Hôm nay,  

Nhà Văn Chọn Bên

31/03/200300:00:00(Xem: 4396)
Tôi chọn sống ở miền bắc, thay vì miền nam Việt Nam.
(câu nói của Graham Greene)
Trong cuộc chiến Việt Nam, đa số nhà văn trên thế giới đã chọn miền bắc thay vì miền nam, và đây là một quyết định, theo ông, "hợp lý cho tới khi cuộc chiến chấm dứt". Thành thử, một lời cảnh báo vào những ngày như thế này, là rất quan trọng. Sự kiện một siêu cường gần như độc nhất trên thế giới lao mình vào một cuộc chiến, sau những kinh nghiệm đau thương ở Việt Nam, là một vấn đề thật sự không đơn giản.
Trong tác phẩm nghiên cứu Một Vấn Đề Từ Địa Ngục, [xin xem bài điểm sách này trên trang Tin Văn:http://demthu.lonestar.org/~tinvan/unicode/index.html], tác giả Power cho rằng, ngay khi Hitler ló mùi làm cỏ dân Do Thái, nếu Washington và London "làm một cái gì đó", thì có thể đã không xẩy ra vụ Lò Thiêu. Và nhân loại phải đợi tới tháng Tám, tân thiên niên kỷ (2001), khi Radislav Krystic tư lệnh quân đội Serbs tấn công những vùng an toàn được LHQ bảo vệ, ông ta mới là người đầu tiên được dán nhãn hiệu: phạm tội ác diệt chủng.

Thập niên 1980, Iraq lâm chiến chống Iran của Khomeini, ông giáo chủ này tố cáo Mỹ là Quỉ Bự (Great Satan), Mỹ đã hỗ trợ Iraq và làm ngơ chuyện Saddam Hussein sử dụng hơi độc giết dân Kurds, chiếm 1/4 dân số trong nước của ông ta. Vào những năm 1987 và 1988, ông ta đã làm thịt gần 100 ngàn dân Kurds, phá hủy làng mạc, toan tính làm cỏ sạch người, và luôn cả văn hóa của sắc dân này. Chính quyền Reagan đã vờ đi, vẫn chấp nhận chế độ Baghdad như là đồng minh của họ.
Power đã nhấn mạnh tới hai lý do đưa đến sự thất bại của thế giới và đặc biệt, của Hoa Kỳ, trong việc ngăn chặn những tội ác diệt chủng nói trên. Lý do thứ nhất: cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, vốn được gọi bằng cái tên hoa mỹ là: không muốn xâm phạm chủ quyền của một nước khác, vì đây là công chuyện nội bộ của họ. Hậu quả của nó, khi bạn làm cỏ một vài sắc dân thiểu số, thì đó là quyền của bạn, tôi không dám xía vô. Thổ Nhỹ Kỳ vào năm 1915, Hitler thập niên 1930, và 40, Pol Pot, Saddam Hussein, Slobodan Milosevic... đã lợi dụng quyền tự do làm gì thì làm, ở bên trong nước của họ. Lý do thứ nhì thực sự không liên quan tới lý do thứ nhất: Những người giữ trách nhiệm, quyết định đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ - và có thể nói, của đa số nước trên thế giới - thường cảm nhận về chính họ, như là những con người thực tế (realists), hành động vì lợi ích của chính quốc gia họ và ít quan tâm tới công chuyện nội bộ của nước khác. James Baker, cựu bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đã diễn tả thật tuyệt vời tính thực tế này, qua câu nói, khi xẩy ra những vụ làm cỏ người (ethnic cleaning) tại Bosnia: Chẳng có một con chó Mỹ nào bị kẹt ở đó (We don't have a dog in this fight: Chúng ta không có một con chó nào ở trong trận đánh). Toan tính, hành động nhằm ngăn chặn tội ác diệt chủng là phải sử dụng tới sức mạnh, và sẽ hao tiền của, tốn nhân mạng, và đây là một điều mà những nhà lãnh đạo khôn ngoan, cẩn trọng, không muốn, cái sẩy nẩy cái ung.


Nhìn theo quan điểm này, mới thấy cái ung sẽ khủng khiếp như thế nào, cả trong hai tình huống: Mỹ và Anh thắng, hay... bại, ở cuộc chiến Iraq.
*
Vào ngày 17 tháng Giêng 1970, tờ Thời Báo Luân Đôn cho đăng lá thư ngỏ của người con trai 17 tuổi của nhà văn ly khai người Liên Xô, Yuri Daniel, gửi cho nhà văn người Anh, Graham Greene, cầu cứu ông này can thiệp cho ông bố bị nhà nước Liên Xô cho nắm ấp, khi tình trạng sức khỏe của ông bố coi bộ không xong. Ông nhà văn nguòi Anh bèn lên tiếng, trong một lá thư, trích đoạn sau đây:
"Lá thư này đúng ra là gửi tới báo Pravda và báo Izvestia, nhưng hai báo này đã vờ đi [đã thất bại trong việc cho in] không đăng những lời phản đối của những công dân Xô Viết, khi xẩy ra vụ án xử hai nhà văn ly khai Daniel-Sinyavsky, thành thử tôi đâm ra cũng ớn, rằng lá thư của tôi cũng chịu chung một số phận như trên.
Như nhiều nhà văn Anh, tôi đang đợi nhận tác quyền ở Liên Xô, nơi hầu hết những cuốn sách của tôi đã được xuất bản. Tôi đã viết thư cho ông Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn Liên Xô ở Moscow, nhờ ông ta giúp giùm tôi một việc, là chuyển những số tiền đó, tới Bà Sinyavsky và Bà Daniel, hầu các bà có thêm chút "xây sả", và đi thăm nuôi chồng hiện đang ở tù.... Tôi chẳng thấy thú vị gì, lại đi thăm Liên Xô vào lúc này, bằng số tiền đó, một khi mà những nhà văn trên còn nằm trong tù, cho dù kỷ niệm những chuyến đi vui vẻ hạnh phúc cũ, vẫn còn ngời ngời ở trong tôi.
Có nhiều cơ quan, thí dụ như Đài Phát Thanh Âu Châu Tự Do, mở ra những chiến dịch chống lại Liên Xô, Tôi mong rằng những cơ quan như trên đừng coi lá thư này của tôi, như là một cú chống Liên Xô. Nếu tôi phải chọn sống, ở Liên Xô hay ở Hoa Kỳ, tôi chắc chắn sẽ chọn Liên Xô, cũng như vậy, tôi sẽ chọn Cuba để sống thay vì những nước cộng hòa ở Nam Mỹ, như Bolivia, bị láng giềng phương bắc thống trị. Hay là sống ở Bắc Việt Nam thay vì Nam Việt Nam. Nhưng bạn càng yêu một miền đất bao nhiêu, bạn càng bị lôi cuốn vào việc lên tiếng phản đối bấy nhiêu, một khi công lý bị thất bại ở miền đất đó."
Thái độ của Greene, chọn sống ở Liên Xô thay vì Huê Kỳ như trên, đã bị nhiều ký giả phóng viên nhiều báo sỉ vả. Chỉ có một người bênh ông, là James Brazil (từ Ilford). Ông này nhận xét:
"Ông Greene, như nhiều người, nhận thấy thật khó khăn, khi phải hòa giải, một bên là lòng ngưỡng mộ cách sống Xô Viết, (the Soviet way of life), và một bên là hình thức toàn trị của chính quyền ở đó, tức cái chính quyền đã làm cho lối sống kia trở thành khả hữu. Tôi tin rằng sự lưỡng lự, phải nói là sự lầm lẫn của ông, là thành thực. Nhà văn người Nga, Dostoevsky đã từng nói: ".... Cái đầu con người ta, nếu một khi chấp nhận ý tưởng bình đẳng (equality, ai cũng như ai), thế là mất đi ý niệm về tự do. Nếu ôm lấy tự do, là mất tiêu bình đẳng." (".... the human mind, if it accepts the idea of equality, almost invariably loses the concept of liberty. If it maintains the idea of liberty, it loses the conception of equality).
Jennifer Tran giới thiệu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.