Hôm nay,  

Cám Ơn Mr. Grass.

13/12/200300:00:00(Xem: 5425)
Đầu năm 2000, văn giới hải ngoại có gửi thư ngỏ dưới đây, tới nhà văn Đức, Gunter Grass. Sau đó, ông, và sau đó, Hội Văn Bút Đức, có lên tiếng, và - có thể còn do nhiều yếu tố khác nữa - trường hợp đã được giải quyết đúng như sự mong muốn của tất cả.
Thay mặt tất cả, xin cám ơn ông, Mr. Grass.
TIN VĂN
Giáng Sinh 2003

Sau đây là tài liệu liên hệ.
Thư Ngỏ gửi Guenter Grass
LTS: Hai nhà văn Việt Nam đang gặp nguy cơ bị toà án Đức Quốc ra lệnh trục xuất về Hà Nội. Một số nhà văn hải ngoại đã cùng ký tên dưới bức thư ngỏ gửi nhà văn Guenter Grass, nhờ ông lên tiếng trong trường hợp này. [Việt Báo online]
[Theo như chúng tôi được biết, bản dịch tiếng Đức đã được chuyển tới Guenter Grass, cùng với lá thư, của một người bạn của ông, có quen biết gia đình DQN/LMH. (Chúng tôi đăng kèm theo đây, lá thư đã được dịch ra tiếng Việt của ông). Và Grass đã lên tiếng hỗ trợ. Ngoài ra, Hội Văn Bút Quốc Tế (PEN), chi nhánh Đức, cũng đã liên lạc qua luật sư của Hội với luật sư của gia đình DQN/LMH.]
Cầu chúc mọi chuyện an lành.
Dear Mr. Guenter Grass,
Thưa Ông,
Chúng tôi, một số người cầm viết Việt Nam, rời bỏ quê hương sau khi chiến tranh kết thúc trên 10 năm mà vẫn không có cơ hội được viết ở bên ngoài Đảng CS; viết thư này để xin ông bênh vực cho hai người, nhà thơ và nhà văn, đi từ Hà Nội, xin được định cư ở Đức để tiếp tục là những nghệ sĩ trung thành với tiếng nói của họ.
Đúng ra, người viết thư này phải là họ, những người khách mời bất đắc dĩ của quê hương của ông. Thay vì vậy, lại là những lời cầu mong sự can thiệp của ông, về số phận của họ. Nhưng có lẽ một người thứ ba, là chúng tôi, nói thay cho họ, như vậy lại dễ dàng hơn.
La seule noblesse est la noblesse de la douleur (Baudelaire): họ có quá nhiều tự trọng, và hổ thẹn, khi phải nói về số phận của họ, về nguyên nhân từ bỏ quê hương là một nước Việt Nam Cộng Sản, để xin tị nạn ở Đức. Họ đã bị bác đơn, vì theo tòa án, như chúng tôi được biết, đây là một nhà văn, mà văn chương đâu phải là một lý do để xin tị nạn chính trị.
Khi trả lời Olivier Mannoni, trong một phỏng vấn dành cho báo Magazine Littéraire, số 381, Novembre, 1999, ông cho biết, sau cuộc chiến, và trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nước Đức đã bị tuyệt đối chia cắt, về phương diện ý thức hệ, kinh tế, quân sự; nhưng văn chương, không. Hai nền văn chương cho dù nếu có tính xung đột, vẫn có những tương quan, giao tiếp với nhau. Và cuộc đối thoại này đã không hề bị đứt đoạn.
Văn chương Việt Nam không được may mắn như vậy. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh toàn cầu, và chiến tranh nóng tại Đông Dương, văn chương Việt Nam đã bị chia cắt và ô nhiễm. Những nhà văn của cùng một ngôn ngữ là tiếng Việt đã không được phép, và chẳng làm sao có cơ hội nhận ra nhau, để thông cảm như những người cùng chung môi trường sống và định mạng lịch sử, ngay cả khi đất nước đã được thống nhất (trước Đức 15 năm), và dân chúng của nó phải chạy ra biển, ở cả hai miền Nam và Bắc.
Với nhà văn, mất mát luôn luôn là thu nhập, (pour un écrivain, une perte est toujours un gain), như ông trả lời phỏng vấn trên tờ Lire, nhân cuốn "Tất cả câu chuyện" được dịch ra tiếng Pháp; đã có những tiếng nói văn chương phản kháng ở trong nước, hay tiếp nối dòng văn chương của Miền Nam trước 1975 ở hải ngoại; nhưng tiếng nói Miền Bắc, đối thoại thực sự với tiếng nói Miền Nam, chưa có.
Đỗ Quang Nghĩa và Lê Minh Hà là cơ hội đầu tiên của chúng tôi.
Những nhà văn Việt Nam trưởng thành khi cuộc chiến Đông Dương ngưng lần thứ nhất, đã để lỡ cơ hội ngay sau năm 1954, khi không hòa giải được với nhau qua tiếng nói và qua sinh mệnh của dân tộc. Một số nhà văn Miền Bắc thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã nhận ra hiểm họa, khi sử dụng văn chương vào những mục đích chính trị nhất thời là làm cho nó bị tổn hại, và hậu quả sẽ không thể lường được. Họ đã yêu cầu Đảng và Nhà Nước: hãy lấy tất cả, nhưng trả văn chương cho chúng tôi. Nhà văn Phan Khôi đã nói thẳng với những nhà văn nhà nước: Đảng dậy chúng ta (làm) chính trị, chứ đâu dậy chúng ta (làm) văn chương! Nhà thơ Trần Dần, đã nhìn sự huỷ diệt thủ đô lịch sử và văn hóa, và cùng với nó là biểu tượng của cả một dân tộc, qua viễn ảnh Tận Thế Là Đây:
Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.
Họ đã bị tù đầy, cô lập về kinh tế, đi lại, và cuối cùng tiếng nói văn chương thực sự của một miền đất nhằm chống lại chính sách độc đoán, toàn trị của Đảng CSVN đã bị bóp nghẹt vào năm 1958, trước khi cuộc chiến Đông Dương lần hai khai màn.
Ở Miền Nam, những tiếng nói hòa giải, chống chiến tranh của Phật Giáo, nghệ sĩ, trí thức, sinh viên, thanh niên cũng đã bị chính quyền Sài Gòn bóp nghẹt.
Chúng ta hãy giả sử, nếu hai tiếng nói đó cùng cất lên, mở ra một lối thoát cho xã hội, cho văn chương, cuộc chiến khốc liệt giữa hai miền có thể đã không xẩy ra.
Tòa án Đức có thể suy nghĩ: trả nhà văn Lê Minh Hà về nước, chắc chắn bà và gia đình sẽ bị trù giập, nhưng chưa chắc sẽ bị giết hại; nhưng cái cơ hội được như văn chương Đức, như ông nói tới trong bài phỏng vấn, biết đến khi nào đất nước chúng tôi mới có được" Mới đây thôi, nhân dân Đức, qua chính quyền liên bang, và Viện Goethe tại Hà Nội, có nhã ý cho dân chúng Việt Nam được thưởng thức Cái Trống Thiếc, phim dựa trên tác phẩm của ông và đã từng đoạt giải thưởng Oscar. Nhà cầm quyền địa phương yêu cầu cắt bỏ hai phút của phim, với lý do trái thuần phong mỹ tục ở Việt Nam. Volker Schlondorff, nhà đạo diễn, quyết định tôn trọng và bảo vệ sự vẹn toàn của tác phẩm nghệ thuật; và có thể cũng là để đề kháng với một uy quyền nào đó đè lên con người sáng tạo, ông đã từ chối cho chiếu phim. "Hãy bỏ qua sự khốn cùng. Phong tục mời bạn bỏ qua nó", "Ignore the misery. Custom invites you to ignore it", như ông viết về phận người ở India nhân một chuyến du lịch tại đây: Đến Việt Nam như một nghệ sĩ, nhà đạo diễn đành làm một người khách du lịch. Trong hoàn cảnh đó, làm sao một người viết như Lê Minh Hà, một khi bị trả về, lại có thể dõng dạc "há mồm ra", như một cách gọi đáng yêu của ông, về truyền thống Âu Châu, trong đó có truyền thống Đức"


Tòa án Đức cũng đã bỏ qua hoàn cảnh nguy nàn của Đỗ Quang Nghĩa, người chồng Lê Minh Hà, một nhà thơ tiếp nối tinh thần nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt qua Trần Dần. Gia đình ông bị liệt vào thành phần phản động. Trong thời kỳ chiến tranh với Miền Nam, dù Miền Bắc hầu như đã kiệt cạn nhân lực, nhưng Đảng CS đã không sử dụng tới gia đình này. Một người anh em của ông được đưa vào Nam chiến đấu, phút chót bị gọi về, bởi vì Đảng CS và Nhà Nước lo sợ, họ sẽ làm gián điệp cho Miền Nam.
Trong một bài điểm sách khi tác phẩm đầu tay của Lê Minh Hà, tập truyện ngắn Trăng Góa xuất hiện ở hải ngoại (1998), chúng tôi có nhắc tới trường hợp cuốn Dr. Zhivago, của Boris Pasternak, và bài viết của George Steiner, khi điểm cuốn Văn chương và Cách mạng (Literatur und Revolution), của Jurgen Ruhle. G. Steiner cho rằng, Ruhle đã nhận ra ở Pasternak tiếng nói đích thực của Nga, và cùng với nó, viễn ảnh vượt lên mọi oan khiên và tàn bạo của nhất thời; và đồng ý với Edmund Wilson khi tìm thấy ở nhân vật Lara và Zhivago một thách đố không thể trả lời đối với chủ nghĩa duy lịch sử và định mệnh thuyết chối từ cuộc đời của ý thức hệ Cộng sản. Thật hiển nhiên, nếu Pasternak có thể giữ riêng cho mình một tình yêu nổi loạn, riêng tư ngay trong lúc ăn nằm với Liên bang Xô viết, điều này chứng tỏ tinh thần Nga vẫn còn sống ở bên dưới lớp băng là kỷ luật Đảng.
Từ lâu, chúng tôi vẫn cố tìm cho được cái tình yêu nổi loạn ngay trong lúc phải ăn nằm với chủ nghĩa toàn trị, của cái gọi là tinh thần Hà Nội, thủ đô văn hoá truyền thống, lâu đời của đất nước chúng tôi.
Sau này, chúng tôi nhận thấy nó, ở Vũ Thư Hiên, và Đỗ Quang Nghĩa & Lê Minh Hà.
Chúng tôi xin được mạn phép nói riêng về Vũ Thư Hiên, như một trường hợp tiền lệ ở đây. Ông là một nhà văn, một dịch giả, và một đạo diễn nổi tiếng ở Hà Nội, đã từng du học ở Nga. Sau 1989, ông đang viết một cuốn hồi ký tại Moscow thì bị Đảng CSVN cho người đàn áp và tịch thu bản thảo ngay khi còn ở trong máy điện toán. Ông đã chọn lựa xin tị nạn ở Pháp, ra đời được tác phẩm của mình, Đêm Giữa Ban Ngày, và hiện được Hội Đồng Âu Châu bảo vệ.
Trong Trăng Goá, nhân vật nữ đã phải đi bước nữa sau khi người chồng mất đi vì hậu quả của chất độc hóa học khi chiến đấu tại biên giới phía Bắc. Bà tự nhủ lần này lấy chồng là tìm cha cho đứa nhỏ: đây là giọng nói của một người đàn bà Miền Bắc Việt Nam, tuy hết hy vọng về mình nhưng vẫn còn hy vọng về con, tuy mệt mỏi nhưng không chịu bị bẻ gẫy. Thứ tiếng nói đó, ngôn ngữ đó, là ngôn ngữ của cả một miền đất đang chuẩn bị thoát ra khỏi bóng đen, như ngôn ngữ Đức sau chiến tranh, bông sen trong biển lửa, hay là giọng con phượng hoàng đưa mỏ ra khỏi Lò Thiêu, như Salman Rushdie nhận định về ngôn ngữ văn chương của Heinrich Boll và của ông.
Trong quá khứ ông đã nhiều lần lên tiếng hỗ trợ những người cầm viết bị xua đuổi, bách hại. Ông cũng đã từng đề nghị chia một phần vinh quang với nhà văn Christa Wolf, trước đây ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức, khi biết tin nhận giải Nobel. Chúng tôi hy vọng tiếng nói của ông lại một nữa cất lên, giúp cho những con người khốn khổ vì đam mê tự do và ngôn ngữ như Đỗ Quang Nghĩa và Lê Minh Hà có được một cơ may làm một người nghệ sĩ trọn vẹn.
Trân trọng,
Bùi Vĩnh Phúc, Cao Bá Minh, Cao Xuân Huy, Châu Văn Thọ, Đỗ KH, Đỗ Ngọc Yến, Hoàng Khởi Phong, Hoàng Phủ Cương, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Hồ Minh Dũng, Khánh Trường, Khế Iêm, Khiêm Lê Trung, Lâm Chương, Lê Bi, Lê Thứ, Lê Thị Thấm Vân, Lê Thọ Giáo, Lưu Nguyễn, Lưu Hy Lạc, Luân Hoán, Mai Kim Ngọc, Mai Ninh, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Hương, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Quí Đức, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Văn Sâm, Nhã Ca, Nhật Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Tiến Văn, Nguyễn Quốc Trụ, Phạm Trần, Phạm Phú Minh, Phạm Việt Cường, Phan Thị Trọng Tuyến, Phan Tấn Hải, Phùng Nguyễn, Tạ Chí Đại Trường, Thân Trọng Mẫn, Thảo Trường, Thường Quán, Trầm Phục Khắc, Trân Sa, Trần Dạ Từ, Trần Doãn Nho, Trần Vũ, Trịnh Y Thư, Trúc Chi, Triều Hoa Đại, Trương Vũ, Tưởng Năng Tiến, Tường Vũ Anh Thy, Vũ Huy Quang.
Danh sách bổ túc, từ tuần báoVHNT trên lưới Internet, địa chỉ http://www. saomai.org:
Phạm Chi Lan, Thận Nhiên, Thu Thuyền, Hoàng Tường Anh, Nguyễn Tiến Dũng, Don Do, Vinh Toan, Y khanh, Đức Thuần, Phạm Thế Định, Phuong Ton, Lê Tạo, Sùng Nguyễn, Đinh Trường Chinh, Hien Dinh, Nguyễn Phước Nguyên.

Sau đây là thư của bạn nhà văn Guenter Grass, nhờ can thiệp cho gia đình nhà văn người Việt.
Raimund B. Zoellner
8 tháng 1 năm 2000
Guenter Grass thân mến,
Cho phép tôi gọi ông như thế bởi tôi đã từng, ở thời kỳ trước và sau khi quyển 'die Blechtrommel' (Cái Trống Thiếc) ra đời, ở bên ông, tổ chức đọc, hẹn ngày gặp lại và góp sức thành công cho cuốn sách, như nhân vật Luchterhand.
Hiện thì tôi đang lo lắng đến một bi kịch chính trị - nhân đạo của Lê Minh Hà và Đỗ Quang Nghĩa, một đôi vợ chồng người Việt cùng hai đứa con nhỏ, có thể họ cũng gây được mối quan tâm, về mặt văn học, nơi ông.
Ông sẽ biết rõ hơn khi đọc xong tập bài vở kèm theo.
Tôi quen biết hai người này từ nhiều năm nay, số phận tỵ nạn chính trị của họ sao nặng nề, và hoàn cảnh trói buộc họ, vì sự chờ đợi, ở thời điểm này, đầu thế kỷ này.
Tôi bảo đảm cho họ về sự đáng tin cậy mặt tình cảm cũng như lý trí, về sự trình bày con đường họ đã đi ở Việt Nam và ở nước Đức. Nhưng tôi cũng biết, một sự xử lý nhân đạo cho gia đình họ - để họ đoàn tụ, và sống dài lâu ở đây - sẽ bị thất bại trong mớ bùng nhùng của chính sách tỵ nạn Đức, bởi tại các văn phòng xử lý công việc chỉ thống trị sự vô cảm khủng khiếp, sự ngu dốt và 'trung thành với pháp luật'. Nhân đạo không có chỗ đứng ở đó.
Sự giận dữ đến mất bình tĩnh và mất khôn cũng không giúp gì, tôi biết thế.
Không rõ vị thế và tên tuổi của ông có thể can thiệp vào việc này ở mức độ nào, tôi cứ hy vọng mỏng manh, Guenter Grass thân mến, tôi, 'nhân vật Luchterhand già', gửi lời chào ông.
Ký tên
Ghi Chú: Thư Ngỏ của văn giới Việt Nam hải ngoại, lần thứ nhất đăng trên Việt Báo, sau trên Thông Luận, và trên Văn Học Nghệ Thuật, trên lưới toàn cầu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.
Trong hơn hai thế kỷ qua, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã “trưởng thành” cùng đất nước thông qua các tu chính án. Những sửa đổi mang tính lịch sử như Tu Chính Án 13 (xóa bỏ chế độ nô lệ) hay Tu Chính Án 19 (mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ) là minh chứng rõ ràng cho tinh thần ấy: Hiến Pháp không phải là những điều bất biến, mà là một công trình luôn phát triển cùng thời đại.
Năm 1978, Hồng y Karol Józef Wojtyla, Tổng Giám mục Kraków của Ba Lan, được bầu làm giáo hoàng (John Paul II, Gioan Phaolô II). Năm 1980, thi sĩ Czesław Miłosz, giáo sư gốc Ba Lan tại Đại học Berkeley, được trao giải Nobel Văn chương, là người đầu tiên của trường nhận giải Nobel không phải trong lãnh vực khoa học và ông có những quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó tôi chú ý đến đất nước Ba Lan nhiều hơn, nhất là chuyến trở về quê hương lần đầu tiên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, vợ chồng sắp bay sang Ý dự đám cưới con gái vào ngày 12. Sáng ấy, ông vẫn dậy 4 giờ rưỡi, tắm, hát điệu music-hall, mặc bộ pin-stripe xanh đậm – ông bắt nhân viên an ninh mang áo cà vạt mỗi ngày; nhiều người khó, ông tự móc tiền mua cho. 8 giờ 15 như lệ, gọi cho Susan. Nửa giờ sau, Susan đang nói chuyện với con thì đầu dây khác reo: “Mở tivi lên!” Tháp phía bắc bốc khói. Bà gọi văn phòng chồng; đồng nghiệp bảo: “Rick đang ngoài hành lang, cầm loa, đưa mọi người ra.” Ở Florida, Dan Hill xem tivi thì điện thoại reo: Rick gọi từ di động. “Tôi đang sơ tán.” Hill nghe ông dùng loa, giọng bình tĩnh, rồi bật hát bài “Men of Harlech”: “Đứng vững, người Cornwall ơi… đừng bao giờ chịu khuất.” Rick nói thêm: Ban quản trị toà nhà bảo ở yên. “Tôi bảo hắn cút đi,” Rick nói. “Những tầng trên điểm trúng sẽ sập, kéo cả nhà xuống. Tôi đưa người của tôi ra.” Vài phút sau, máy bay thứ hai ngoặt trái lao vào tháp nam. Susan bấm gọi; không ai bắt máy...
Về mặt pháp lý và hình sự ở châu Âu, hiện nay không có một Tòa án Hình sự duy nhất nào có thẩm quyền chung cho toàn châu Âu như kiểu “Tòa án Tối cao Hình sự châu Âu”. Tuy nhiên, có một số cơ quan và tòa án có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định có liên quan đến hình sự chung cho châu Âu. European Union Agency for Criminal Justice Cooperation, EUROJUST không phải là tòa án mà là cơ quan hợp tác tư pháp hình sự của Liên minh châu Âu, có chức năng hỗ trợ và điều phối hợp tác điều tra và truy tố hình sự xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên. Các tội phạm xuyên quốc gia là khủng bố, buôn ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng... Cơ quan này có trụ sở đặt tại The Hague, Hà Lan.
Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.
Trong thời gian qua, dư luận chú ý nhiều đến cuộc đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và các đại học danh tiếng như Columbia hay Harvard. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp này đã vô tình che lấp vấn đề sâu rộng và nghiêm trọng hơn: chính quyền Trump cùng nhiều tiểu bang đang tiến hành một chiến dịch nhắm vào hệ thống giáo dục công lập K-12
Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.