọai quốc, mới tốt nghiệp ngành kiến trúc ở Toronto.

 

Bức tranh nầy làm liên tưởng đến bài “Bonjour Vietnam”, xuất hiện ở Pháp và Bỉ vào đầu năm 2006.  Bài hát do một nhạc sĩ đang nổi tiếng ở Pháp và ở Bỉ là Marc Lavoine sáng tác.  Người trình bày là ca sĩ Phạm Quỳnh Anh.  Cô là con của ông Phạm Xuân An và bà Trần Thị Minh Huệ, người Việt sinh sống ở Bỉ.  Phạm Quỳnh Anh sinh năm 1987, tốt nghiệp Trung học vào tháng 6-2005 tại trường Saint Stanislac ở thành phố Mons, miền trung-nam Bỉ, gần biên giới Pháp. 

 

Nội dung bài hát diễn tả tâm trạng của một người Việt sinh trưởng ở nước ngoài, hay một người Việt xa quê hương từ nhỏ, muốn tìm hiểu về quê cha đất tổ.  Người nầy chỉ biết Việt Namqua hình ảnh chiến tranh trong một phim của Coppola, và ước mong rằng:

 

“Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi đó, [để] nói xin chào, Việt Nam.

 

Chào những đền chùa và  những tượng Phật bằng đá thay cho những người cha của tôi,

 

Chào những người đàn bà còng lưng trên ruộng lúa thay cho những bà mẹ của tôi…”.

 

(nguyên văn:  Un jour, j'irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.

 

Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,

 

Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères.)

 

Điều đáng suy nghĩ là bài hát luôn luôn dùng thể tương lai, một ngày kia tôi sẽ… Tôi sẽ, có nghĩa là hôm nay chưa về, hay không muốn về vì quê hương còn nằm dưới ách độc tài toàn trị.  Điều đáng suy nghĩ nữa là người nầy ước mong về Việt Nam, không phải để cởi ngựa xem hoa, không phải để du hí, hưởng thụ xa xỉ, không đến Hà Nội, Sài Gòn (nay đã bị đổi tên), không đến những chốn phồn hoa đô thị, mà chỉ để về miền quê, thăm hỏi những người đàn bà còng lưng trên các ruộng lúa.

 

Lời của bài hát “Bonjour Vietnam”, trùng hợp với nội dung bức tranh của chàng họa sĩ tài tử  Canadian ở Toronto.  Giọng của Quỳnh Anh trong trẻo, cao, thanh thoát, nhưng âm hưởng của bài hát làm cho người nghe cảm thấy một điều gì buồn man mác, như chơi vơi, như tiếc nuối, như nhớ thương mà thật khó diễn tả.  Màu sắc của bức tranh, xanh lạt, lam, lấm tấm đen, tạo nên cảm giác không nóng, không lạnh, cũng không tươi, không ảm đạm, nhưng mênh mang, xót xa, xa thẳm…

 

Hai người nghệ sĩ không-phải-là-người-Việt nghĩ về nước Việt Namnhư thế đó.  Đến cánh đồng, đến ruộng lúa, đến kiếp nghèo của nông dân, đến nỗi nhọc nhằng của những bà mẹ, cần cù, siêng năng, suốt ngày quần quật, để cưu mang con cái, gia đình.  Điều nầy hoàn toàn trái ngược với một số người Việt, chỉ biết trở về Việt Nam để hưởng thụ, chơi bời bên cạnh sự đau khổ của chính đồng bào mình, và còn tệ hơn nữa, một số người Việt vì tư lợi, đã nhắm mắt tiếp tay với Cộng Sản Việt Nam, duy trì nguồn gốc sâu xa nhất mọi sự thống khổ của quần chúng Việt Nam.

 

Buổi dạ tiệc gây quỹ của Phân hội chuyên gia Torontokết thúc lúc 12giờ tối 13-4-2006.  Sau khi trừ mọi chi phí, kết toán sổ sách, còn thu được 14,350 Gia kim để tặng VĂN PHÒNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG VÀ CÔ DÂU VIỆT NAM tại Đài Loan.  Một bông hồng nhỏ nhân ngày Lễ Mẹ năm nay, để kính tặng những phụ nữ Việt với nỗi đau lớn lao đang chới với ở Đài Loan, do chính nhà cầm quyền hiện nay ở Việt Nam gây nên cho công dân của họ.

 

(Toronto, ngày Lễ Mẹ 14-5-2006)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.