Hôm nay,  

Đông Á Há Mồm...

05/07/200300:00:00(Xem: 5087)
Nhân dịp đảng Cộng sản VN họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, kỳ thứ tám của khóa chín với một đề tài trong nghị trình là chiến lược quốc phòng, chúng ta hãy cùng nhìn vào hoàn cảnh bơ vơ ngơ ngác của Đông Á trước các thách đố mới....
Hơn 15 năm đã trôi qua kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc và khu vực Đông Á (Á châu Thái bình dương) đã trải qua nhiều biến động dẫn tới một hoàn cảnh hết sức bấp bênh ngày nay. Những biến động đó là cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997-1998, khủng bố tại Mỹ rồi tại Bali của Nam Dương (Indonesia), vụ khủng hoảng nguyên tử tại bán đảo Triều Tiên và sự xoay chuyển lập trường của Hoa Kỳ đối với toàn khu vực...
Đông Á là một khái niệm địa dư bao gồm nhiều khác biệt về kinh tế, chính trị và văn hóa. Khu vực này gồm có ba phần là Đông Bắc Á (Trung Quốc, Mông Cổ, Nam-Bắc Hàn, Nhật Bản và Đài Loan), Đông Nam Á gồm mười quốc gia hội viên của Hiệp hội ASEAN, và, thứ ba, Úc châu, trước kia được coi như là lục địa riêng, nhưng ngày nay đã là một phần chiến lược của Á châu vì những quan hệ kinh tế và an ninh trong một thế giới bị thu hẹp bởi khoa học kỹ thuật, trong đó có cả kỹ thuật chiến tranh. Mười lăm năm qua, khu vực rộng lớn này đã có nhiều đổi thay lớn lao hơn tất cả những gì đã thấy kể từ Thế chiến II, mà biến cố Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của Liên xô chỉ là một phần. Sự đổi thay này đang tạo ra những động lượng (“momentums”) mới và thách đố mới.
Đông Bắc Á, rồng ẩn cọp nằm.... thẳng cẳng
Đổi thay lớn nhất tại đây là sức mạnh kinh tế Trung Quốc, như con rồng đang thức giấc, trước sự suy sụp kinh tế Nhật Bản và hậu quả của nó là sự xuất hiện của cường quốc đại lục Trung Quốc cùng phản ứng dân tộc của Nhật Bản thể hiện trên lãnh vực quốc phòng và ngoại giao.
Trung Quốc đang là cường quốc kinh tế mới, nhưng tổng hợp lại thì sản lượng chỉ bằng một phần tư sản lượng Nhật, hơn 1.000 tỷ đô la so với 4.500 tỷ của Nhật. Với thế lực mới về kinh tế, đảng Cộng sản Trung Hoa tự biện minh lý do tồn tại bằng chủ nghĩa dân tộc: 1) niềm tự hào của dân chúng sau mấy thập niên điên loạn của Mao Trạch Đông, 2) ý chí sẽ thu phục Đài Loan và 3) ảnh hưởng trên diễn đàn quốc tế có hiệu lực hơn khẩu hiệu “phi liên kết” và “lãnh đạo thế giới thứ ba” (giữa hai “thế giới” Mỹ-Nga) thời Mao. Nhưng, bên trong, Trung Quốc lại bị thách đố là cải cách kinh tế mà không bị động loạn chính trị và dù thế hệ thứ tư đang củng cố dần quyền lực sau Đại hội đảng năm ngoái, biến động xã hội xuất phát từ cuộc cải cách vẫn có thể xảy ra với xác suất cao.
Nhật Bản chưa ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế khởi sự cùng lúc với sự sụp đổ của Liên xô, với nguyên nhân chủ yếu là sự lão hóa dân số (người sản xuất ít hơn, người lãnh hưu bổng nhiều hơn) trong một cơ chế xã hội và chính trị già nua không thay đổi. Ảnh hưởng kinh tế Nhật tại Đông Á (qua đầu tư, viện trợ và tín dụng) bị soi mòn dần, nhưng đang được thay thế bởi một phản ứng mới là khẳng định tư thế về ngoại giao lẫn quân sự: chiến thuyền Nhật đã đến eo biển Malacca và vào tới Ấn Độ Dương, Nhật đang thực hiện kế hoạch trang bị hỏa tiễn và vệ tinh do thám và sẽ có ngày bãi bỏ điều chín của Hiến pháp, tức là cho phép thành lập một quân đội. Việc Nhật Bản tái võ trang trước sự xuất hiện của Trung Quốc là kết quả tổng hợp của hai chuyển động kinh tế lớn trong khu vực.
Giữa hai cường quốc đó lại thấy xuất hiện một phản ứng dân tộc khác tại bán đảo Triều Tiên. Chối từ cải cách, Bắc Hàn cộng sản lồng ý thức hệ cộng sản vào chủ nghĩa dân tộc mệnh danh “tự chủ” và cố tồn tại bằng lời đe dọa tự sát với võ khí nguyên tử để tống tiền viện trợ. Tại Nam Hàn, vụ khủng hoảng Đông Á khiến hai vị tổng thống thiên tả theo nhau thắng cử nhưng không giải quyết nổi khó khăn kinh tế nên đang bị chống đối và họ cũng lại khai thác chủ nghĩa dân tộc để biện minh cho quyền lực. Chủ nghĩa dân tộc này là tinh thần chống Mỹ và hòa giải với Bắc Hàn, khiến Bình Nhưỡng càng được khích lệ trong đòn “cào mặt ăn vạ” và khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách tại bán đảo.
Quốc gia được tương đối yên lành nhất trong khu vực là Đài Loan thì cũng đang thay đổi sau sự sụp đổ của Quốc dân đảng và trôi vào đấu đá chính trị nội bộ giữa ba đảng lớn, đảng Dân Tiến đang cầm quyền và hai đảng hình thành từ sự vỡ đôi của Quốc dân đảng. Một quốc gia nửa mùa khác là Hong Kong thì cố xoay trở giữa hậu quả của khủng hoảng 97-98 và sự khuynh đảo của Bắc Kinh, vốn coi Hong Kong là két bạc nhưng cũng là cửa ngoại nhập cho các thế lực gây bất ổn cho Hoa Lục: dân chủ và Pháp luân công.
Đông Nam Á và sự tiêu vong của ASEAN
Sau khủng hoảng Nhật (khởi sự từ 1990), Đông Nam Á bắt đầu bị khủng hoảng từ năm 1997 với nguyên nhân chính là nhược điểm trong sách lược kinh tế hướng ngoại, nhưng còn gặp nhiều vấn đề nan giải hơn nữa. Sức mạnh kinh tế tổng hợp của ASEAN trở thành huyền thoại, nội bộ phân hóa và khủng bố đã có thể luồn lách từ xứ này qua xứ khác, trong khi một số quốc gia như Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai Á hay Miến Điện đang hoặc sắp bị khủng hoảng chính trị bên trong.
Là một câu lạc bộ kinh tế, ASEAN không có thế lực chính trị ngoài phản ứng tiêu cực là “không xen lấn nội bộ của nhau”. Câu lạc bộ kinh tế đó đang rã với phản ứng chung là “đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ”. ASEAN bắt đầu phát triển theo hai tốc độ: sáu hội viên cũ đã tương đối phát triển thì chạy trước, để lại bốn hội viên mới đang ngoi ra khỏi chế độ tập trung kế hoạch và độc tài là Việt, Miên, Lào, Miến. Trong nội bộ, từng quốc gia lại tìm cách thỏa hiệp về mậu dịch hay kinh tế riêng lẻ, với Trung Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ. Khi Miến Điện công nhiên chà đạp dân chủ với việc quản thúc bà Aung San Suu Kyi, khối ASEAN lại chui về núp dưới chiêu bài “không xen lấn nội bộ” và trở thành trò cười cho thế giới, trừ các nước Âu châu đang lo việc khác.

Tại Đông Nam Á, có ba nước đã thay đổi lãnh đạo do vụ khủng hoảng Đông Á là Nam Dương, Thái Lan và Phi Luật Tân; một nước thứ tư là Mã Lai Á cũng sẽ chuyền quyền nay mai với việc Thủ tướng Mohamad Mahathir sẽ về hưu. Không quốc gia nào trong số đó có ảnh hưởng đủ lớn để cứu vãn tiền đồ ASEAN, vốn do họ xây dựng lên từ 1967. Có dân số lớn nhất và quá khứ thế lực nhất là Nam Dương thì bị khủng hoảng lớn sau khi Suharto bị lật đổ năm năm trước và đang cố gắng cầm cự với liên minh giữa nữ Tổng thống Megawati Sukarnopoutri có thế và quân đội có lực, đằng sau một phản ứng dân tộc và bị đục khoét bởi đòn chính trị của các phe Hồi giáo và đòn khủng bố của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Trí tuệ và túi khôn của ASEAN là Singapore ngày nay cũng không đưa ra nổi một đề nghị cứu nguy nào khác trước một hiện tượng toàn cầu phi kinh tế là khủng bố Hồi giáo. Cho đến khi Thái Lan củng cố được ảnh hưởng kinh tế (hiện đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất vùng sau Hoa lục) và tìm được một chiến lược phát triển sáng tạo hơn để có thể cứu vãn được tình hình, tương lai ASEAN sẽ là một sự u ám kéo dài.
Trong khối đó, có Việt Nam là trâu chậm uống nước đục và ngày càng đục hơn vì đảng cầm quyền ưu tiên lo lắng cho sự tồn tại của chính nó và cứ nghĩ rằng mai sau dù có thế nào thì cũng còn hậu phương chính trị là Trung Quốc.
Cảnh sát Úc xuất hiện
Trong toàn khu vực Đông Á, nơi có nhiều thay đổi lớn lao nhất lại là một lục địa hẻo lánh bình an: Úc châu. Là một mảnh vụn của Âu châu trong một góc yên lành tại cực Nam Thái bình dương, Úc châu bị hậu quả bất ngờ của cơn địa chấn Đông Á là vụ khủng hoảng Nam Dương. Người dân nước Úc bừng tỉnh trước thực tế là Á châu mà bị động thì mình gặp loạn. Phản ứng dân tộc cực đoan với sự xuất hiện (ngắn ngủi) của đảng One Nation Party và một nữ dân biểu cực hữu chỉ là mặt nổi của nỗi lo âu đó. Là láng giềng rất gần bên dưới quốc gia đông dân Hồi giáo nhất thế giới là Nam Dương, Úc không thể nhìn Nam Dương quần đảo bị loạn vì sẽ bị hai hậu quả song hành: 1) làn sóng di dân tỵ nạn tràn vào một lục địa bát ngát thưa thớt dân cư, 2) những chướng ngại trên đường thông thương buôn bán với các nước Á châu khác và sau đó là với Âu châu.
Vụ khủng bố tại Bali (khiến kiều dân Úc bị chết nhiều nhất trong số 200 nạn nhân) càng làm Úc phải duyệt lại chính sách an ninh và đối ngoại. Úc sẽ can thiệp vào tình hình Nam Dương quần đảo, trước tiên tại Đông Timore và Papua New Guinea, và sẽ là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ, cũng ngang hàng Anh quốc ở Đại Tây dương, trên trận tuyến chống khủng bố. Nếu cần, Úc sẽ trở thành cảnh sát viên của toàn vùng dù có thể bị chỉ trích là một con bài của Mỹ, hoặc một thế lực thực dân mới của Tây phương.
Trên toàn cục, Á châu Thái bình dương đang có hai thế lực quân sự mới là Nhật và Úc, những đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Chẳng những quân khủng bố Hồi giáo không vui gì với sự kiện này, các nước Hồi giáo khác trong khu vực cũng vậy. Và xa hơn nữa, có Trung Quốc cũng không an tâm về sự thể đó.
Làm gì và làm sao bây giờ"
Xưa nay, Hoa Kỳ là quốc gia có sự chủ quan của một cường quốc trẻ. Trở thành một siêu cường toàn cầu duy nhất sau sự tan rã của Liên xô, Hoa Kỳ đã mất mười năm ngơ ngác để tìm ra một định hướng đối ngoại cho tương lai. Vụ khủng bố 9-11 đã chấm dứt thời chuyển tiếp đó và siêu cường độc bá này đang trở thành một đế quốc bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ hay không, những tính toán của Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi cục diện thế giới vì đây là quốc gia có nhiều ảnh hưởng nhất, kể cả về thế lẫn lực, và dám lấy những quyết định táo bạo bất kể tới phản ứng của dư luận quốc tế, nhất là loại phản ứng tiêu cực, ích kỷ và có ẩn ý như của vài nước Âu châu “già”. Các nước Đông Á phải làm gì và làm được gì trước sự thể đó, ngoài phản ứng hời hợt là đánh bóng lại chủ nghĩa quốc gia dân tộc cho lãnh đạo"
Sau ba chục năm tăng trưởng liên tục, Đông Á tưởng rằng cái lực kinh tế sẽ biến thành cái thế chính trị, và khôn ngoan núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ (và cả những hy sinh của miền Nam Việt Nam) để nói chuyện hòa dịu với Trung Quốc bên khẩu hiệu chống Mỹ ngoài môi. Tình hình kinh tế suy sụp sau đó làm tiêu hao cái lực kinh tế, và khủng bố Hồi giáo lột trần luôn sự bạc nhược bên dưới cái thế chính trị. Ngày nay, các nước Đông Á hạng nhì, ngoài Trung Quốc, Nhật Bản và Úc, đều là thế lực không đáng kể. Duy nhất có điều đáng kể là an ninh, gần là an ninh chống khủng bố, xa là an ninh chiến lược trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi và Trung Quốc.
Trong mươi năm tới, khủng bố Hồi giáo vẫn là ưu tư ưu tiên. Nhưng, xa hơn, các nước Đông Á sẽ phải trực diện đối phó với thế lực Trung Quốc, sẽ được tăng cường ráo riết trong khi Hoa Kỳ phải giải quyết nạn khủng bố.
Ngay trong hiện tại, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đã là một đe dọa và là nguy cơ phân hóa và tiêu vong của ASEAN. Trong tương lai không xa, sức mạnh quân sự của Trung Quốc, với tham vọng không che dấu nhắm vào Đài Loan và các quần đảo ngoài Đông Hải của Việt Nam (mà họ gọi là Trung Nam Hải, “biển miền Nam của Trung Hoa”) sẽ là một thách đố lớn hơn. Điều đó giải thích phản ứng tái võ trang của Nhật Bản và sự xuất hiện của nước Úc hiền lành như một thế lực quân sự mới.
Giữa bốn thế lực Đông Á là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Trung Quốc, các nước Đông Á còn lại sẽ phải chọn lựa. Lợi ích kinh tế và an ninh lãnh thổ là những yếu tố then chốt cho sự chọn lựa này mà những khẩu hiệu quốc gia hay dân tộc không thể khỏa lấp nổi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.