Hôm nay,  

Mậu Thân Hồi Giáo

17/03/200600:00:00(Xem: 6264)
- Hoa Kỳ có quân lực mạnh, Tổng thống Mỹ có quyết tâm, nhưng dân Mỹ thiếu ý chí…. Quân khủng bố nghĩ vậy không sai.

Trùng hợp với thời điểm ba năm của chiến dịch Iraq, Tổng thống Bush cho công bố "Sách lược An ninh Quốc gia" vào ngày 16 tháng Ba. Đây là Sách lược 2006, nối tiếp một tài liệu tương tự là Sách lược 2002, được công bố ngày 17 tháng Chín năm 2002, sáu tháng trước khi khai diễn chiến dịch Iraq.

Hành pháp Hoa Kỳ xưa nay vẫn trình bày cho Quốc hội rõ sách lược về an ninh đối ngoại của mình, với sự góp ý của giới hữu trách về ngoại giao, quân sự, an ninh và tình báo. Sau khi Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công năm 2001, ông Bush là người đầu tiên công bố tài liệu này cho bạn và thù cùng biết. Ông nêu rõ chủ trương của mình là 1) bạn thù phân minh, 2) chứa chấp khủng bố cũng là khủng bố, và 3) Hoa Kỳ có thể đơn phương ra tay trước.

Chủ trương ấy về sau được gọi là "chủ thuyết Bush".

Thực ra, một giáo sư Đại học và cũng là chiến lược gia, Paul Wolfowitz, đã đề ra chủ thuyết "đánh phủ đầu" để ngăn ngừa chiến tranh lan rộng từ năm 1992, khi là Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng Đặc trách Chánh sách dưới thời Tổng thống Bush 41. Và trong lịch sử, không thiếu gì lãnh tụ Hoa Kỳ đã ra đòn trước với lý do tự vệ, được trình bày hay suy diễn rộng hay hẹp tùy lúc.

Vụ khủng bố 9-11 khiến chủ thuyết Wolfowitz được ông Bush chọn lựa, ngược với quan điểm đối ngoại ban đầu của chính ông, một quan điểm có thể nói là bảo thủ thực tiễn.

Từ chủ trương ấy, Hoa Kỳ mở ra chiến dịch Iraq sau khi tấn công chế dộ Taliban tại Afghanistan. Nhưng, cả năm trước khi vào Baghdad, chính quyền Bush đã cố gắng vận động một giải pháp quốc tế cho Iraq, với hồ sơ võ khí tàn sát WMD khi ấy đã được mọi người coi là đáng ngại nhất. Sau này, khi tìm không thấy võ khí WMD này, các chính trị gia đối lập đã xoay chuyển đề tài và kết án ông Bush là gian dối. Sự gian dối không xuất phát từ ông Bush.

Võ khí WMD chỉ là một lý do tham chiến khi ấy được cả thế giới, Liên hiệp quốc, Anh, Pháp, Đức, Nga, v.v… coi là có thật. Về sau, người ta mới lờ mờ hiểu ra là Saddam Hussein đánh lừa mọi người, kể cả tướng lãnh của mình, về bửu bối WMD, để gián chỉ một vụ tấn công của Hoa Kỳ. Tình báo Mỹ đã thất bại nặng khi không biết ra sự thể ấy, và Saddam cũng thất bại nặng khi không ngờ rằng ông Bush dám ra tay - và rốt cuộc ông ta đang ngồi trước tòa án.

Võ khí WMD là lý do tham chiến, nhưng động lực của cuộc tấn công thực ra đã nằm trong Sách lược An ninh được công bố năm 2002. Hoa Kỳ muốn chứng tỏ ý chí của mình với quân khủng bố Hồi giáo và các chế độ hung đồ trên thế giới. Nếu một cường quốc dầu hỏa có võ khí tàn sát ngay giữa Trung Đông như Iraq mà còn có thể bị tấn công và lãnh đạo bị lật đổ, thì các chế độ Hồi giáo khác nên lấy đó làm gương.

Giữa giải pháp khủng bố của al-Qaeda và ý chí của Hoa Kỳ, họ có thể chọn lựa.

Cuộc chiến Iraq vì vậy đã khởi sự và đã trải qua ba năm…

Sự yếu kém về tình báo của Hoa Kỳ khiến vấn đề võ khí tàn sát trở thành đề tài tranh luận trong chính trường Mỹ. Như truyền thống, các chính khách Hoa Kỳ và nhất là Quốc hội Mỹ, chỉ nhìn thấy ngọn mà không thấy gốc và coi chuyện tái đắc cử của họ quan trọng hơn mọi vấn đề khác. Thất bại về tình báo là không lường trước được sự thể tại chỗ sau khi chế độ Saddam bị lật đổ. Những vụng về quân sự và ngoại giao khiến tình hình không diễn biết đơn giản và dứt khoát như dự kiến ban đầu. Chuyện này thì cuộc chiến nào cũng gặp, quốc gia nào cũng có.

Đặc điểm và nhược điểm của chính quyền Bush là dù đã ý thức được yếu tố tâm lý hay chiến tranh tâm lý của cuộc chiến chống khủng bố, lại không giải thích được nội vụ cho rõ ràng. Truyền thông và chính trường Mỹ làm nốt phần vụ còn lại, là khiến dư luận hoài nghi về chính nghĩa và lẽ tất thắng của cuộc chiến.

Đó là chuyện đang xảy ra….

Sách lược An ninh 2006 của chính quyền Bush có nhìn ra điều ấy nên đưa ngay lên mục tiêu số một của Hoa Kỳ là khát vọng tự do và nhân phẩm của con người. Đó là tôn chỉ "phát huy dân chủ toàn cầu là điều kiện cho hòa bình toàn cầu". Thay vì nói đến giải pháp quân sự như điều kiện cần thiết để bảo vệ an ninh Hoa Kỳ, chính quyền Bush mở rộng tôn chỉ phát huy dân chủ như một giải pháp cho mọi quốc gia, được ông trình bày từ năm 2003, rồi khai tirển và kết hợp có hệ thống vào Sách lược An ninh 2006. Tôn chỉ ấy là bài học và là sự khác biệt giữa Sách lược An ninh 2002 với Sách lược An ninh 2006.

Nhưng người ta không có thời giờ và chú tâm theo dõi xem Sách lược mới này sẽ đem lại kết quả ra sao.

Vụ Iraq khiến tỷ lệ ủng hộ ông Bush tuột dốc và khiến các chính khách Cộng hòa bỏ rơi ông để chuẩn bị tranh cử 2006 và 2008. Người ta không chờ đợi một sự nhân nhượng hay thông cảm nào từ đảng Dân chủ, đảng này không có truyền thống ấy, kể cả khi an ninh Hoa Kỳ bị đe dọa. Những người hiếm hoi như Nghị sĩ Joe Lieberman là ngoại lệ đáng kính.

Nhưng khi các tay lý luận bảo thủ nhất bắt đầu lên tiếng là không đáng tham chiến tại Iraq và Mỹ có thể cũng sẽ bị thảm bại tại đây như đã từng bị tại Việt Nam, người ta phải thấy là Hoa Kỳ đang lăn vào vết xe đổ cũ.Quân khủng bố cũng hiểu như vậy.

Đang bị đẩy lui và cô lập tại Iraq trong khi dân chúng đã ba lần đi bầu năm ngoái và Quốc hội mới của Iraq bắt đầu thành hình và làm việc, họ tấn công một ngôi đền thiêng của dân Shia để châm ngòi cho nội chiến giữa hai sắc dân Sunni và Shia. Nội chiến chưa xảy ra, nhưng đã được truyền thông Hoa Kỳ coi như đương nhiên: họ chỉ gạn ra những tin xấu làm cơ sở lý luận và thông tin cho công chúng.

Một tin khác ít được nói tới là al-Qaeda còn chuẩn bị đưa hơn 400 đặc công ngụy trang là an ninh Iraq để đồng loạt tấn công phi trường Baghdad lẫn các sứ quán Anh, Mỹ và bắt giữ con tin hầu gây một chấn động lớn như vụ Mậu Thân 68 tại Việt Nam. Họ biết rõ người Mỹ và truyền thông Hoa Kỳ hơn là chính người Mỹ. Một biến cố ấy mà xảy ra thì chẳng khác gì Sứ quán Hoa Kỳ tại Saigon bị đặc công Việt Cộng "tràn ngập", là điều không có tại Sàigon - các tay đặc công bị hạ ngay ở vòng ngoài - nhưng được ký giả Mỹ loan truyền trên truyền hình Mỹ. Vụ thảm bại Mậu Thân của Cộng sản Bắc Việt ở tại chỗ đã được truyền thông Mỹ chuyển bại thành thắng, đảng Dân chủ bỏ rơi Johnson và Hoa Kỳ bắt đầu thương thuyết trong thế yếu để rồi tháo chạy trong nhục nhã.

Vụ tấn công của al-Qaeda không xảy ra vì tình báo Hoa Kỳ và Iraq đón bắt được kế hoạch ấy, nhưng dư luận Mỹ đang được chuẩn bị tâm lý cho việc đó.

Trong khung cảnh này ta mới hiểu mục tiêu của chiến dịch Swarmer ("bung lên"") vừa được các đơn vị Hoa Kỳ và Iraq phát động sáng 16.

Chiến dịch được giới thiệu là có quy mô lớn nhất kể từ cuộc tổng tấn công năm 2003 và sẽ kéo dài nhiều ngày. Một trong những nơi bị càn quyét mạnh là thị trấn As Samarra, phía Bắc Baghdad. Xuyên qua những gì được trình bày, người ta có thể suy đoán ra một số chuyện sau đây.

Thứ nhất, sau vụ khủng bố đánh bom ngôi đền của dân Shia, người dân Iraq thấy rõ hơn là họ bị xúi giục vào cảnh tương tàn và bắt đầu có phản ứng. Phản ứng ấy là cung cấp tin tức nhờ vậy mà tình báo Mỹ và Iraq có những thông tin quý báu hơn về hoạt động của khủng bố trong khu vực sinh hoạt của dân Sunni. Thứ hai, những tin tình báo ấy khiến Hoa Kỳ tập trung phương tiện trên một quy mô lớn, có thể để diệt được "những mục tiêu sáng giá", nhưng tay trùm đặc công.

Thứ ba, trong chiến dịch tảo thanh này, các đơn vị Iraq đã tham dự, nhưng trong vai trò tích cực hơn. Trong các đợt tảo thanh As Samarra hay hành quân tại tỉnh Anbar trước đây, lực lượng Iraq chỉ giữ vai trò trừ bị, đằng sau vòng hỏa tuyến. Lần này, họ hành quân hỗn hợp với các đơn vị Mỹ, nên trực tiếp chiến đấu và nhất là đóng góp hữu hiệu hơn về tình báo, thông tin và tuyên truyền.

Vì vậy, chiến dịch Swarmer có ý nghĩa chính trị khác hẳn những gì mà hậu phương Hoa Kỳ có thể nghĩ.

Dân Sunni hợp tác chặt chẽ hơn để tố giác và diệt trừ khủng bố, các đơn vị Iraq cũng được trang bị đầy đủ hơn trong một cuộc hành quân có phối hợp siêu kỹ thuật với tình báo. Và người dân Iraq nói chung đang thấy là họ sẽ đảm nhiệm việc bảo vệ an ninh cho chính mình.

Mấy ngày trước khi khai diễn chiến dịch Swarmer, Hoa Kỳ có lặng lẽ tăng cường quân số tại Iraq và đồng thời công khai hóa việc nói chuyện với Iran "riêng về vấn đề Iraq" (tức là không về kế hoạch võ khí nguyên tử của Tehran).

Điều ấy có thể báo hiệu nhiều biến chuyển đáng chú ý trong tương lai.

Hoa Kỳ có quân lực hùng hậu, Tổng thống Bush là người có quyết tâm, nhưng dư luận Mỹ thiếu ý chí nên bắt đầu nghe theo luận điệu tháo chạy, để tái diễn chuyện Việt Nam sau chiến thắng Mậu Thân. Sau rất nhiều vụng về, ông Bush cũng phải biết được điều ấy. Nhưng, ông còn cầm quyền trong gần ba năm nữa, cũng dài bằng thời gian tham chiến tại Iraq, và ông dám lấy những quyết định đi ngược trào lưu chính trị của Washington.

Tự coi mình như người ngoan đạo và dám hy sinh cho những việc mình coi là chính đáng, ông Bush sẽ dùng thời gian còn lại để tạo ra "sự đã rồi", hầu không thể xảy ra một trận Mậu Thân được nữa. Và khái niệm dân chủ có khi sẽ nẩy mầm trong thế giới Hồi giáo trước khi các chính khách Hoa Kỳ có thể nhổ sạch bằng áp lực triệt thoái.

Sự quả quyết này của ông Bush, Osama bin Laden hay các giáo chủ cuồng tín tại Tehran có thể không ngờ tới. Các đối thủ chính trị của ông Bush cũng vậy. Cho nên ông càng bị công kích sẽ càng lấy những quyết định bất ngờ.

Sự cương quyết của ông có đảo ngược được tâm lý chủ bại của người dân không" Chúng ta sẽ sớm biết…

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.