Hôm nay,  

Tôi Lên... Báo

12/08/200600:00:00(Xem: 3212)

Mô Phật, xưa nay tôi cặm cụi viết mãi, cũng được đăng đều, dù biết mình viết bài không hay lắm, nói cho đúng thì tôi khởi nghiệp, cái nghiệp...chướng nầy từ trang Phusa.net của anh Nguyễn Lê Nguyên, thói thường ở ngoại quốc thì không biết thế nào chứ xứ ta và các nhà văn ta xưa nay chẳng thấy ai là xuôi bườm mát mái trên con đường gọi là ...Văn nghiệp.

Theo lịch sử Việt nam thì người nỗi tiếng nhất có lẽ là cụ Nguyễn Du, tác giả Kim vân Kiều truyện, Âu Á, Đông Tây đều biết cụ, thế mà trong đời còn than thở một câu:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"

Thuở sinh thời, cũng nhờ văn vẻ ra làm quan, nhưng khốn nỗi,Việt nam thường chiến tranh và phe phái, cuối cùng cụ cũng cáo quan về quê, trên đường về chắc lòng buồn rười rượi, có lẽ không khác mấy cái ngày đầu tiên tôi làm việc với cơ quan an ninh, nhưng cụ có cái ung dung là giũ sạch, còn tôi thì lơ lững chưa biết, nên cụ còn cảm nhận hai câu:

 Trên đường quê gặp người bán củi

Thương nhau, không chỗ giống nhau.

Giống làm sao được kia chứ, kẻ chán sự thối nát mà bỏ quan trường, kẻ thì đầu tắt mặt tối lặn lội kiếm cái ăn, chẳng biết ai khổ hơn ai" Và cũng chẳng biết nếu có thể làm thơ, người tiều phu ấy xuất khẩu vài câu thương hại ngược lại cho cụ thì chí nguy...

Tới những bậc cao nhân thời chữ Nôm chữ Hớn, những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Cao Bá Quát, cho chí thời chữ Quốc ngữ những Khái Hưng, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng cũng không thấy ai phất lên hay kiếm miếng ngon ngon nhờ vào mớ chữ, và...cái đáng tội nhất là hình như sau khi họ chết rồi thì mới bất tử, người đời mới chiêm nghiệm, bàn ra tán vào chán chê theo từng giai đoạn lịch sử, cho rồi cấm, rồi lại cho, có tội tình chi mấy ông nhà văn trói gà không chặt ấy nhỉ" Nếu ai cũng hiểu giúp cho rằng, gặp chuyện gì đó, thay vì vung gươm tuốt kiếm như con nhà võ biền, thì giới văn vẻ cũng xả xu-pắp bằng chửi đổng vài bài cho sướng miệng, văn không làm ai sống, chẳng làm ai chết, chỉ có nhột, nhột như cù –lét tí thôi, suy diễn tới chuyện quốc gia đại sự thì ôi thôi...hết biết.

Ngày cách mạng, từ chiến khu có những Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Dần...và biết bao nhiêu kẻ khác, sống một đời cơ cực với những đứa con tinh thần do mình đẻ ra, chuyện văn chương nó phải trúc trắc éo le, cả trong văn lẫn trong người mới thành nhà văn, nhà thơ, xét lúc nầy chỉ mỗi ông Tố Hữu là vinh thân phì da nhờ nghề  Thợ, làm tới quan chức Chánh phủ chứ chẳng chơi, nhưng rồi cũng không xong, bỡi lẻ ông làm quan to, nên lại nhúng vào chuyện “Giá, lương, tiền” là chuyện không phải của văn thơ, thành kết cục cũng thành “tối sủa”.

Giá viết văn cũng như học làm mắm thì khỏe biết bao, cứ cho cá cho muối,cho vào hủ rồi chờ thời gian là xực...khổ chuyện văn chương phải hứng thú mới làm ra được, chưa nói tới cái trời cho là khiếu, có ông Tiến sĩ giỏi như trời, nhưng đặt bút lại không nặn ra vài câu,dù sở học tận mây xanh mây đỏ, lại có anh khóa làng không thi đỗ Hương, Hội, Đình thì mở miệng thơ tuôn ra...cứ là xối xã, nhưng...khi có sự Nhột Nhột rồi thì coi chừng, vạ như chơi chứ chẳng đùa,

Ông Hữu Loan gần đất xa trời mới lai tĩnh, còn thì cứ chở đá nung vôi nấu gạch, chỉ vì mỗi bài thơ bất hủ nói thật tâm sự đời riêng ‘Màu tím hoa sim” (cũng bài ấy mà ông Phạm Duy xào nấu ăn ngon thơm phứt, chẳng rõ...những ngày xuôi cố quốc ông ta có ghé lại cảm ơn không nhỉ...") cũng may tới thời kỳ đổi mới đám ”con phe” trước đó được nhà nước tặng danh hiệu Doanh nhân, có hẳn một ngày kỷ niệm nên có kẻ chơi trội, mua bản quyền bài thơ của cụ...những một trăm triệu, cũng đỡ cho cái thân già, tiếc rằng: Lợi thì có lợi mà răng không còn.

Rồi như ông Quang Dũng, ra chiến trường tới Trung đoàn trưởng Tây tiến, nói lên cái khổ của người chiến binh nơi xứ Pathét Lào sốt rét trọc đầu là...bị trọc đầu lần nữa, giá biết bắt chước ai đó nói dối để sống có nhẻ Quang Dũng làm cán bộ cấp Trung ương,như câu hát “Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu...đàn  Ta lư em hát với ca vang cùng núi rừng...” nặng trĩu là hát với ca chứ đừng than thở nhà thơ Quang Dũng ạ. Vong hồn anh có biết thế không"

Kể ra tôi cũng có sự thiên lệch đôi chút cho những nhà thơ lính, bỡi tôi cũng có thời ở “ Nhà binh”nên trong số nhiều vị như Văn Cao, hay nhiều người khác nữa đại xá, kẻ hèn nầy xin Nam mô a di đà tứ phía...

Cho tới hôm nay, tôi chẳng phải nhà văn, nhà thơ, nhà báo gì sấc, chẳng qua buồn chán cái thói đời ô trọc, bằm xuống bàn phím vi tính ra con chữ rồi gửi đăng, anh em thấy tội, dìu dắt và bỏ qua lỗi chính tả đăng cho vài bài gọi là...có công mài sắt có ngày nên...dùi vậy, hứng chí bằm tới, húc như trâu húc mã, mấy chục bài, anh em đọc cứ tưởng ông già nầy đang độ ...hồi xuân sung sức, viết khỏe.

Quả là chưa vui đã sầu chia phôi, ông nhà nước kiểm duyệt tới báo nước ngoài, thế là thay vì thời @ với bàn phím, tôi lùi lại bút lá tre... tất cả tựa bài đều chung công thức như làm mắm...Tôi tên là. Ngày... tháng... năm sinh..., chánh trú quán v.v...và v.v..

Con trâu hồi xuân thành con trâu què, thời gian và đầu óc lẩn quẩn chuyện chính chị, chính em, chuyện lời khai, lời thuật...anh em báo giới thấy thương cho tôi, đưa tôi lên bàn mổ, phỏng vấn, lên đài, kể ra mà nói tôi cũng mừng cho cái nghiệp của mình, tới lúc hai ba bên định bệnh cho lên bàn mỗ rồi đây, phen nầy ung thư ung thối gì cũng có người chữa, trời không cho sống cũng ra ma. Trăm sự phú cho thiên địa vậy. Anh em họ không chờ tôi viết nữa, họ chăm nhau viết cho tôi,chạy nhiều tít lớn, kể như thằng tôi vô danh tiểu tốt thế nầy, không quan thầy, không rỏn rẽn xu hào gì mà anh em họ thương, tôi biết là lòng thật, mới nghiệm thân tiều phu đốn củi của mình, nhà văn, nhà báo nghèo kiết xác với nhau nhưng có tấm lòng làm ấm nồng, bởi cũng chính họ, đem những ông to, bà lớn trên khắp thế gian ra bêu thằng nọ thằng kia, nhà văn nhà báo đại diện cho dư luận, mà...Dư luận...không có nhiệm kỳ.

Nhưng...lại nhưng, đã mang cái nghiệp vào thân, hơi đâu mà trách trời gần trời xa, không viết thì cứ lóng nga lóng ngóng thế nào ấy, nên bác sĩ có kê toa là không nên uống toa cũ, toa mới là phải cữ kiêng các món có tính chị, em...nên trong thời gian ở cữ cũng kiêng bớt chuyện chị em cái đã, tuổi hồi xuân không biết đã qua chưa" Tới cụ Nguyễn Du mà còn nói văn chương là thứ “Mua vui cũng được một vài trống canh” bác sĩ lập bệnh án, tôi kê toa không đúng chỗ chứ có nói chi chuyện Dân chủ chủ dân mô trời" Thế mà cũng họa. Họa vô đơn chấy. Hử.

Du Lam

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
LTS: Bài viết sau của cụ bà Đinh Thanh Trang kể về một số kinh nghiệm dùng thuốc Nam, thuốc ta chữa bệnh sau khi bệnh viện và thuốc Tây bế tắc
(Fasting For Physical Rejuvenation)       Mặc dù sự cần thiết của Nhịn Ăn đã được chúng tôi nói đến từ nhiều năm qua.Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết Nhịn Ăn cách nào"Có lợi ích gì"Có hại gì không"
1- “Sữa Ong Chúa” là gì" Giá trị dinh dưỡng và trị bệnh ra sao" Tiếng Anh của Sữa Ong Chúa là “Royal Jelly”.
Nói đến thịt thỏ, cần phân biệt 2 loại thịt thỏ nhà hay rabbit (lapin, theo tiếng Pháp) và thịt thỏ rừng hay hare (lièvre).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.