Hôm nay,  

Tuổi Ngọc

23/07/200300:00:00(Xem: 7096)
(Viết tặng các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô và Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc, Huế nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường, 1903-2003)
Tuổi Ngọc là tên tờ báo học trò của trường Jeanne d'Arc Huế niên học 1965-1966 do tôi thực hiện với sự đóng góp bài vở của giáo sư và học sinh nhân mùa Lễ Giáng Sinh năm 1965. Tôi chọn cái tên nầy để nói về những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò dưới mái trường Jeanne d'Arc, nhân dịp mừng 100 năm của trường (1903 -2003).
Tôi biết đến trường Jeanne d'Arc và các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô từ năm 1952, cách nay hơn nửa thế kỷ. Hồi đó, tôi mới hơn 12 tuổi, lần đầu tiên đến Huế. Trong khi chờ đợi nhập học tại trường La San Pellerin (trường Bình Linh) do các Sư Huynh Dòng Thánh Jean Baptiste de La Salle (phiên âm tiếng Việt là Dòng các Sư Huynh La San) phụ trách, tôi được một người bà con đưa đến thăm Bà Marie (Dòng "Ma Soeur" Saint Paul) lúc bấy giờ đang phụ trách Bệnh Viện Bài Lao Huế. Bà là Dì ruột của chị dâu tôi (Nguyễn Thị Uyên), và cũng là người đồng hương (Quảng Trị) nên chúng tôi xem Bà như người trong bà con họ hàng của mình.
Cách Viện Bài Lao chừng 500 mét, có trường Jeanne D'Arc của các Soeur Dòng Thánh Phaolô, cùng một Dòng tu với Bà Marie. Ngoài ra, tại làng Kim Long, bên bờ sông Hương, cách Huế chừng 3 cây số còn có một Viện Mồ Côi có tên là Cô Nhi Viện "Dục Anh" do các Soeur Dòng Thánh Phaolô phụ trách cũng đã hoạt động cả trăm năm rồi! (Bà Marie sinh quán tại làng An Lộng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Dưới con mắt của tôi, Bà Marie là một Nữ Tu có nhiều uy tín và được mọi người kính trọng nhờ lòng đạo đức, tinh thần bác ái, hy sinh phục vụ bệnh nhân và học vấn của bà. Tôi lớn lên ở một miền quê, tỉnh nhỏ, chỉ thấy các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, khiêm tốn, nghèo khó, mặc áo dòng đen, đi guốc gỗ, học hành chỉ đủ để dạy giáo lý cho trẻ em quê mùa, dốt nát, nghèo nàn ở các giáo xứ xa xôi, thiếu ánh sáng văn minh của thành thị... Bây giờ thấy một Nữ Tu đi giày da, mặc áo Dòng theo kiểu Tây, nói tiếng Pháp như "đầm", được mọi người kính trọng một cách đặc biệt...nên tôi rất khâm phục.
Năm 1960, vào tuổi trưởng thành, tôi được gia đình trao cho trách nhiệm liên lạc với trường Jeanne d'Arc để lo cho mấy đứa cháu đang học nội trú tại đây. Mỗi năm, vào dịp Tết hay nghỉ Hè, tôi đều nhận được thư mời thay mặt phụ huynh đến dự Lễ Phát Phần Thưởng, xem Văn Nghệ và Hội Chợ do trường tổ chức. Jeanne d'Arc là trường nữ trung tiểu học, tư thục, trước năm 1954-1955, chuyên dạy chương trình Pháp. Bậc tiểu học thì nhận học sinh nam lẫn nữ. Nhưng từ trung học trở lên thì chỉ nhận nữ sinh mà thôi. Các tu sinh cũng học chung với nữ sinh ở ngoài. Trường có nhận học sinh nội trú. Mỗi lớp từ 25 đến 30 học sinh, đa số là con nhà danh giá, giàu có tại Thành Phố Huế và Miền Trung. Trước 1954, nhiều gia đình công chức hay sĩ quan người Pháp cho con đến học trường nầy. Một số các mệnh phụ, phu nhân đều xuất thân ở đây. Tất nhiên nữ sinh trường Jeanne d'Arc cũng có tiếng là xinh đẹp và được đánh giá cao về mặt tư cách đối với xã hội thời đó.
Mỗi lần tổ chức hội chợ, trường lựa chọn các cô duyên dáng, ăn mặc lịch sự, nói năng khôn ngoan, khéo léo để tiếp đón quan khách. Đặc biệt, trường chọn các cô có bàn tay đẹp, đứng núp sau màn, chỉ đưa "bàn tay ngọc" lên cho người ta ném vòng. Vòng nào lọt vào bàn tay đó thì được phần thưởng. Ngoài ra còn những màn múa, hát và diễn kịch do các nữ sinh và các tu sinh trình bày rất công phu, đẹp mắt. Nhiều chàng trai đến xem văn nghệ, tham gia hội chợ...ra về phải mang bệnh tương tư! Có thể nói, đây là cơ hội cho các bà mẹ, các cậu con trai danh giá trong thành phố tìm người để "kết tóc xe tơ", tính chuyện xây dựng gia đình tương lai...
Mặc dù mới ngoài hai mươi tuổi, nhưng với trách nhiệm là người đại diện gia đình, cứ mỗi cuối tuần tôi đến gặp Bà Hiệu Trưởng để xin phép cho các cháu về nhà chơi, ở lại tối thứ Bảy, chiều Chúa Nhật trở lại. Nhiều lần được nói chuyện với Bà Hiệu Trưởng, tôi được Bà quý mến và xem tôi là người đứng đắn, trưởng thành. Năm 1964, tôi đang học tại Đại Học Sư Phạm Huế, thì Linh Mục Nguyễn Kim Bính, lúc đó đang làm Cha Xứ tại nhà thờ Phanxicô, bên cạnh trường Jeanne d'Arc cho biết, trường đang cần một giáo sư dạy Văn Chương và Sử Địa và ngài cũng muốn giới thiệu tôi. Đa số giáo sư của trường là các bậc lão thành hoặc các cô giáo, ít khi có Thầy giáo trẻ tuổi như tôi.
Năm 1964, trường mới có các lớp Đệ Nhất Cấp: từ lớp đệ tứ (tức lớp 9) trở xuống. Bà Hiệu Trưởng là một Nữ Tu nói giọng Huế, có người anh ruột là một Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế, hai anh em đều trở lại đạo Công Giáo, một người làm Linh Mục và một người là Nữ Tu. Bà có văn bằng Cử Nhân, đối với thời đó, rất giá trị. Qua niên khóa 1965-1966, có Hiệu Trưởng mới và trường mở thêm 2 lớp Đệ Tam (lớp 10) và Đệ Nhị (lớp 11) thi Tú Tài bán phần. Các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng (Kim Đôi) cũng được gởi đến học tại đây, mỗi lớp vào khoảng 40 học sinh. Tôi dạy Quốc Văn (Việt) lớp Đệ Tam (10) và Sử Địa lớp Đệ Nhị (11). Trước khi vào niên học, tôi nhớ có cô sinh viên lên nhận bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại Đại Học Huế với huy chương danh dự bằng bạc. Khi gọi tên cô, ai cũng chăm chú nhìn xem "nhan sắc" cô như thế nào" Nhưng các nam sinh viên đã quá ngạc nhiên khi được biết cô sinh viên đó lại là một Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô: Soeur Marie Jeanne Đại Thị Đức, em ruột của nhà văn TCHYA (Đại Đức Tuấn). TCHYA là tác giả các tiểu thuyết nổi tiếng trước 1945 như Kho Vàng Sầm Sơn, Đồng Tiền Vạn Lịch,v.v...mà tôi đã say mê đọc một thời...Nữ Tu Đại Thị Đức đã từng du học ở Roma về, là người có tài thuyết phục, ngoại giao rộng, biết tổ chức, chỉ huy.

Niên học mới 1965-1966, Soeur Marie Jeanne (Đại Thị Đức) làm Hiệu Trưởng. Học sinh thường gọi là Bà Marie Jeanne khác với Bà Jeanne (Trương Thị Hưởng) đã từng làm Hiệu Trưởng vào những năm 1960-1963. Bà Marie Jeanne rất có uy, học sinh đều sợ Bà. Tôi còn quá trẻ, sợ mang tiếng với các cô học trò nên mỗi lần đến giờ ra chơi (giờ nghỉ), tôi thường đến văn phòng Bà ngồi nói chuyện. Tôi gọi Bà bằng Dì một cách thân mật, xem Bà như là bậc phụ huynh trong gia đình. Ở Huế, vào khoảng tháng 10 trở đi, thời tiết hay mưa bão, có khi trời trở lạnh bất thường. Có lần Bà đi ngang lớp tôi đang dạy, thấy tôi hắt hơi, sổ mũi...Bà liền đi xuống nhà ăn, bưng lên một ly rượu vang nóng (wine) và hai viên thuốc cảm, để trên bàn cho tôi. Rồi chào tôi, ra đi. Học sinh thấy vậy, nói với nhau:
"Bà Marie Jeanne là Mẹ của ông T. đó!". Cô khác lại nói:"Ông T. là cháu Bà Marie Jeanne!"...
Lễ Giáng Sinh năm 1966, tôi thực hiện cho trường một đặc san, với phương tiện riêng của tôi, không bắt học sinh đóng góp tiền bạc gì. Tôi nhờ họa sĩ Phạm Văn Hạng trình bày hình bìa và trang trí bên trong. Tôi kêu gọi anh em giáo sư và học sinh tham gia, có người làm thơ, có người viết truyện. Tôi cũng góp một truyện ngắn, một bài thơ...cho vui. Báo in Ronéo, nhờ nhà in đóng và cắt xén rất đẹp. So với thời đó, một tờ báo của học sinh mà được như thế là hãnh diện lắm rồi! Đây là kỷ niệm cuối cùng của tôi với trường Jeanne d'Arc.
Sau đó ít lâu, tôi được chuyển về làm việc tại Bộ Giáo Dục và chưa đầy một năm sau (tháng 10-1967) tôi ra ứng cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện tại Thừa Thiên. Sau khi đắc cử, tôi trở về Sài Gòn. Thỉnh thoảng có dịp ra Huế, tôi có đến thăm Soeur Marie Jeanne và thăm trường. Bà Marie Jeanne có xin tôi mua cho trường một cái loa phát thanh cầm tay để khi nói chuyện trước đám đông học sinh cho tiện. Tôi đã thực hiện theo ý của Bà. Trong thời gian làm Dân Biểu, có lần tôi đi qua Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn...Qua sự giới thiệu của Bà Marie Jeanne, tôi có ghé thăm gia đình Ông Bà Thành Quang Nhiên, Tổng Lãnh Sự VNCH tại Hồng Kông và đã được Ông Bà tiếp đón rất ân cần. Bà Nhiên là người trong gia đình của Bà Marie Jeanne.
Từ 1972 trở đi, tôi không có dịp về Huế. Nghe nói Bà Marie Jeanne đã về Nhà Dòng tại Đà Nẵng. Sau ngày 30-4-1975, tôi bị giam giữ trong "nhà tù cải tạo" của chế độ CSVN suốt 13 năm. Tết năm 1988, được về Sài Gòn, tôi liền viết thư ra Đà Nẵng báo tin và hỏi thăm Bà. Nhưng Bà Bề Trên Nhà Dòng ở Đà Nẵng đã viết thư cho tôi biết: Bà Marie Jeanne Đại Thị Đức đã qua đời! Tôi rất buồn và cảm thấy một sự mất mát rất lớn trong cuộc đời của mình: Trong thời gian 13 năm tù, mẹ tôi qua đời năm 1985 và bây giờ 1988, lại thêm một người mẹ tinh thần nữa ra đi! Ở trong tù cũng như khi được tự do, mỗi lần đọc kinh, cầu nguyện hay tham dự Thánh Lễ, tôi đều nhớ đến các ân nhân, trong đó có Bà Marie Jeanne.
Vợ tôi cũng là cựu học sinh Jeanne d'Arc và cũng đã trở lại đây làm giáo sư một thời gian. Cách nay chưa đầy một năm, có mấy người bạn cùng lớp với vợ tôi tại trường Jeanne d'Arc gặp nhau tại TP Westmisnter, Nam California. Tôi có đến thăm. Tất cả được 05 người. Bốn người ở Nam California: Bùi Thu Hương, Phan Thu Hương, Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Lài và Nguyễn Thị Tân ở New Jersey...Các cô mong có dịp họp mặt cựu học sinh Jeanne d'Arc đông hơn. Nghe nói ở vùng San Jose (Bắc California) có nhóm Thiên Hựu - Jeanne d'Arc, không biết được bao nhiêu người" Ở Việt Nam, tôi có gặp chị Nguyễn Thị Sô, chị Lê Thị Bình (Dòng Kim Đôi) và Nguyễn Thị Lệ Mỹ...Tại Hoa Kỳ, tôi có gặp Từ Thị Siêu và Nguyễn Thị Phước...Tôi không còn nhớ mặt các cô, nhưng các cô vẫn còn nhận ra tôi.
Xin cám ơn Soeur Theresa Nguyễn Thị Diệu Thới, cựu học sinh trường Jeanne d'Arc Huế, hiến ở Đà Nẵng, đã báo tin cho tôi biết kỷ niệm 100 năm (1903-2003) trường Jeanne d'Arc Huế sẽ được tổ chức vào ngày 27 tháng 12 năm 2003 tại Huế.
Các cựu Giáo sư và cựu học sinh trường Jeanne d'Arc có thể liên lạc với:
Sr. Benedictine Trần Diệu Khánh
365 Ngu Hành Sơn (Phan Tu)
Quận 3 Đà Nẵng- Việt nam
Địa chỉ email: [email protected]
Sau ngày 30-4-1975, trường bị nhà nước CSVN chiếm đoạt, các Soeur phải đi nơi khác, học trò cũng không còn! Đây là tài sản của Giáo Hội Công Giáo, không biết Nhà Nước có chịu trả lại cho Nhà Dòng hay không" Các Soeur suốt đời lo việc giáo dục và bác ái, xã hội, phục vụ người nghèo, người đau ốm...không lẽ chẳng còn ai biết đến công ơn của các Nữ Tu hay sao" Việc tịch thu nhà cửa, tu viện, trường học, nhà nguyện, cô nhi viện của các Soeur...có hợp tình, hợp lý hay không"
NLT (7-7-2003)
(Sau đây là bài thơ về trường Jeanne d'Arc của một cựu học sinh, gởi về Quý Soeur Dòng Saint Paul nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường Jeanne d'Arc)
TRƯỜNG JEANNE D'ARC
Có một ngày, khi trở lại Quê Hương,
Tôi sẽ không quên hỏi tên đường,
Thăm lại Jeanne d'Arc, ngôi trường cũ,
Cho thỏa lòng, tôi vẫn nhớ thương.
*
Thuở ấy, tóc tôi hẳn còn xanh,
Tuổi xuân với ước mộng trong lành,
Mơ ước tuyệt vời và thánh thiện,
Tôi nhìn đời, đời đẹp như tranh.
*
Mỗi ngày hai buổi, tôi đến trường.
Trường tôi giữa núi Ngự sông Hương,
Do Quý Nữ Tu mang áo trắng,
Mà cuộc đời (là) bản nhạc Yêu Thương.
*
Trường như tổ ấm của chim non.
Trường cho tuổi trẻ nụ cười dòn.
Trường khai trí tuệ thêm trong sáng.
Trường luyện con người, tấm lòng son.
*
Tới trường, tôi gặp bạn, gặp Thầy.
Học hành không bỏ một phút giây.
Tôi kính Thầy Cô như Cha Mẹ.
Bạn bè cũng chọc phá một cây!
*
Giờ tôi tuổi đã tóc muối tiêu,
Nghĩ đến trường xưa, nhớ thật nhiều,
Nhớ bạn, nhớ Thầy, ngôi trường cũ,
Lòng thầm cảm tạ Đấng Cao Siêu.
An Siêu
(Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.