Hôm nay,  

Tính “không”

21/07/200300:00:00(Xem: 7202)
Trong triết lý đạo Phật có ý niệm cho rằng vạn vật đều có tính “KHÔNG”. Vậy thì tính “không” là tính gì"
Nói đơn giản, ta có thể trả lời rằng tính “không” chính là tính Tương-đối.
Tương đối có nghĩa là khi cần xem xét một sự vật hay sự việc, ta bắt buộc phải dựa vào một sự vật hay sự việc khác để làm chuẩn.
Như vậy, tính “KHÔNG” trong đạo Phật có thể được giải nghĩa là: mọi sự vật hay sự việc đều KHÔNG tự nó có bản chất, mà đều phải dựa vào các sự vật hay sự việc khác để làm tiêu chuẩn.
Ta có thể đưa ra vài ví dụ về tính “không”, tức là tính tương đối của mọi vật qua một số hoàn cảnh chung quanh ta như sau:
Ví dụ 1: Màu đỏ của Hoa Hồng
Khi nhìn thấy một cánh hoa hồng màu đỏ, ta thường cho rằng màu đỏ của hoa hồng là một sự thật vô cùng hiển nhiên, không ai có thể chối cãi.
Thật ra cánh hoa hồng tự nó không có màu sắc. Nó chỉ phản chiếu các tia sáng chạm vào nó mà thôi. Một số các tia phản chiếu đó đập vào võng mạc trong mắt của ta. Sở dĩ con người nhìn thấy màu đỏ, hay các màu vàng, xanh, tím, v.v… là bởi vì võng mạc con người cảm ứng được với những bước sóng ánh sáng dài 380 đến 700 nanô-mét. Những màu sắc nào nằm ngoài bước sóng trên, con người sẽ không nhìn thấy, mặc dù chúng vẫn có đó(như tia cực tím hay tia hồng ngoại chẳng hạn).
Nhiều sinh vật có tế bào thị giác chỉ cảm ứng được với mức độ sáng tối. Thế giới hiện ra trước mắt chúng cũng giống như khi ta xem ti-vi trắng đen. đối với các loài này, hoa hồng chỉ là màu xám.
Có những loài chỉ nhìn đời bằng thị giác dựa trên nhiệt độ(thermal vision) chứ không phải dựa trên ánh sáng. đối với các loài đó, sẽ không có quan niệm gì về màu sắc cả.
Có những loài khác nhìn đời bằng siêu âm, bằng sóng điện từ, hay bằng những bước sóng khác trên quang phổ, v.v… đối với các loài đó, hình ảnh về cánh hoa hồng cũng sẽ hoàn toàn khác xa với cách nhìn của con người.
Như vậy, màu đỏ của hoa hồng chỉ là một sự thật tương đối, dựa trên tiêu chuẩn thị giác của loài người mà thôi. Ta gọi đó là tính “không” của màu sắc.
Ví dụ 2: Tiếng của Sự Yên Lặng
Khi ngồi trong một căn phòng hoàn toàn yên lặng, ta tưởng rằng chung quanh ta không có một âm thanh nào cả.
Tuy nhiên, một con dơi hay một con chó vẫn có thể nghe được những âm thanh với tần số thật cao hay thật thấp mà loài người không thể nghe được.
Trong căn phòng yên lặng đó, vẫn có thể có vô số làn sóng radio đang bủa vây quanh ta. Các máy radio có thể bắt được, nhưng tai ta không bắt được.
Như vậy, sự yên lặng mà chúng ta tưởng là thật đó chỉ là tương đối, dựa trên tiêu chuẩn thính giác của loài người. Trong sự yên lặng “giả” đó vẫn có thể có vô số âm thanh khác nhưng ta không biết chỉ vì hai tai ta không nghe được chúng mà thôi.
Ngược lại, trong một căn phòng đông người trò chuyện, ta sẽ cho là phòng có nhiều tiếng ồn ào. Nhưng nếu một loài nào đó có thính giác chỉ cảm ứng được với sóng âm thanh trên 20 KHz, thì căn phòng đối với chúng là yên lặng.
Đó là tính “không” của âm thanh.
Ví dụ 3: Di động và đứng Yên
Khi ta đứng yên trên mặt đất, ta tưởng rằng ta đang đứng yên, hoàn toàn không di động. Ta đâu biết rằng, ngay chính lúc đó, ta đang di động với một vận tốc nhanh khủng khiếp. Lý do là vì ta đang đứng trên mặt trái đất, và trái đất đang xoay quanh trục với vận tốc 1600 cây số/giờ.
Ở khu vui chơi Disneyland có trò chơi du hành không gian. Khán giả ngồi vào một chiếc phi thuyền, có cảm giác rõ ràng rằng phi thuyền đang cất cánh bay vào không gian. Khi phi thuyền lượn qua lượn lại thật nhanh để né tránh các vẫn thạch, ta thấy lên ruột lên gan, thấy thân mình nghiêng qua nghiêng lại như thật. Nhưng trên thực tế, phi thuyền vẫn đứng yên tại chổ, chỉ lắc lư và dùng hình ảnh qua khung cửa để đánh lừa giác quan của khán giả mà thôi.
Ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ này, khi cần xác định sự di động hay đứng yên, ta đều phải dựa vào các vật khác để làm chuẩn, như dựa vào mặt đất, hay vào một điểm đã định trước, v.v… Nếu không có gì để làm chuẩn ta sẽ không thể biết được rằng ta đang di động hay đứng yên.
Như vậy, sự di động hay đứng yên đều chỉ là tương đối. đây là một trong những nguyên lý động học căn bản của môn vật lý mà các học sinh thường được học từ trung học. đó chính là tính “không” của sự di chuyển và đứng yên.
Ví Dụ 4: Thép Cứng
Khi cầm một thỏi thép cứng trên tay, ta thấy rõ ràng rằng thỏi thép đó là một khối cứng rắn, chắc đặc, và “có thật”.
Tuy nhiên, nếu dùng kính hiển-vi cực mạnh nhìn vào thỏi thép đó, ta sẽ thấy thỏi thép ấy là một khoảng không với các nguyên tử lơ lửng trong đó.
Nhìn sâu vào các nguyên tử, ta sẽ thấy chúng cũng là khoảng không, với một hạt nhân ở giữa và các hạt âm điện(electron) bay vòng vòng chung quanh.
Nhìn sâu vào các hạt nhân, ta sẽ thấy chúng cũng là khoảng không, với những hạt còn nhỏ hơn nữa lơ lững trong đó.

Càng đi sâu vào, ta càng thấy cái tưởng đâu là hạt, cũng chỉ là khoảng không. Nhưng khoảng không đó có năng lượng. Chính nguồn năng lượng đó đã làm cho ta có ảo giác về sự cứng chắc của thép.
Nhà bác học Albert Einstein đã dùng phương trình nổi tiếng E = mc2 để diễn tả rằng cái mà ta tưởng là vật chất “có thật” thực ra chỉ là khoảng không có năng lượng.
Như vậy, ý niệm của ta cho rằng thỏi thép cứng rắn, chắc đặc chỉ là tương đối, dựa trên sự so sánh giữa thép với những vật khác trong đời sống của chúng ta như đất, nước, cây cỏ, da thịt, v.v… đó chính là tính “không” của vật chất.
Ví Dụ 5: Thiện và Ác
Quan niệm về điều thiện và điều ác cũng đều chỉ là tương đối. Không có một sự việc gì tự nó là thiện hay tự nó là ác. Khi cần đánh giá một hành động là thiện hay ác, con người luôn phải dựa và một số tiêu chuẩn đã được định sẳn, thường là bởi những truyền thống văn hóa, xã hội. Chẳng hạn như khi hỏi “bố thí” là thiện hay ác, ta thấy rõ ràng rằng thiện hay ác đều tùy thuộc vào hoàn cảnh. Bố thí cho anh ghiền để anh ta lấy tiền mua xì-ke, ma-túy có phải là thiện hay không" Còn bố thí tiền bạc cho anh nhà giàu nức đố đổ vách có phải là thiện hay không" Tương tự, khi nói về tính thiện ác của việc giết chóc cũng vậy: Con cọp giết con nai để ăn thịt là thiện hay ác" Giết một người để cứu ngàn người là thiện hay ác" Một quân nhân dùng phát súng ân huệ bắn chết đồng đội đang hấp hối trong đau đớn cùng cực vì bị cháy phỏng toàn thân, đó là thiện hay ác" Giết người vì tuân lệnh Thượng-đế là thiện hay ác" Giết người trong lúc ta đang mộng du có là ác hay không"
Ngày xưa có thầy Mạnh Tử và Tuân Tử, một người cho rằng “con người sinh ra vốn có bản tính thiện” còn thầy kia cho rằng “con người sinh ra vốn có bản tính ác”. đa số quần chúng xưa nay xem ra thích quan niệm “con người có bản tính thiện” của thầy Mạnh Tử vì nó có tính khích lệ, tích cực, lạc quan.
Thật ra, con người sinh ra chẳng có bản tính gì cả, không thiện mà cũng chẳng ác. Thiện ác đều là do các tiêu chuẩn của xã hội phán xét mà thôi. Mà đã là tiêu chuẩn do xã hội đặt ra thì chưa chắc là lúc nào cũng sẽ giống nhau. Bởi vậy cho nên lịch sử mới có chuyện hai thầy Mạnh Tử và Tuân Tử bất đồng với nhau về bản chất con người.
Đó chính là tính “không” của thiện và ác.
Ví Dụ 6: Sự Thật
Nhân gian thường cho rằng sự thật chỉ có một. Tuy nhiên, sự thật cũng mang tính tương đối, tùy theo góc độ mà người ta nhìn vào vấn đề.
Như trong ví dụ 1 về màu đỏ của hoa hồng, người cho rằng hoa hồng màu đỏ cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng hoa hồng không có màu cũng nói đúng sự thật.
Trong ví dụ 2 về sự yên lặng, người cho rằng căn phòng hoàn toàn yên lặng cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng căn phòng có nhiều âm thanh cũng nói đúng sự thật.
Trong ví dụ 3 về sự di động, người cho rằng mình đang đứng yên cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng mình đang di động thật nhanh cũng nói đúng sự thật.
Trong ví dụ 4 về thỏi thép, người cho rằng thỏi thép chắc đặc cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng thỏi thép chỉ là khoảng không cũng nói đúng sự thật.
Trong một số phiên toà ở Mỹ, khi luật sư lên chất vấn đối phương thường đặt câu hỏi và chỉ cho trả lời “yes” hay là “no” mà thôi. Trong nhiều trường hợp, người bị chất vấn tức đến phát khóc vì câu trả lời đúng nhất phải là “cả yes lẫn no” hay có khi là “chẳng yes mà cũng chẳng no”. Làm sao trả lời luật sư cho đúng “sự thật” bây giờ"
Đó là chưa kể có những sự việc không thể hoàn toàn diển tả bằng ngôn ngữ hay suy nghĩ, chẳng hạn như tình yêu, hạnh phúc, Niết bàn.
Đó chính là tính “không” của sự thật.
Ví Dụ 7: Phật Pháp và Tất Cả các Pháp
Đối với đạo Phật, ngay cả Phật Pháp và tất cả các pháp môn của đạo Phật, hay cả các tôn giáo khác cũng đều chỉ là tương đối.
Vì có khổ nên mới có Phật Pháp. Nếu không có khổ, thì không có Phật Pháp. Phật Pháp chẳng tự nó tồn tại.
Vì chúng sinh có nhiều cá tính, trình độ khác nhau, nên mới có nhiều pháp môn hay tôn giáo khác nhau để đáp ứng với từng chúng sinh. Nếu quần chúng không khác biệt, thì sẽ chẳng có các pháp môn. Nếu không có nhu cầu tâm linh, thì sẽ chẳng có tôn giáo. Các pháp môn và tôn giáo đều không tự nó hiện hữu.
Đó chính là tính “không” của tất cả các pháp.
Kết:
Một số quí vị có thể sẽ đặt vấn đề rằng: “Quan niệm về tính KHÔNG trong đạo Phật quả là sâu sắc và khoa học. Nhưng liệu cái quan niệm đó có giúp ích gì được cho tôi hay cho xã hội hay không""
Câu trả lời sẽ là: khi hiểu về tính “không”, hiểu về sự tương đối của vạn vật, ta có thể sẽ bớt cực đoan, sẽ bớt bám víu, tin tưởng một cách cố chấp vào những thứ mình cứ tưởng đâu là tuyệt đối.
Khi không bị đánh lừa bởi những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đã bớt “SI”.
Khi không hùng hổ, tức giận cố chấp những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đã bớt “SÂN”.
Khi không tham lam bảo vệ hay luyến tiếc những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đã bớt “THAM”.
Bớt tham, sân, si trong đời sống tức là bớt khổ cho mình và cho người.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tết năm nay là Tết Ất Tỵ, người ta đón xuân con rắn rắn bò bò trườn trườn mình trên mặt đất, nó không có chân, nhưng lướt mình trong bụi cây, trong hang ổ ngóc ngách nơi rừng cây rậm rạp, nhất là ở các vùng nhiệt đới um tùm, rắn đang lò mò mang mùa xuân tới… rắn đang mang về mùa xuân Ất Tỵ! Hình ảnh con răn có người yêu thích, quấn quanh cổ, quanh người đi chơi, quảng cáo, bán thuốc sơn đông mãi võ, cũng có người ghét bỏ, rùng mình quay đi.
Nước ta có nhiều ngày Tết. Mỗi Tết có một ý nghĩa riêng, có đôi khi theo thói quen của Trung Hoa ngày xưa. Các lễ Tết gồm có: Tết Nguyên Đán ngày Mồng Một tháng Giêng, Tết Hàn Thực vào ngày 3 tháng 3 , Tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5, Tết Trung Thu ngày 15 tháng 8 và Tết Song Thập ngày 10 tháng 10.
12:05 giờ đêm, từ buổi tiệc Giáng Sinh ở nhà cô bạn thân ra về, một cảm giác ứa nghẹn bất chợt trào lên. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình tắp xe vào bờ đường xa lộ, rồi không thể tự kiềm chế, từng cơn nấc ào đến, nước mắt ràn rụa, tôi khóc như thể vừa hay tin người thân yêu nhất mới qua đời. Cơn òa vỡ đầu tiên này xảy ra vào một đêm cuối tháng 12, khi tôi ở tuổi 46. Thật ra, nhiều ngày, tháng trước đó, mọi giác quan trong người đã phát ra nhiều tín hiệu cảnh báo về một cơn chấn động kéo theo những hoang mang, những trăn trở về ý nghĩa, lẽ sống… Nhưng bận rộn với việc chứng minh bản thân qua nhiều vai trò, trái tim tôi không có chỗ cho cảm xúc lạ, cái đầu coi thường khái niệm “midlife crisis”.
Từ thời xa xưa, con người đã ngước nhìn bầu trời đêm với sự ngưỡng mộ và tò mò. Những ánh sáng lấp lánh trên nền trời đen thẳm không chỉ đóng vai trò như la bàn và lịch, mà còn là nguồn cảm hứng cho thơ ca và nghệ thuật, cho những câu chuyện về các vị thần. Nhưng vào năm 1925, mối quan hệ của con người và những vì sao đã có một bước ngoặt lịch sử. Một nữ khoa học gia trẻ tuổi đã khám phá ra rằng các ngôi sao không phải là những vật thể giống Địa cầu, mà chủ yếu được cấu tạo từ hydro và heli, hai nguyên tố nhẹ và đơn giản nhất trong vũ trụ. Nữ khoa học gia tài năng này tên là Cecilia Payne, 24 tuổi. Phát hiện mới của bà đã đặt nền móng cho ngành vật lý thiên văn học về thiên thể và thay đổi hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.
“Đó là sự thật, đó là sự thật”, tiếng kêu gào trong vụ “nhà thơ hiếp nhà thơ” ở Việt Nam, cơ hồ, cũng là tên của vở kịch It’s True, It’s True, It’s True tại Anh, là tiếng thét gào đau đớn của Artemisia Gentileschi trước tòa, trong vụ “họa sĩ hiếp họa sĩ” tại Ý vào thế kỷ 17. [1] Hai vụ, trên hai vùng đất và ở hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau, cách xa hơn bốn thế kỷ, nhưng rất gần nhau ở thế cách xã hội đối xử với những nạn nhân mà, nói gọn, là “văn hóa hiếp dâm”: sau khi bị hãm hiếp về thể chất như một phụ nữ, nạn nhân còn tiếp tục bị hãm hiếp về mặt tinh thần như một công dân hay một thành viên của cộng đồng.
Tấm bảng treo trước cửa văn phòng số H-1127 trong tòa nhà Longworth House Office Building dành cho các dân biểu liên bang Quốc Hội khóa 119 vừa gắn tên một người gốc Việt, Derek T. Tran – California. Đó là kết quả của cuộc đua nghẹt thở giữa một cựu quân nhân, luật sư gốc Việt và một dân cử đương nhiệm của địa hạt 45, California. Luật sư Derek Trần đã kết thúc cuộc đua bằng buổi tuyên thệ tại Capitol Hill chiều Thứ Sáu 3/1/2025, cũng là ngày Quốc Hội bầu chủ tịch Hạ Viện mới.
Mùa xuân mang lại nhiều thay đổi. Thay đổi của đất trời và của cả lòng người. Tuyết tan đi và mưa lũ ngừng rơi trên ngàn lá. Lộc non đâm chồi. Trăm sắc hoa đua nhau nở rộ. Chào đón tết. Tết không riêng ở sự thay đổi khí hậu. Tết đem mưa dịu, gió hòa mang hơi ấm mùa xuân. Mùa hy vọng trở về. Hy vọng một năm mới an vui hơn… theo sự tuần hoàn của vũ trụ, nghĩa là xuân đến, xuân lại về, xuân về theo lời mời gọi và chào đón của nhân sinh. Xuân về phơi phới, vui và hy vọng, kể từ đầu tháng chạp (12) tới đầu tháng giêng (1/2025) con rồng hình ảnh cao to, vĩ đại và mang nhiều biểu tượng thiêng liêng, tưởng tượng, mơ hồ đến có lúc như thần thoại mơ hồ, dị đoan.
Cựu Tổng thống Jimmy Carter vừa qua đời hôm 29/12/2024, hưởng thọ 100 tuổi. Hai năm qua ông trong tình trạng sức khoẻ yếu và được gia đình chăm sóc. Phu nhân của ông là bà Rosalyn Carter đã mất ngày 19/11/2023. Jimmy Carter là tổng thống thứ 39, lãnh đạo Hoa Kỳ từ 1977 đến 1981.
Từ thời xa xưa, con người đã tìm cách phát hiện sự gian dối thông qua các phản ứng sinh lý của cơ thể. Ở TQ cổ đại, nghi phạm sẽ bị ép ngậm một miệng đầy gạo sống trong khi thẩm vấn, sau đó phải há miệng để kiểm tra. Nếu gạo trong miệng vẫn còn khô, thì tức là do miệng của nghi phạm bị khô, có thể là do căng thẳng, lo sợ – một dấu hiệu của tội lỗi. Trong một số trường hợp, dấu hiệu này đủ để dẫn đến án tử hình. Quan niệm rằng việc nói dối có thể gây ra những phản ứng vật lý có thể quan sát được đã tồn tại trong suốt nhiều thế kỷ. Vào những năm 1920, khi Hoa Kỳ phải đối mặt với làn sóng tội phạm bùng nổ trong thời kỳ Cấm đoán (Prohibition). Trong thời kỳ này, các băng nhóm tội phạm buôn lậu rượu mọc lên như nấm sau mưa, chỉ riêng Chicago đã có 1,300 băng đảng. Một khoa học gia tin rằng mình đã tìm ra phương pháp khoa học để phát hiện kẻ nói dối
Vào tháng Tư năm nay, một nhóm các khoa học gia và kỹ sư đã thực hiện một chuyến bay trên vùng trời phía bắc Greenland để thử nghiệm tính năng của một thiết bị radar tiên tiến. Khi đang cách Căn cứ Không gian Pituffik khoảng 150 dặm về phía đông, Chad Greene, khoa học gia thuộc phòng thí nghiệm Jet Propulsion Laboratory (JPL) của NASA, đã chụp lại hình ảnh của vùng tuyết mênh mông, trắng xóa bên dưới. Cùng lúc đó, radar phát hiện điều bất thường ẩn bên dưới lớp băng: một căn cứ quân sự từ thời Chiến tranh Lạnh đã bị bỏ hoang, được gọi là Camp Century.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.