Hôm nay,  

Khách Trần

21/08/200600:00:00(Xem: 7755)

Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rõ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất bình an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại đi. Chủ quán chẳng vì người trước hay kẻ sau mà di chuyển.

Hạnh phúc hay đau khổ, giầu nghèo hay sang hèn đều là khách trần, đến rồi đi.

Bản Tâm ta là chủ quán, trụ trong an tịnh, không đến cũng không đi.

Khách trần đến rồi đi là sinh diệt.

Bản Tâm không xao động, không di chuyển là thường hằng.

 Tự thể của tâm là Không Tánh. Đó là tự tánh Bát Nhã, không trong không ngoài, không nhơ không sạch, không thêm không bớt ... Chỉ có giòng tương tục của tâm, khi xúc cảnh, khởi phân biệt mà bị nhận diện là có nhiễm ô phiền não hay không mà thôi. Khi tâm đạt được thể Không Tánh, tức là trụ được trong bản chất đích thực thì phiền não thế gian sẽ chỉ như những khách trần, như những hạt bụi luôn xô đẩy nhau, lao xao biến hoại trong hư không mà chẳng hề khiến hư không giao động.

Lý thì như thế nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn là thế. Khi học đạo, chúng ta thường được quý minh sư nhắc nhở phải giữ ý buông lời, nắm lấy chủ ý để khi thực hành, khi va chạm, biết tùy cảnh huống mà quán xét, chớ như ngài Huệ Khả, vì chấp văn tự mà uổng phí bao năm đi tìm sự an tâm cho đến ngày gặp Tổ Đạt Ma mới chứng ngộ.

Cũng thế, chẳng phải trước mọi cảnh huống tâm đều biểu lộ tự tại mới là tâm trụ nơi Không Tánh. Trong Đại Trí Độ nói rằng Bồ Tát Thường Đề thực hành Đại Bi Tâm, tu tập Bát Nhã Ba La Mật rất thuần nhuyễn, uyên áo, nhưng nhìn thấy chúng sanh quá trầm thống trong biển khổ nên đôi mắt ngài lúc nào cũng đẫm lệ. Lệ này chắc chắn không phải lệ bi thương ủy mỵ nên lệ này chẳng thể làm xao động tâm an trụ. Lệ này khởi từ lòng bi mẫn chỉ khiến Bồ Tát xả thân nhiều hơn.

Với tâm thế nhân thì ý niệm yêu thương thường hạn hẹp, vị kỷ. Khi yêu thương ai, ta phải được đáp lại, được gần gũi mới là hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng tình yêu của Đức Thế Tôn thì khác. Thế Tôn yêu thương mọi người mọi loài bình đẳng nên suốt bốn mươi chín năm trên đường hoằng hóa, Thế Tôn đã độ cho bất cứ ai mà ngài có thể độ, từ em bé chăn trâu, người gánh phân, tên sát nhân cho tới hàng vua chúa, vương tôn công tử. Bước chân Thế Tôn tới đâu là quà tặng an lạc được trao tới đó. Kẻ nhận quà, nếu biết thụ hưởng thì dù Thế Tôn còn đó hay đi xa, quà tặng đã trở thành gia tài của người nhận.

Điều này thể hiện rất rõ trước phút Thế Tôn nhập Niết Bàn. Giữa rừng cây sa-la đầy hoa trắng, Thế Tôn đã ân cần nói với các đệ tử thân yêu quanh ngài rằng “Sau khi ta diệt độ thì Pháp và Luật mà ta để lại chính là ta, là đạo sư của các con. Tuân hành và tu tập theo Pháp và Luật đó chính là các con vẫn luôn ở gần ta, là ta không từng rời xa các con”.

Nghe những lời dặn dò đó, tôn giả Anan cũng phải nín bặt khi đang úp mặt vào thân cây, nức nở khóc. Nhưng sự nín bặt đó cũng chỉ là hình thức ngưng lệ chảy mà thôi chứ đâu thể ngưng được lòng buồn khổ. Chẳng phải riêng ngài Anan mà hầu hết những đại đệ tử của Phật đều không thể dễ dàng chấp nhận sự bình thản khi Thế Tôn ra đi, dù trên lý, các ngài đều đã hiểu rất rõ lời Thế Tôn căn dặn.

Lòng hoài vọng nhớ thương Tôn-sư đã lồng vào Pháp và Luật,  nên suốt thời gian dài sau đó, Tăng đoàn tuy vẫn học, vẫn tu mà vẫn âm thầm buồn bã, vì sự thiếu vắng hình bóng vị Thầy tột cùng tôn quý, là khoảng trống chẳng một ai có thể thay thế được.

 Những đại đệ tử, những tỳ-kheo được thân cận và học hỏi trực tiếp từ Đức Phật mà còn khó ngăn cảm xúc như thế, huống chi  chúng ta, hàng hậu duệ vô minh cách xa Phật gần hai ngàn sáu trăm năm, tất nhiên còn yếu đuối tới đâu ! Điều quan trọng là khi ta biết ta yếu thì hãy nhắm mắt, thở thật sâu, niệm hồng danh Đức Thế Tôn, xin Từ Phụ truyền năng lượng để ta trở về được chánh niệm. Đừng nản lòng vì những lời trách cứ thiếu từ bi của thế nhân như “Phật dạy mọi sự vô thường, sao lại bi lụy ở những cái vô thường vậy"” hoặc những câu hỏi thiếu thiện chí tìm cầu mà chỉ nặng phần gay gắt như “ Quý vị được dạy là bản- thể-Như-Lai vốn thanh tịnh, sao còn phải tu để được thanh tịnh "”

Chúng ta phải tập quen với tâm thế gian này, để nhẹ nhàng phân giải rằng, bản-thể-Như-Lai quả là vốn thanh tịnh nhưng vì bị vô minh che lấp, duyên theo huân tập vô minh mà sanh ra hiện tượng khổ đau phiền não.

Đó là trạng thái bản thể duyên ra hiện tượng.

Chúng sanh luôn ở trong trạng thái  này nên chúng sanh cần phải nỗ lực tu, vận dụng Tăng, Thượng, Huệ để đối trị tà kiến, ái dục, ngã mạn mà trở về bản thể trong sáng của mình. Thành Phật là chuyển hóa trí tuệ, đạt tới vô thượng Bồ-Đề và giữ được tâm này thường hằng, không hề đứt đoạn.

Có lẽ Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất không nhận mình là giáo chủ, là thánh, là thần, là cao tột, khác biệt với mọi người. Ngài chỉ nhận là mình đã thấy được lẽ vô thường, đã nhận ra bản chất đích thực cao quý trong mỗi tấm thân tứ đại vô thường, đã tìm ra cai ngục tên là Vô Minh, hằng nhốt chúng sanh trong luân hồi tăm tối. Ngài chỉ là người thấy trước nên ân cần chỉ dạy lại cho những ai muốn thoát khỏi quỹ đạo khổ đau này. Những ai TIN lời ngài, NGUYỆN theo đường ngài đi, PHỤNG sự tuân thủ những pháp môn ngài chỉ và HÀNH trì nghiêm chỉnh những gì học hỏi được thì người đó cũng bình đẳng với ngài. Ngài là Phật thì người đó cũng là Phật.

Lời ngài nói trung thực và đơn giản thế thôi.

 Gần hai ngàn sáu trăm năm, Đức Phật đã là ông chủ quán nhìn tường tận nhất, những khách trần đến rồi đi, sinh rồi hoại. Ông chủ quán chưa hề rời quán vì ông thường hằng hiển hiện sáng ngời qua Pháp và Luật ông để lại.

Lành thay, những khách trần sớm biết mình là bụi để kịp dừng lại lao  xao mà tĩnh lặng với hư không trong vô sanh bất diệt.

Đó chính là những chúng sanh đã giác ngộ nên chuyển hóa được thân phận Khách Trần của mình để trở thành Chủ Quán.  

Tôi không nhớ mấy câu thơ không đầu không cuối này từ đâu, do vị nào viết, nhưng chính cái chất liệu lơ lửng này lại khiến ý thơ tràn đầy bát ngát. Xin tác giả cho phép ghi lại đây, thay búp tay sen để được dừng bút:

“Tâm sầu lắm ư"

Thôi đi nhị kiến,

Chẳng còn ba, tư

Trên con đường thật

Người về với NHƯ.”

Diệu Trân

(Như-Thị-Am, tháng tám, 2006)      

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
PNTR, có thể còn trở ngại vì lãnh đạo VN vẫn chưa bình thường hóa quan hệ với chính người dân của mình, chẳng tôn trọng tự do, nhân quyền và những quy tắc hành xử văn minh tối thiểu. Tuần qua, vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã tan vỡ tại Genève. Diễn đàn Kinh tế tuần này sẽ trao đổi cùng
Ấy, đây cũng chính là điểm băn khoăn của tôi khi không dưng bỗng khởi niệm thắc mắc “ Lạ, sao trong sách vở, văn chương, ít tìm thấy những giai thoại về “cô Điệu”, hay gần như là không thấy, không có; hay có rất ít mà tôi không biết (tôi vốn không biết nhiều thứ !) Ngay cả những gì về chú Điệu cũng ít được ghi lại, dù từ
Tuy nắm quyền từ 1917, đảng Cộng Sản Nga còn phải tiêu diệt nhóm Bạch Nga bảo hoàng, ổn định tình hình nội bộ, nắm quyền thật vững chắc, mới thành lập Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) ngày 30-12-1922. Từ đây, Liên Xô bắt đầu kiếm cách bành trướng thế lực ra nước
Món Snack Wrap mới này được làm bằng thịt ức gà thượng hạng thật ngon ngọt dòn tan, phô-mai Cheddar Jack, xà lách dòn và nước xốt Ranch thật ngậy, gói trong bánh bột 
Trong đời sống chính trị của một quốc gia, đa số thầm lặng thường được hiểu là khối đa số dân chúng có thái độ phản kháng thụ động đối với chính sách của nhà cầm quyền nhưng cũng không tán thành phương thức tranh đấu của những nhóm chính trị cực đoan, do đó đa số thầm lặng không có vai trò và ảnh hưởng gì tới các
Liên tiếp trong 4 ngày cuối tháng 7 (25, 26, 27, 28) bà con dân oan 3 miền tụ tập trước cửa nhà các lãnh đạo cộng sản để quấy rối, phát huy quyền dân chửi, đòi lại quyền lợi cho mình. Những tên vinh dự nằm trong bộ nhớ của bà con đều là cán bộ
Hôm nay tôi sẽ trình bày về đề tài Mười Hai Nhân Duyên dựa theo kinh Trường Nikaya (Digha Nikaya) do Maurice Walse dịch ra từ tiếng Pali. Bài trình bày này dựa vào quan niệm của Maurice Walse và kiến giải riêng của tác giả, cộng thêm một số từ ngữ tiếng Anh và tiếng Pali để dễ bề tham khảo. Chuỗi mười hai nhân duyên
Theo ghi nhận của báo Sài Gòn Tiếp Thị, hiện nay tại TP.SG, không có cơ quan chức năng nào có thể thống kê được có bao nhiêu bến taxi. Thế nhưng ở bất kỳ đâu, từ nhà hàng, vũ trường, quán bar đến khách sạn, bệnh viện, đâu đâu cũng thấy được cuộc chiến với những "luật bến bãi" trong việc tranh
Cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2006 cuộc chiến Trung Đông giữa Do Thái và chính quyền Palestines lại bùng nổ. Lần này Do Thái mở hai mặt trận, một ở phía nam (26/6) tiến vào giải đất Gaza mà Do Thái đã rút quân và giải tỏa các khu định cư năm ngoái và mặt trận phía bắc (13/7) tiến vào nam Liban họ đã rút quân ra năm 2000
Israel đang lâm cuộc cờ nguy ngập nhất kể từ khi thành lập…. Kể từ khi được thành lập - 1982 - công khai xuất hiện - 1985 - và khai chiến với Israel ngày 11 tháng Bảy vừa qua, lực lượng Hezbollah đã chiếm thế thượng phong. Lãnh đạo của họ, hay những kẻ bảo trợ đằng sau, có thể đã nắm vững nghệ thuật đánh cờ "Vi".
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.