Hôm nay,  

Đông Á Há Mồm...

05/07/200300:00:00(Xem: 5081)
Nhân dịp đảng Cộng sản VN họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, kỳ thứ tám của khóa chín với một đề tài trong nghị trình là chiến lược quốc phòng, chúng ta hãy cùng nhìn vào hoàn cảnh bơ vơ ngơ ngác của Đông Á trước các thách đố mới....
Hơn 15 năm đã trôi qua kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc và khu vực Đông Á (Á châu Thái bình dương) đã trải qua nhiều biến động dẫn tới một hoàn cảnh hết sức bấp bênh ngày nay. Những biến động đó là cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997-1998, khủng bố tại Mỹ rồi tại Bali của Nam Dương (Indonesia), vụ khủng hoảng nguyên tử tại bán đảo Triều Tiên và sự xoay chuyển lập trường của Hoa Kỳ đối với toàn khu vực...
Đông Á là một khái niệm địa dư bao gồm nhiều khác biệt về kinh tế, chính trị và văn hóa. Khu vực này gồm có ba phần là Đông Bắc Á (Trung Quốc, Mông Cổ, Nam-Bắc Hàn, Nhật Bản và Đài Loan), Đông Nam Á gồm mười quốc gia hội viên của Hiệp hội ASEAN, và, thứ ba, Úc châu, trước kia được coi như là lục địa riêng, nhưng ngày nay đã là một phần chiến lược của Á châu vì những quan hệ kinh tế và an ninh trong một thế giới bị thu hẹp bởi khoa học kỹ thuật, trong đó có cả kỹ thuật chiến tranh. Mười lăm năm qua, khu vực rộng lớn này đã có nhiều đổi thay lớn lao hơn tất cả những gì đã thấy kể từ Thế chiến II, mà biến cố Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của Liên xô chỉ là một phần. Sự đổi thay này đang tạo ra những động lượng (“momentums”) mới và thách đố mới.
Đông Bắc Á, rồng ẩn cọp nằm.... thẳng cẳng
Đổi thay lớn nhất tại đây là sức mạnh kinh tế Trung Quốc, như con rồng đang thức giấc, trước sự suy sụp kinh tế Nhật Bản và hậu quả của nó là sự xuất hiện của cường quốc đại lục Trung Quốc cùng phản ứng dân tộc của Nhật Bản thể hiện trên lãnh vực quốc phòng và ngoại giao.
Trung Quốc đang là cường quốc kinh tế mới, nhưng tổng hợp lại thì sản lượng chỉ bằng một phần tư sản lượng Nhật, hơn 1.000 tỷ đô la so với 4.500 tỷ của Nhật. Với thế lực mới về kinh tế, đảng Cộng sản Trung Hoa tự biện minh lý do tồn tại bằng chủ nghĩa dân tộc: 1) niềm tự hào của dân chúng sau mấy thập niên điên loạn của Mao Trạch Đông, 2) ý chí sẽ thu phục Đài Loan và 3) ảnh hưởng trên diễn đàn quốc tế có hiệu lực hơn khẩu hiệu “phi liên kết” và “lãnh đạo thế giới thứ ba” (giữa hai “thế giới” Mỹ-Nga) thời Mao. Nhưng, bên trong, Trung Quốc lại bị thách đố là cải cách kinh tế mà không bị động loạn chính trị và dù thế hệ thứ tư đang củng cố dần quyền lực sau Đại hội đảng năm ngoái, biến động xã hội xuất phát từ cuộc cải cách vẫn có thể xảy ra với xác suất cao.
Nhật Bản chưa ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế khởi sự cùng lúc với sự sụp đổ của Liên xô, với nguyên nhân chủ yếu là sự lão hóa dân số (người sản xuất ít hơn, người lãnh hưu bổng nhiều hơn) trong một cơ chế xã hội và chính trị già nua không thay đổi. Ảnh hưởng kinh tế Nhật tại Đông Á (qua đầu tư, viện trợ và tín dụng) bị soi mòn dần, nhưng đang được thay thế bởi một phản ứng mới là khẳng định tư thế về ngoại giao lẫn quân sự: chiến thuyền Nhật đã đến eo biển Malacca và vào tới Ấn Độ Dương, Nhật đang thực hiện kế hoạch trang bị hỏa tiễn và vệ tinh do thám và sẽ có ngày bãi bỏ điều chín của Hiến pháp, tức là cho phép thành lập một quân đội. Việc Nhật Bản tái võ trang trước sự xuất hiện của Trung Quốc là kết quả tổng hợp của hai chuyển động kinh tế lớn trong khu vực.
Giữa hai cường quốc đó lại thấy xuất hiện một phản ứng dân tộc khác tại bán đảo Triều Tiên. Chối từ cải cách, Bắc Hàn cộng sản lồng ý thức hệ cộng sản vào chủ nghĩa dân tộc mệnh danh “tự chủ” và cố tồn tại bằng lời đe dọa tự sát với võ khí nguyên tử để tống tiền viện trợ. Tại Nam Hàn, vụ khủng hoảng Đông Á khiến hai vị tổng thống thiên tả theo nhau thắng cử nhưng không giải quyết nổi khó khăn kinh tế nên đang bị chống đối và họ cũng lại khai thác chủ nghĩa dân tộc để biện minh cho quyền lực. Chủ nghĩa dân tộc này là tinh thần chống Mỹ và hòa giải với Bắc Hàn, khiến Bình Nhưỡng càng được khích lệ trong đòn “cào mặt ăn vạ” và khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách tại bán đảo.
Quốc gia được tương đối yên lành nhất trong khu vực là Đài Loan thì cũng đang thay đổi sau sự sụp đổ của Quốc dân đảng và trôi vào đấu đá chính trị nội bộ giữa ba đảng lớn, đảng Dân Tiến đang cầm quyền và hai đảng hình thành từ sự vỡ đôi của Quốc dân đảng. Một quốc gia nửa mùa khác là Hong Kong thì cố xoay trở giữa hậu quả của khủng hoảng 97-98 và sự khuynh đảo của Bắc Kinh, vốn coi Hong Kong là két bạc nhưng cũng là cửa ngoại nhập cho các thế lực gây bất ổn cho Hoa Lục: dân chủ và Pháp luân công.
Đông Nam Á và sự tiêu vong của ASEAN
Sau khủng hoảng Nhật (khởi sự từ 1990), Đông Nam Á bắt đầu bị khủng hoảng từ năm 1997 với nguyên nhân chính là nhược điểm trong sách lược kinh tế hướng ngoại, nhưng còn gặp nhiều vấn đề nan giải hơn nữa. Sức mạnh kinh tế tổng hợp của ASEAN trở thành huyền thoại, nội bộ phân hóa và khủng bố đã có thể luồn lách từ xứ này qua xứ khác, trong khi một số quốc gia như Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai Á hay Miến Điện đang hoặc sắp bị khủng hoảng chính trị bên trong.
Là một câu lạc bộ kinh tế, ASEAN không có thế lực chính trị ngoài phản ứng tiêu cực là “không xen lấn nội bộ của nhau”. Câu lạc bộ kinh tế đó đang rã với phản ứng chung là “đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ”. ASEAN bắt đầu phát triển theo hai tốc độ: sáu hội viên cũ đã tương đối phát triển thì chạy trước, để lại bốn hội viên mới đang ngoi ra khỏi chế độ tập trung kế hoạch và độc tài là Việt, Miên, Lào, Miến. Trong nội bộ, từng quốc gia lại tìm cách thỏa hiệp về mậu dịch hay kinh tế riêng lẻ, với Trung Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ. Khi Miến Điện công nhiên chà đạp dân chủ với việc quản thúc bà Aung San Suu Kyi, khối ASEAN lại chui về núp dưới chiêu bài “không xen lấn nội bộ” và trở thành trò cười cho thế giới, trừ các nước Âu châu đang lo việc khác.

Tại Đông Nam Á, có ba nước đã thay đổi lãnh đạo do vụ khủng hoảng Đông Á là Nam Dương, Thái Lan và Phi Luật Tân; một nước thứ tư là Mã Lai Á cũng sẽ chuyền quyền nay mai với việc Thủ tướng Mohamad Mahathir sẽ về hưu. Không quốc gia nào trong số đó có ảnh hưởng đủ lớn để cứu vãn tiền đồ ASEAN, vốn do họ xây dựng lên từ 1967. Có dân số lớn nhất và quá khứ thế lực nhất là Nam Dương thì bị khủng hoảng lớn sau khi Suharto bị lật đổ năm năm trước và đang cố gắng cầm cự với liên minh giữa nữ Tổng thống Megawati Sukarnopoutri có thế và quân đội có lực, đằng sau một phản ứng dân tộc và bị đục khoét bởi đòn chính trị của các phe Hồi giáo và đòn khủng bố của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Trí tuệ và túi khôn của ASEAN là Singapore ngày nay cũng không đưa ra nổi một đề nghị cứu nguy nào khác trước một hiện tượng toàn cầu phi kinh tế là khủng bố Hồi giáo. Cho đến khi Thái Lan củng cố được ảnh hưởng kinh tế (hiện đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất vùng sau Hoa lục) và tìm được một chiến lược phát triển sáng tạo hơn để có thể cứu vãn được tình hình, tương lai ASEAN sẽ là một sự u ám kéo dài.
Trong khối đó, có Việt Nam là trâu chậm uống nước đục và ngày càng đục hơn vì đảng cầm quyền ưu tiên lo lắng cho sự tồn tại của chính nó và cứ nghĩ rằng mai sau dù có thế nào thì cũng còn hậu phương chính trị là Trung Quốc.
Cảnh sát Úc xuất hiện
Trong toàn khu vực Đông Á, nơi có nhiều thay đổi lớn lao nhất lại là một lục địa hẻo lánh bình an: Úc châu. Là một mảnh vụn của Âu châu trong một góc yên lành tại cực Nam Thái bình dương, Úc châu bị hậu quả bất ngờ của cơn địa chấn Đông Á là vụ khủng hoảng Nam Dương. Người dân nước Úc bừng tỉnh trước thực tế là Á châu mà bị động thì mình gặp loạn. Phản ứng dân tộc cực đoan với sự xuất hiện (ngắn ngủi) của đảng One Nation Party và một nữ dân biểu cực hữu chỉ là mặt nổi của nỗi lo âu đó. Là láng giềng rất gần bên dưới quốc gia đông dân Hồi giáo nhất thế giới là Nam Dương, Úc không thể nhìn Nam Dương quần đảo bị loạn vì sẽ bị hai hậu quả song hành: 1) làn sóng di dân tỵ nạn tràn vào một lục địa bát ngát thưa thớt dân cư, 2) những chướng ngại trên đường thông thương buôn bán với các nước Á châu khác và sau đó là với Âu châu.
Vụ khủng bố tại Bali (khiến kiều dân Úc bị chết nhiều nhất trong số 200 nạn nhân) càng làm Úc phải duyệt lại chính sách an ninh và đối ngoại. Úc sẽ can thiệp vào tình hình Nam Dương quần đảo, trước tiên tại Đông Timore và Papua New Guinea, và sẽ là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ, cũng ngang hàng Anh quốc ở Đại Tây dương, trên trận tuyến chống khủng bố. Nếu cần, Úc sẽ trở thành cảnh sát viên của toàn vùng dù có thể bị chỉ trích là một con bài của Mỹ, hoặc một thế lực thực dân mới của Tây phương.
Trên toàn cục, Á châu Thái bình dương đang có hai thế lực quân sự mới là Nhật và Úc, những đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Chẳng những quân khủng bố Hồi giáo không vui gì với sự kiện này, các nước Hồi giáo khác trong khu vực cũng vậy. Và xa hơn nữa, có Trung Quốc cũng không an tâm về sự thể đó.
Làm gì và làm sao bây giờ"
Xưa nay, Hoa Kỳ là quốc gia có sự chủ quan của một cường quốc trẻ. Trở thành một siêu cường toàn cầu duy nhất sau sự tan rã của Liên xô, Hoa Kỳ đã mất mười năm ngơ ngác để tìm ra một định hướng đối ngoại cho tương lai. Vụ khủng bố 9-11 đã chấm dứt thời chuyển tiếp đó và siêu cường độc bá này đang trở thành một đế quốc bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ hay không, những tính toán của Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi cục diện thế giới vì đây là quốc gia có nhiều ảnh hưởng nhất, kể cả về thế lẫn lực, và dám lấy những quyết định táo bạo bất kể tới phản ứng của dư luận quốc tế, nhất là loại phản ứng tiêu cực, ích kỷ và có ẩn ý như của vài nước Âu châu “già”. Các nước Đông Á phải làm gì và làm được gì trước sự thể đó, ngoài phản ứng hời hợt là đánh bóng lại chủ nghĩa quốc gia dân tộc cho lãnh đạo"
Sau ba chục năm tăng trưởng liên tục, Đông Á tưởng rằng cái lực kinh tế sẽ biến thành cái thế chính trị, và khôn ngoan núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ (và cả những hy sinh của miền Nam Việt Nam) để nói chuyện hòa dịu với Trung Quốc bên khẩu hiệu chống Mỹ ngoài môi. Tình hình kinh tế suy sụp sau đó làm tiêu hao cái lực kinh tế, và khủng bố Hồi giáo lột trần luôn sự bạc nhược bên dưới cái thế chính trị. Ngày nay, các nước Đông Á hạng nhì, ngoài Trung Quốc, Nhật Bản và Úc, đều là thế lực không đáng kể. Duy nhất có điều đáng kể là an ninh, gần là an ninh chống khủng bố, xa là an ninh chiến lược trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi và Trung Quốc.
Trong mươi năm tới, khủng bố Hồi giáo vẫn là ưu tư ưu tiên. Nhưng, xa hơn, các nước Đông Á sẽ phải trực diện đối phó với thế lực Trung Quốc, sẽ được tăng cường ráo riết trong khi Hoa Kỳ phải giải quyết nạn khủng bố.
Ngay trong hiện tại, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đã là một đe dọa và là nguy cơ phân hóa và tiêu vong của ASEAN. Trong tương lai không xa, sức mạnh quân sự của Trung Quốc, với tham vọng không che dấu nhắm vào Đài Loan và các quần đảo ngoài Đông Hải của Việt Nam (mà họ gọi là Trung Nam Hải, “biển miền Nam của Trung Hoa”) sẽ là một thách đố lớn hơn. Điều đó giải thích phản ứng tái võ trang của Nhật Bản và sự xuất hiện của nước Úc hiền lành như một thế lực quân sự mới.
Giữa bốn thế lực Đông Á là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Trung Quốc, các nước Đông Á còn lại sẽ phải chọn lựa. Lợi ích kinh tế và an ninh lãnh thổ là những yếu tố then chốt cho sự chọn lựa này mà những khẩu hiệu quốc gia hay dân tộc không thể khỏa lấp nổi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.