Hôm nay,  

Quê Nhà, Nơi Ấy

28/06/200300:00:00(Xem: 5911)
Thiệt tình mà nói thì tuy rằng tôi sinh ra ở Mỹ Tho nhưng đã theo cha mẹ tôi lên sống ở Saìgòn từ lúc mới 1 tuổi nên phải nói cho đúng tôi là dân Saìgòn chứ đâu phải là người Mỹ Tho. Ấy vậy mà tôi cứ phải khai sinh quán và quê quán của mình là... Mỹ Tho ! Mỗi lần nhắc tới Mỹ Tho, tôi chỉ nhớ rõ nhất là ... nhà ngoại tôi, sau đó là khu nhà lồng chợ với mấy caí quán ăn cất dọc theo mé sông. Chỉ vậy thôi; tôi chẳng biết mà cũng chẳng nhớ được gì hơn. Vậy mà sống xa xứ lâu ngày, tự dưng tôi lại thấy nhớ Sàigòn và nhớ Mỹ Tho dễ sợ ! Hễ nhắc tới quê nhà là tôi lại nhớ tới 2 nơi ấy...
Hình ảnh ‘Quê nhà’ Mỹ Tho trong tôi là một căn nhà ba gian hai chái xinh xắn của ngoại tôi nằm trên một nền gò cao ẩn khuất giữa một khoảng sân vườn rợp mát, cây trái xanh tươi. Phía trước là một cái sân vuông lát gạch tàu màu đỏ, có caí bàn thiên với lư hương nhỏ, xung quanh là đám rau và mấy bụi vạn thọ, dâm bụt và ngan ngát mùi thơm của bông dạ lý hương. Phía bên hông là hai cây cau với mấy dây trầu bà quấn quít và một cái lu đựng nước mưa uống sao mát lạnh. Bước lên ba bậc tam cấp, trước khi vào cửa là hàng hiên mà ngoại tôi thường gọi là ‘hàng bá - nơi mà ngoại tôi thường nằm trên ghế bố hóng mát vào trưa hè oi ả, cũng là nơi mà ngoại thường cất thóc ban đêm sau một ngày phơi nắng. Nơi ấy, bọn nhóc tì chúng tôi thường chơi giỡn với nhau khi trời mưa, hay ngồi nghe ngoại kể chuyện đời xưa vào những ngày hè nóng bức. Gian giữa là nơi thờ phụng Phật và ông bà. Chính giữa là mấy cây cột tròn đen bóng, nhẵn thín, không đánh véc-ni hay sơn bóng gì hết mà vẫn trơn láng màu gỗ đã nhiều tuổi. Phía trên cột là những hoa văn chạm trổ cầu kỳ vừa để trang trí, vừa đỡ lấy hàng kèo mái. Chân cột là những bầu tròn bằng đá chạm khắc sắc xảo, công phu trên nền gạch tàu. Hai hàng cột này chia không gian nhà giữa thành ba gian đều nhau. Gian giữa là nơi ông ngoại hay cậu tôi tiếp khách. Hai gian bên có 2 bộ đi-văng mà bên trái là nơi ngoại tôi thường dành làm nơi tiếp chuyện mấy người bạn gìa. Gian phiá bên phải là chổ các dì các cậu học bài hay tiếp đãi bạn bè. Phiá sau là 2 căn phòng ngủ rộng lớn mà chính giữa là 1 bộ ván khác để con cháu từ xa về chơi có thể nghĩ ngơi. Phiá sau cùng là caí bếp và bàn ăn với nhà tắm, cầu tiêu và vựa thóc lúa. Nơi này là chổ gia đình tụ họp ăn uống, nhất là dịp Tết hay giỗ chạp, hoặc cưới hỏi với con cháu, họ hàng về cùng ăn, cùng làm, cùng hàn huyên thật đông vui, đầm ấm. Mở cửa ra vườn sau là nơi ngoại tôi nuôi gà, vịt, heo và thỏ. Vườn tược um tùm bao quanh 2 bên và phía sau nhà nên mấy cậu, dì tôi thường hay ‘nhát ma’ để tôi khỏi bước ra vườn, leo trèo nguy hiểm, nhất là tránh xa cái giếng nước nhỏ. Cái giếng tròn, trên là một ống trụ tròn quấn dây thừng mà đầu dây bên dưới là 1 cái thùng sắt sét rỉ để kéo nước từ đáy giếng lên. Mặc dù nhà ngoại đã có nước máy dẫn vào trong nhà nhưng không hiểu tại sao ngoại vẫn muốn giữ cái ‘giếng cổ’ này dù rêu xanh bao quanh bờ giếng. Hình như cái ‘giếng cổ’ này có kỷ niệm gì trong đời ngoại. Thỉnh thoảng ngoại biểu tôi ra giếng để ngoại chỉ tôi cách kéo nước giếng, lấy nước rưa mặt rồi ngoại cười hỏi tôi: ‘Nước giếng mát không hả, con "’ Có vậy thôi. Rồi ngoại dẫn tôi ra vườn, đến bên mấy gốc cây mận, cây nhãn dọc theo mương mà hái cho tôi ăn chứ tuyệt nhiên không kể gì về chuyện căn nhà của ngoại. Một con mương nhỏ bao quanh 3 mặt bên hông và phía vườn sau nhà, giáp ranh với một cái ao cá nhỏ nhìn ra mé sông với mấy cây dừa xiêm xoả bóng. Ngoại tôi lấy mấy thân dừa bắt thành mấy chiếc cầu nhỏ tạm bợ ngang qua mương hay de ra mé sông một chút mà nhà quê thường gọi là ‘cầu khỉ’’. Dừa có lẽ là loại cây phổ biến và hữu dụng nhất ở những miền sông nước như quê tôi. Từ rễ, thân, lá đến bông, trái đều được tận dụng tối đa trong đời sống quê tôi. Dừa thường được trồng ven sông rạch vừa tạo bóng mát, vừa giúp sinh lợi, vừa tạo ra cảnh quan ven sông hết sức quyến rủ, hữu tình. Con sông cái phía sau nhà ngoại tôi chỉ là một nhánh của sông Mekong nhưng nó là một nguồn sống, là hơi thở, là huyết mạch của biết bao người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long này. Với tôi, nó là một xa l êm mát, trữ tình và đầy thú vị. Mỗi khi ra ngồi hóng mát bên sông, nhìn tàu bè qua lại tấp nập, sóng nứơc nhấp nhô, mấy dề lục bình trôi bồng bềnh với mấy chùm hoa tim tím, phía bên kia là cồn Phụng với bến bắc Rạch Miễu, tôi lại thấy quê tôi đẹp làm sao đó. Có sống ở dưới quê thì mới biết những vui - buồn của người dân quê tôi rồi mới thấy thích làm sao cuc sống của quê tôi, nơi ấy. Hình như trong vất vả, khốn khó, người ta mới dễ cảm thông, gắn bó với nhau hơn, mới biết thương nhau hơn, biết đùm bọc lẫn nhau hết sức tình nghĩa. Tôi cũng cảm thấy dường như những con sông đã nuôi sống con người, đã làm gìau cho quê tôi và cũng đã gắn liền với con người và quê hương tôi như một hình ảnh không thể thiếu sót. Bởi vậy, có người nói: quê ai cũng có một dòng sông - dòng sông quê hương. Ngày xưa, mỗi dịp nghĩ hè về quê ngoại, tôi thích theo cậu tôi chèo xuồng ba lá ra sông cái chơi trong gió mát, nắng ấm và sóng nước bắn tung toé hai bên lườn. Cậu tôi hát và đàn hay lắm, tôi thích nhất là khi cậu tôi hát bài ‘Chiều về trên sông.’ Có bữa, hai cậu cháu thả lưới giăng câu, hay thả xuồng trôi bồng bềnh theo con nước. Khi về tới nhà ngoại, cậu rủ tôi cởi áo nhảy ùm xuống sông tắm cho mát, thích ơi là thích ! Có hôm, cậu rủ tôi tát đìa bắt tép, bắt cá, tuy dơ nhưng vui lắm. Cái ao và con mương nhà ngoại vừa là nơi cung cấp nước để tưới cây, vừa nuôi cá, vừa là một thứ ‘hàng ràó mà sau này tôi đã ‘ứng dụng’ trong thiết kế cho những ngôi nhà gần hồ, ao, biển. Cây trái hai bên mương và xung quanh ao xanh um, mát mẻ, có mùa trĩu nặng trái, thiệt là mát mắt.
Chính ngôi nhà của ngoại đã là nguồn ý tưởng dồi dào cho tôi, nhất là với kiểu kiến trúc rất đặc thù dân tc. Có lẽ căn nhà nay cũng đã gần trăm tuổi, tường vách đã nứt nẻ nhiều. Mái ngói nhà ngoại cũng đã xanh rêu nhưng ngoại chỉ thay ngói mỗi khi mưa dt thôi chứ ngoại chẳng muốn thay đổi gì ráo trọi; mặc tình mấy cậu mợ, dì dượng năn nỉ, khuyên can, hay hăm he đủ thứ. Ngoại tôi cứ muốn sống êm ả như vậy cho đến khi ngoại mất. Bây giờ, sau bao năm sống lưu lạc nơi xứ người, khi trở về nhà ngoại, tôi vẫn thấy cậu mợ tôi sống hết sức đạm bạc trong căn nhà cũ kỹ của ngoại. Hình như cậu tôi cứ muốn sống trong kỷ niệm; mặc kệ khu chợ cũ đã xây mới và mấy hàng quán bên mé sông đã hoàn tòan thay đổi. Quê nhà, nơi ấy thay đổi nhiều lắm, chỉ trừ vài căn nhà như căn nhà của ngoại tôi là vẫn như cũ, thậm chí đã ‘xuống cấp’ nhiều quá và hiếm hoi như ...thú hiếm (endangered species). Nghe đâu địa phương đã gạ gẫm cậu mợ tôi sang nhượng để đổi lấy một căn nhà khác mới hơn nhưng cậu tôi vẫn cứ khăng khăng sống trong nếp cũ của căn nhà xưa. Mỗi năm tết đến, cậu chỉ tu sửa chút ít, quét dọn và sơn phết lại cho sạch sẽ, đàng hoàng hơn để trước là cúng ông bà, sau là đón mừng năm mới chứ tuyệt nhiên không thay đổi gì cấu trúc hay tôn tạo cho có vẻ ‘tân thời’, ‘đổi mới’ một chút như bao căn nhà khác ở quê tôi dạo gần đây đã làm. Nhà vốn dĩ đã cũ kỹ, ngày càng sa sút mà con người cậu tôi cũng tàn tạ theo thời gian. Cậu không những gìa đi nhiều mà còn gàn bướng, lạc hậu và khó tánh hơn trước. Ngoài cái tủ lạnh, tivi, radio, quạt máy và cái nồi cơm điện mới sắm, hầu như caí gì trong nhà cũng đều có thể ký gửi vào viện bảo tàng hay ‘trung tâm phế liệu - nôm na là ‘thu mua ve chai, sắt vụn, đồ cũ’. Cậu giải thích với tôi là cậu không muốn bị ảnh hưởng và phụ thuộc quá nhiều vào những ‘thay đổi’ không cần thiết, không phù hợp và không mấy ‘lương thiện’ ("). Lạ một điều, cậu vẫn cứ thích sống như vậy dù rằng cậu là cựu học sinh giỏi của trường Nguyễn Đình Chiễu rất nổi tiếng ở Mỹ Tho, rất giỏi tiếng Tây lẫn tiếng Anh trước khi bị động viên. Tuy nhà ngoại tôi cũ kỹ, vậy mà mỗi khi bước về nhà ngoại, tôi lại có cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng, thanh thản hơn, giữa không khí tĩnh mịch của làng quê Việt Nam sao mà êm ả, thanh bình so với sự ngột ngạt, ồn ào của đô thị văn minh, hoa lệ. Có lẽ từ mái ngói xưa, nền gạch tàu mát lạnh, trong vườn cây râm mát nơi ấy, hay vì được sống bên cạnh những con người mộc mạc, bình dị, hiền hậu mà tôi cảm thấy bớt đi cái stress và sự ngt ngạt của đô thị. Có điều là không ít người như cậu tôi đã không thể thích nghi hay chạy theo sự thay đổi của nếp sống đô thị hóa hôm nay nên dễ bất mãn và lạc lỏng giữa sự phát triển chóng mặt của xã hi thời vi tính điện tử hôm nay. Thiệt tình mà nói, quê tôi cần được tu sửa, cải thiện nhiều lắm chứ không riêng gì căn nhà của Ngoại. Lớp gìa như cậu tôi rồi cũng sẽ ra đi, nhường lại cho đám trẻ đang lớn lên nhanh như thổi sẽ tiếp tục thay đổi tất yếu ở quê tôi để nơi ấy ngày một sáng sủa, tốt đẹp hơn. Chỉ mong sao những xa hoa, suy đồi, truỵ lạc sẽ không làm lớp trẻ quê tôi sa đà, lạc hướng như biết bao thanh thiếu niên Thái Lan, Phi Luật Tân... đã phải trả giá quá đắt cho những baì học nhớ đời khi họ muốn ‘hi nhập’ vào lối sống vật chất phương tây. Cái gì cũng có 2 mặt và đều có cái gía của nó. Ở đâu cũng vậy thôi, huống hồ quê tôi còn lắm người quê mùa, học ít, nghèo khổ, chân chất, dễ tin nên cũng dễ bị lừa mị lắm.

Nếu như hình ảnh ‘Quê nhà’ Mỹ Tho trong tôi chỉ vỏn vẹn là vậy thôi thì Sàigòn trong tôi đậm nét nhất là con hẻm nhỏ dẫn vô khu cư xá Thanh Bình, gần ngã tư Xóm Gà, nằm trên đường Ngô Tùng Châu/ Gia Định đi từ Bà Chiểu về Gò Vấp với đầy ổ gà lầy lội vào mùa mưa, hay với bụi bay mịt mù trong những ngày hè nóng bức, Hai bên con hẻm là 2 dãy nhà phố cất giống hệt nhau vì cùng là khu cư xá nhưng mỗi căn nhà lại được trang hoàng, tô điểm bằng những giàn hoa, cái cổng, hàng rào khác nhau, ngay cả màu vôi, nưóc sơn của cánh cửa, vách tường cũng khác nhau. Nơi ấy, tôi đã có những đứa bạn hàng xóm từng chơi thân với nhau, từng đi học chung với nhau, hay từng đánh ln với nhau te tua, tơi tả. Nơi ấy, có trường Thiên Ca của mấy bà soeur dòng Phăng-xi-cô mà tôi đã lần đầu tiên đến trường, bập bẹ tập đánh vần và tự khép mình vào một thứ khuôn khổ kỷ luật rất nề nếp. Hình ảnh của trường luôn ghi khắc trong tôi, nhất là 2 cây phượng vỹ trong sân trường thường nở đầy hoa đỏ tươi vào mùa hè trong tiếng ve kêu inh ỏi. Khu phố nơi ấy tuy nhỏ hẹp nhưng chất chứa đầy ắp kỷ niệm cả một quãng đời niên thiếu của tôi. Nơi ấy, tôi nhớ nhất là những tiếng rao: từ tiếng rao lảnh lót của bà bán bún riêu buổi sáng đến tiếng rao ‘đặc biệt‘ của chị mua ve chai vào buổi trưa, hay của chị bán chè vào buổi chiều; hoặc với tiếng gỏ lóc cóc vào lúc chiều tối của chú Chệt bên cạnh chiếc xe mì với những tô ‘xí quách‘ hấp dẫn.... Với tôi, những hình ảnh và tiếng rao hàng đó là cả một ‘nghệ thuật’ rất bình dân nhưng đã đi vào tiềm thức của tôi, gieo vào lòng tôi một hình ảnh rất đặc biệt của quê nhà, một âm thanh khó có thể nào quên để thấm dần vào máu thịt, tim óc... Lớn lên một chút, Sàigòn của tôi là trường Lê Quý Đôn, là con đường Trần Quý Cáp với hàng me cao rợp mát mà tôi chỉ kịp nhận biết cái đẹp của con đường này khi lần đầu biết ... yêu và cùng ‘người yêu’ đạp xe về nhà sau khi tan trường; là hồ Con Rùa với những xe bán nước dừa tươi và cũng là nơi hò hẹn của biết bao cặp tình nhân; là sân Hoa Lư với món bò bía và những ly nước mía dâu hấp dẫn sau những trận banh hào hứng của những ‘cầu thủ tí hon’ lớp tôi ; là tiệm cơm tấm trên đường Hiền Vương mà ba tôi thường ghé ăn sáng; hay mấy tiệm phở trên đường Pasteur mà gia đình tôi thường ghé ăn khuya. Có những ngôi trường, con đường, quán ăn, chợ hay tiệm... đã trở thành những địa danh quen thuộc của Saigon mà người ta không thể nào quên. Chẳng hạn, trường Gia Long, Pétrus Ký, Lê Quý Đôn..., hay Dinh Độc Lập, Sở Thú, Bến Bạch Đằng, đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo...; chợ Bến Thành, chợ Bà Chiểu, chợ Bình Tây... Có những kỷ niệm khó có thể quên ở đập Ông Nhiêu & Bưng Sáu Xã trong những ngày lao động thuỷ lợi, quán cơm sinh viên ở trường Sư Phạm, những ly càphê rang trn với bắp tẩm chút bơ ở các quán vĩa hè, những cốc bia hơi nhậu với cóc hay ba khía cho quên bớt sầu lo ... Hình như người Việt Nam rất giàu tình cảm, thích sống với kỷ niệm, thích ăn uống, thích giao du trò chuyện nên biết bao hàng quán, con đường, ngõ phố ... thân quen đã chất chứa biết bao kỷ niệm trong hồi ức từng người Việt. Xa Sàigòn càng lâu mới thấy càng nhớ và thương hơn từng con đường, ngõ phố, hàng quán, ngôi trường xưa, căn nhà cũ ... Hễ gặp nhau nơi xứ lạ, quê người là người Việt lại nhắc nhớ nhau về những con đường, ngõ phố, hàng quán, những ngôi trường xưa, những con người cũ ... Xưa & nay cứ quyện lẫn trong nhau.
Quê nhà của tôi hôm nay không chỉ là căn nhà của ngoại tôi ở Mỹ Tho, hay là đường phố Saigon hoa lệ, tấp nập, ồn ào... mà nơi ấy là đất nước Việt Nam bây giờ đã xa nhiều lắm, không chỉ xa về điạ lý mà xa cả trong cách nghĩ suy của từng con người Việt Nam hôm nay. Những hình ảnh, âm thanh ngày xưa dường như vẫn còn lẩn quẩn đâu đây. Thực tế cảnh cũ, ngày xưa không còn nữa. Nay thay đổi nhiều rồi. Có cái tốt hơn, có cái tệ hơn, song quy luật tạo hóa bắt buc mọi thứ phải luôn thay đổi để tồn tại và phát triển; hay phải bị đào thải hoặc huỷ diệt. Khi mới tập tễnh bước vào sân chơi rng lớn hơn, ai cũng có những bỡ ngỡ, va vấp, sai lầm. Điều quan trọng là làm sao có thể chơi với người ta mà không bị chèn ép, bắt nạt, ăn hiếp, ăn gian, lừa gạt quá đáng và sự chịu đựng nào cũng không thể quá mức được. Quê nhà, nơi ấy vẫn có biết bao người đang cuốn hút vào trò chơi, có kẻ càng chơi càng khá, có người phân vân lưỡng lự, cũng có không ít ‘nạn nhân’ đã vi bỏ cuộc, vấp ngã hay thậm chí mất mạng để đổi lấy những baì học nhớ đời. Quê nhà, nơi ấy vẫn có biết bao kẻ tự xưng là Việt Kiều về nước để gạt gẫm, lừa bịp, hưởng thụ trên sự nghèo khổ, nông cạn của người ở lại; cũng có không ít kẻ đã phải ‘bỏ của chạy lấy thân’ trong đau đớn, tức giận, nhục nhã và cũng có những người âm thầm trở về quê nhà chỉ để làm một chút gì cho kẻ khốn cùng ở quê nhà mà không một chút tự tư tự lợi. Ở đâu cũng vậy: có người tốt & kẻ xấu, có thằng gian manh và có người lương thiện; không chỉ nơi ấy, quê nhà mới có những xấu xa, phức tạp, đảo điên không lường. Thời gian rồi cũng sẽ giúp mọi người có thể nhìn ra đâu là sự thật, là lẽ công bằng, là sự lương thiện, ai là người tốt & kẻ xấu, cái cũ nào không tốt cần bỏ đi, cái hay nào phải giữ lại, cái mơí nào cần học hỏi và phổ biến rng rãi vì ai cũng có trái tim & khối óc, có mắt để nhìn, có tai để nghe và sẽ có lúc phải lên tiếng để tranh đấu cho quyền lợi chính mình. Ngày ấy là cái ngày mà quê nhà tôi sẽ đổi mới thật sự để Việt Nam thật sự cất cánh. Kẻ đi xa, người ở lại đều có bổn phận & quyền lợi như nhau trong việc gìn giữ & phát triển đất nước, đều cần có lòng yêu quê hương để chia sẻ trách nhiệm với tiền đồ dân tc.
Nói nào ngay, xa quê nhà rồi người ta mới thấy nhớ, mới biết thương quê nhà nhiều hơn chứ lúc sống trên quê hương thì đâu mấy ai hiểu được thế nào là yêu quê hương, là nhớ về gia đình còn ở nơi ấy, quê nhà. Khi trở lại nơi ấy thì mới chưng hửng mà bừng tỉnh khi thấy quê nhà hôm nay thay đổi thật nhiều. Người ta cứ muốn sống lại những hình ảnh của một thời nào đó; cho dù cảnh vật và con người ở đâu cũng phải luôn đổi thay từng giờ từng phút, không thể tồn tại bất di bất dịch. Dân Sàigòn, cảnh Sàigòn, những món ăn, những kỷ niệm vẫn khiến tôi luôn gắn bó với Sàigòn, vẫn khiến tôi luôn trăn trở; dẫu cho Quê nhà, nơi ấy đã không còn coi tôi là ‘người Sàigòn’ nữa rồi. Người ta bảo tôi là ‘Việt Kiều’ - một danh xưng mà tôi ghét thậm tệ giống như cái tên gọi ‘con Ngụý khi tôi bị gán ghép vào những năm sau 30/4/1975. Hình như tôi đã là kẻ xa lạ với chính quê hương tôi và đồng bào tôi; cho dù tôi vẫn không hề hợm hĩnh, khoe khoang như bao ‘Việt Kiều’ khác khi về thăm quê tôi. Cứ mỗi lần về thăm quê nhà, tôi lại về thăm đường phố Sàigòn, về lại căn nhà của ngoại tôi như tìm về kỷ niệm của một quá khứ đã qua, tìm lại không khí của ngày nào... Dẫu tôi biết chắc chắn là sẽ không bao giờ tìm lại được ‘ngày xưa Hoàng Thị’ nữa nhưng sao lòng tôi vẫn cứ vấn vương, lưu luyến...về ngày xưa; vẫn băn khoăn, trăn trở với những điều chưa hay, chưa tốt hôm nay của đồng bào tôi ở quê nhà, nơi ấy hiện nay. Dù thế nào đi nữa, tôi biết tôi vẫn là một người Việt với một con tim và biết bao suy nghĩ về Quê nhà, nơi ấy - bây giờ ra sao bạn nhỉ"
Hướng Dương (tháng Năm 2003).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.