Hôm nay,  

Vấn Đề Đổi Tên?

07/04/200600:00:00(Xem: 11204)
- Trong những ngày vừa qua, trên mạng lưới Internet đã đăng tải một bài viết có tựa đề 'Đảng Của Dân Tộc' của giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện xã hội học ở Hà Nội. Trong bài viết này, tác giả đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam nên trở lại với tên đảng Lao Động Việt Nam cùng với tên nước là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Giáo sư Tương Lai cho rằng, thời đại hiện nay khái niệm về 'giai cấp' đã thay đổi, vì thế mà nhận thức về lực lượng cách mạng cũng đổi thay trên ba nền tảng:

Một là các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa bị áp bức, mà có nhà nghiên cứu cộng sản coi là giai cấp vô sản của thế kỷ 20 nổi lên đấu tranh đòi giải phóng....ngày nay không còn nữa.

Hai là kết cấu của xã hội hiện đại cho thấy sự phát triển mạnh của nhiều tầng lớp xã hội rất gần với khái niệm ' giai cấp những người sản xuất' và 'những người làm công ăn lương' mà không phải là giai cấp vô sản nghĩa hẹp. Ở Việt Nam cũng vậy.

Ba là các dân tộc thức tỉnh và tự khẳng định mạnh mẽ, ngay trong trào lưu toàn cầu hóa kinh tế, dân tộc trở thành động lực và sức mạnh hùng hậu của thời đại.

Từ những quan điểm này, giáo sư Tương Lai cho rằng, đảng Cộng sản không nên tiếp tục dựa trên giai cấp 'vô sản' vì giai cấp này trong thực tế đã biến đổi là những người sản xuất, làm công ăn lương và đang vươn lên thành giai cấp dân tộc" Chính vì thế mà ông cho rằng đảng Cộng sản phải biến đổi, không nên là đội tiên phong của giai cấp công nhân vô sản mà phải là đảng của những người lấy lợi ích dân tộc là tối thượng" Từ đó ông đề nghị đảng phải thay đổi tên, không nên tiếp tục câu nệ vào những giáo điều đã bị cuộc sống vứt bỏ, để đảng phải là đảng của dân tộc.

Những tiền đề mà giáo sư Tương Lai đặt ra để dẫn dắt những lý luận của mình đi đến đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam nên đổi tên, không có gì sai trật vì ngày nay, giai cấp vô sản đã không còn. Hơn thế nữa, chính đảng Cộng sản Việt Nam còn theo chân Trung Quốc, chấp nhận cho đảng viên tham gia vào các hoạt động kinh doanh làm giàu kể từ sau đại hội toàn đảng lần thứ X, thì việc cho rằng đảng Cộng sản, đảng của giai cấp công nhân lao động không những không còn mang ý nghĩa cách mạng mà đã trở thành một sự lố bịch.

Trong bài viết, giáo sư Tương Lai đã cố đánh bóng vị trí dân tộc của đảng Cộng sản qua cái gọi là 'công lao' chống Pháp, chống Mỹ giành độc lập. Từ đó, ông cho rằng nếu đổi tên, đảng Cộng sản sẽ trở thành đảng của dân tộc. Cách lý luận này không ổn và bị tiêm nhiễm những giải thích quanh co của những nhà lý luận cộng sản về 'công lao' chống Mỹ, chống Pháp để biện minh về sự độc quyền cai trị của đảng trong mấy chục năm qua. Từ nhiều năm qua, những lý thuyết gia Cộng sản đã đứng trên tiền đề rằng đảng Cộng sản đã có công 'giải phóng' đất nước ra khỏi sự thống trị của Pháp, của Mỹ nên vì thế mà đảng phải lãnh đạo đất nước vì không có lực lượng nào khác có khả năng cũng như không có công như đảng Cộng sản Việt Nam" Trong khi thực tế lịch sử, ai cũng thấy rằng đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp công kháng Pháp của toàn dân vào năm 1945 và đã đưa dân tộc vào cảnh tang tóc chỉ vì tham vọng vô sản hóa toàn miền Nam Việt Nam sau năm 1954, theo chỉ thị của quan thầy Liên Xô. Chính vì bị nhầm lẫn như vậy, giáo sư Tương Lai đã đưa ra một đề nghị thiếu thực tế. Tại sao"

Thứ nhất, vấn đề trì trệ của đất nước hiện nay không phải là vì cái tên đảng Cộng sản hay tên Nước xã hội chủ nghĩa mà chính là những con người cộng sản đã không biết đặt quyền lợi đất nước cao hơn quyền lợi của phe nhóm hay của chủ nghĩa. Họ đã có rất nhiều cơ hội để thực hiện nguyện vọng chung của dân tộc là xây dựng một đất nước tự do, dân chủ và độc lập sau năm 1945, năm 1954, năm 1975, năm 1991... nhưng họ đã không làm.

Thứ hai, nếu không cố bám vào cái gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa hay đội tiên phong của giai cấp công nhân vô sản.... những người cộng sản Việt Nam không còn bất cứ một cái gì để biện minh cho sự cầm quyền độc tôn hiện nay. Nghĩa là nếu họ dựa vào những lý luận Mác Lê - tuy đã cuối mùa- ít ra giúp cho họ an trú trong lúc vơ vét tài sản để bỏ chạy, còn nếu phải bỏ tất cả để về với dân tộc... thì họ chỉ còn là những tên tội đồ ngoan cố.

Thứ ba, thay đổi tên đảng hay tên nước không phải là việc làm khó khăn. Vấn đề đặt ra là tại sao phải thay đổi" và sự thay đổi đó có tốt hơn hay không" Nếu thay đổi tên mà bản chất của những người lãnh đạo vẫn tiếp tục như thời gian qua, thì chẳng khác nào thay đổi lớp sơn trên một thứ gỗ đã mục hay quá tồi.

Nói tóm lại, đề nghị đổi tên đảng và tên nước của giáo sư Tương Lai là một nhắc nhở cho giới lãnh đạo Hà Nội về quyền lợi của dân tộc. Nhưng sự đề nghị của ông đã thiếu phần nhận diện về bản chất thật của những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam nên người đọc đã thấy cái nhìn của ông thiếu thực tế. Hơn thế nữa, dù đảng Cộng sản có tuyên bố đổi tên đảng hay tên nước đi chăng nữa mà nền tảng chính trị vẫn nằm trong sự khống chế toàn diện của một thiểu số độc tài, thì chẳng khác nào hành động 'đánh bùn sang ao' mà thôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.