Hôm nay,  

Thư Từ Nhiệm

04/04/200300:00:00(Xem: 4754)
LTS. Cuộc chiến Iraq đã gây nhiều tranh luận không những khắp thế giới, mà cả trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ. Mặc dù bài sau đây không phản ảnh quan điểm VB, nhưng lại chứa đựng rất nhiều thông tin nên biết về cuộc tranh luận trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, và đặc biệt của các chuyên gia Bộ Ngoại Giao.
Lời người dịch: Thư từ nhiệm (Letter of Resignation) sau đây, gửi cho Ngoại Trưởng Colin Powell, của John Brady Kiesling, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, đã từng phục vụ tại tòa đại sứ Mỹ ở Tel Avis, Casablanca, Yerevan. Gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, Colin Powell. Đăng trên tạp chí Điểm Báo Nữu Ước (NYRB), số đề ngày 10 tháng Tư 2003.
*
Ngài Bộ Trưởng kính mến,
Tôi viết thư này tới Ngài, để xin từ bỏ nhiệm vụ của tôi là cố vấn chính trị tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Athens, thuộc Bộ Ngoại Giao, có hiệu lực kể từ ngày 7 tháng Ba. Tôi thật đau lòng khi làm điều này. Hành trang mà tôi mang theo từ lúc còn trẻ tới bây giờ khiến tôi không thể quên được một điều, rằng, mình phải đền đáp xứ sở một điều gì đó.
Làm nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đúng là một việc làm mơ ước. Tôi được trả công, để học và để hiểu biết về văn hóa, ngôn ngữ các nước. Để tạo mối thân quen trong số những nhà ngoại giao, những chính trị gia, những nhà học giả, và những nhà báo, và để cố gắng, tìm đủ mọi cách, nói cho họ hiểu rằng, quyền lợi của Hoa Kỳ và của họ, cơ bản mà nói, là trùng hợp. Lòng tin của tôi vào xứ sở của mình là một vũ khí mãnh liệt nhất, trong kho vũ khí ngoại giao của Hoa Kỳ.
Không thể tránh được rằng, trong hai chục năm trời làm việc tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tôi mỗi ngày một trở nên tinh tế và miệt thị (sophisticated and cynical) đối với những động cơ mang tính thư lại, ích kỷ, và chật hẹp, mà đôi khi, đã vẽ nên bộ dạng những chính sách [ngoại giao] của chúng ta. Con người vốn sao thì là vậy. Và tôi được khen thưởng, được thăng tiến trong nghề nghiệp, là vì hiểu được bản chất của con người. Nhưng, kể từ trước khi có cái chính phủ này, tôi nghĩ rằng, chuyện sau đây thật dễ ợt: rằng cứ ôm lấy những chính sách mà tổng thống của mình đề ra tức là ôm lấy những quyền lợi của dân chúng Hoa Kỳ và của thế giới. Tôi không còn tin như vậy nữa.
Những chính sách mà chúng ta bây giờ được yêu cầu tiến hành, không thích hợp, không chỉ với giá trị, mà còn với quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc hăm hở theo đuổi cuộc chiến với Iraq đã đưa chúng ta tới chỗ, làm phí phạm gia tài về tính chính đáng quốc tế, và đây là một võ khí có uy lực nhất, hiệu nghiệm nhất, cả về công lẫn thủ, của Hoa Kỳ, kể từ thời Woodrow Wilson. Chúng ta bắt đầu phá hủy mạng lưới hữu hiệu nhất, rộng lớn nhất của những liên hệ quốc tế mà thế giới trước đây chưa hề biết đến. Cứ đà này, sẽ chỉ đem tới bất ổn, hiểm nguy, và chẳng còn an ninh.
Việc hy sinh quyền lợi toàn cầu cho những chính sách nội địa, và cho quyền lợi của mình, thì cũng xưa như trái đất, và chắc chắn không phải Hoa Kỳ là quốc gia độc nhất trên thế giới vướng phải vấn đề này. Tuy nhiên, kể từ chiến tranh Việt Nam, chưa bao giờ nó lại làm phiền chúng ta như thế, ấy là tôi nói về trò bóp méo một cách hệ thống lương tri, sự hiểu biết, và trí thông minh, và trò ma nớp lôi kéo dư luận quần chúng Hoa Kỳ. Thảm kịch 11 tháng Chín, bi thương là thế, nhưng một khi bi thương lắng xuống, điều mà thảm kịch đó để lại cho chúng ta là: nó làm cho chúng ta mạnh hơn trước, lần đầu tiên, quây quần quanh chúng ta là một liên minh quốc tế rộng lớn cùng hợp tác, theo một đường lối có hoạch định đàng hoàng, nhằm chống lại chủ nghĩa khủng bố. Nhưng thay vì coi những thành tựu đó, như một cái vốn lận lưng, và cứ thế tiến lên, thêm thắt mãi ra, chính quyền này đã chọn lựa điều tệ hại nhất, đó là sử dụng khủng bố vào những mục tiêu chính trị mang tính nội địa, và coi nhóm al-Qaeda hầu như đã bị đánh bại, và tan rã ra khắp nơi, là đồng minh thư lại của nó. Chúng ta làm tràn lan nỗi khiếp sợ không tương xứng, và sự lầm lẫn không biết đâu mà lần, ở trong đầu mọi người. Chúng ta thoải mái, vô tư, coi Iraq và khủng bố là một.
Hậu quả - có lẽ phải nói động cơ - là biện minh cho việc phân phối, sử dụng sai lầm khá nhiều, tài sản công cộng vốn đang teo lại, cho việc binh đao, và làm yếu đi những bộ phận an toàn, bảo vệ công dân Hoa Kỳ khỏi bàn tay nặng nề của chính quyền. Mình làm hại mình, biến cố 11 tháng Chín không gây tổn hại nhiều cho kiến tạo xã hội Hoa Kỳ, so với những gì chúng ta làm cho chính chúng ta. Liệu chăng, triều đại Nga Hoàng vừa mới cáo chung đúng là thứ khuôn mẫu để chúng ta noi theo: một đế quốc vị kỷ, mê tín, đại bại, cuối cùng tự hủy diệt, nhân danh tình trạng từ chết đến bị thương hiện nay"

Chúng ta nên tự hỏi chính mình, tại làm sao mà thế giới chẳng thèm nghe thêm chúng ta, dù chỉ nửa lời, rằng cuộc chiến với Iraq là cần thiết. Hơn hai năm trời, chúng ta đã làm, quá đủ mọi chuyện, để khẳng định với "phe ta" trên thế giới, rằng quyền lợi hạn hẹp và vụ lợi của Hoa Kỳ chỉ là đồ bỏ, cần thì vứt vô thùng rác, nếu một khi đụng tới những giá trị rất đỗi thân thương của phe ta. Ngay cả khi không mắc mớ gì tới những mục đích của chúng ta, thì thái độ một lòng một dạ với phe ta cũng được nhắc tới. Chuyện Afghanistan còn nóng hổi, hẳn nhiên phe ta chẳng được hài lòng cho lắm, và họ sẽ tự hỏi, chúng ta tái thiết Trung Đông trên căn bản nào, những ai có hình ảnh của mình, và - hãy cứ nói đại ra ở đây - những ai có quyền xí phần, ở đó" Hay là chúng ta mù rồi, như Nga Xô đã mù ở Chechnya, như Isarel đã mù ở Vùng Đất Chiếm Đóng, và nếu không phải mù như họ, thì thôi vậy, mình nói mình nghe, chẳng lẽ trị bọn khủng bố, chỉ có mỗi một cách là dùng vũ lực hạng nặng, nện tới nện tấp, cho chúng chết hết không còn một mống" Sau hỗn loạn của một Iraq hậu chiến là những hỗn loạn ở Grozny và Ramallah, và phải là một người ngoại quốc can trường lắm mới kết hàng với những tiểu đảo ở vùng Thái Bình Dương (Micronesia), để mà cùng đi với chúng ta tới bất kỳ nơi đâu.
Chúng ta vẫn còn phe ta. Thứ tốt, thứ xịn. Tình bạn trung thành của họ thật đáng nể, và là vòng hoa choàng lên lâu đài của những giá trị về tinh thần và đạo đức mà chúng ta xây dựng từ trên một thế kỷ. Và những bạn bè thân thiết nhất với chúng ta, bảo cho chúng ta biết rằng, thật khó biện minh, nhưng thật dễ dàng tiên đoán, rằng cuộc chiến sẽ đầy hung hiểm, và sẽ khiến cho nước Mỹ rơi vào tình trạng thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn. Trung thành là phải có đi có lại, mới toại lòng nhau. Tại làm sao tổng thống của chúng ta lại dung thứ, và cho phép cứ thế mà làm, cái kiểu gặp gỡ, tiếp xúc, ngay ở trong số hàng ngũ những viên chức cao cấp nhất của chính phủ này, với bạn bè và đồng minh: ngạo mạn, khinh khi" Phải chăng câu nói "Mặc họ ghét ta, miễn họ sợ ta", là chân lý dẫn đường của chúng ta"
Tôi khẩn thiết yêu cầu Ngài hãy lắng nghe những bạn bè của Hoa Kỳ ở khắp năm châu bốn biển. Ngay cả ở đây, Hy Lạp, nơi mà tinh thần bài Mỹ theo kiểu Âu Châu được coi là hết thuốc chữa, chúng ta có nhiều bạn, và bạn thân, hơn là độc giả nhật báo Mỹ có thể tưởng tượng ra được. Ngay cả khi than phiền về tính ngạo mạn của Mỹ, người Hy Lạp vẫn hiểu rằng, thế giới là một nơi chốn khó khăn và nguy hiểm, và họ muốn có một hệ thống quốc tế mạnh, với Hoa Kỳ và Cộng Đồng Âu Châu (EU), như là những bằng hữu (partners) thân thiết. Khi bạn bè của chúng ta sợ chúng ta, hơn là sợ "cho" chúng ta, ấy là lúc có chuyện trục trặc cần phải coi lại. Và bây giờ, họ đang sợ. Ai làm cho họ tin tưởng rằng, Hoa Kỳ là, và vẫn luôn luôn là, một ngọn đèn pha soi sáng tự do, an ninh, và công lý của hành tinh này"
Thưa Ngài Bộ Trưởng,
Tôi xiết bao kính trọng Ngài, về tính tình, tư cách cũng như về khả năng, sự nhanh nhạy. Ngài đã giữ lại được, biết bao tin cậy của quốc tế đối với Hoa Kỳ, so với chính sách ngoại giao của chúng ta xứng đáng có, và còn cứu được một điều gì tích cực, khỏi những quá đáng của một chính phủ tự tung tự tác và chạy theo ý thức hệ.
Nhưng lòng trung thành của Ngài với Tổng Thống đi quá xa. Chúng ta căng, quá sức chịu đựng cũng như là giới hạn của nó, một hệ thống quốc tế mà chúng ta xây dựng với biết bao công của, một mạng lưới luật pháp, hiệp ước, tổ chức, và những giá trị cùng chia sẻ, chúng định giới hạn cho kẻ đồi đầu chúng ta, hữu hiệu hơn hẳn, so với cái "ràng" khả năng của Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ những quyền lợi của nó.
Tôi xin từ nhiệm, bởi vì đã cố gắng, nhưng thất bại, trong việc hòa giải lương tâm với khả năng của mình để đại diện chính phủ hiện nay của Hoa Kỳ. Tôi tin rằng, tiến trình dân chủ của chúng ta tự sửa sai cho chính nó, vào lúc tối hậu, và hy vọng rằng, trong một đường hướng nhỏ nhoi, tôi có thể đóng góp, từ phía bên ngoài, trong việc tạo vóc dáng những chính sách phục vụ tốt hơn cho an ninh và thịnh vượng của dân chúng Hoa Kỳ và của thế giới mà chúng ta chia sẻ.
Jennifer Tran chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
LTS: Bài viết sau của cụ bà Đinh Thanh Trang kể về một số kinh nghiệm dùng thuốc Nam, thuốc ta chữa bệnh sau khi bệnh viện và thuốc Tây bế tắc
(Fasting For Physical Rejuvenation)       Mặc dù sự cần thiết của Nhịn Ăn đã được chúng tôi nói đến từ nhiều năm qua.Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết Nhịn Ăn cách nào"Có lợi ích gì"Có hại gì không"
1- “Sữa Ong Chúa” là gì" Giá trị dinh dưỡng và trị bệnh ra sao" Tiếng Anh của Sữa Ong Chúa là “Royal Jelly”.
Nói đến thịt thỏ, cần phân biệt 2 loại thịt thỏ nhà hay rabbit (lapin, theo tiếng Pháp) và thịt thỏ rừng hay hare (lièvre).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.