Hôm nay,  

Câu Chuyện Ca Nhạc

01/10/200300:00:00(Xem: 5412)
Có lẽ khi bàn về ca nhạc thì hầu như mọi người đều có thể tham gia đóng góp ý kiến, khác hẳn với các bộ môn nghệ thuật khác như hội họa, thi ca, văn chương... đòi hỏi một số hiểu biết căn bản nào đó. Vì bài hát gồm lời ca và nét nhạc, nét nhạc thì qua tai đi thẳng vào lòng người nghe để cảm nhận phản ứng rằng nó được thích hay không thích chứ không cần lý trí suy luận dài dòng.
Còn lời ca thì liên quan tới thi văn, nhưng nó lại được chuyên chở bởi nét nhạc, cho nên cũng có thể phán xét rằng nó có ăn khớp với nhau trong cùng một bài ca hay không. Và cuối cùng người nghe trả lời rằng thích hay không thích bản nhạc đó.
Bài hát thì được diễn tả bởi một giọng ca nào đó gồm chất giọng, phát âm lời ca, xướng âm có đúng cao độ của nốt nhạc, có đúng nhịp, kỹ thuật lấy hơi, luyến láy...Kể ra thì dài dòng nhưng tóm gọn lại thì giọng ca đó có truyền cảm không để được ưa thích giống như một người con gái cuối cùng phải có duyên, một vẻ đẹp quyến rũ nào đó cho người ta yêu.
Nhưng còn một vấn đề quan trọng cần nêu ra là tùy theo chủ thể, có kẻ thích giọng này mà kẻ khác lại không thích , và một lần nữa câu chuyện tranh luận lại chạy lòng vòng không bao giờ kết thúc.
Câu chuyện bàn về các tiếng hát trong nước so với hải ngoại thì ai hơn ai cũng nằm trong đề tài này. Các tiếng hát hải ngoại còn lại một số ít sinh hoạt như Khánh Hà, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Thanh Tuyền, Chế Linh, Thái Châu..., đa số đã nghỉ hưu vì tính từ 1975 đến nay đã 28 năm. Các người mới thay thế thì bây giờ cũng tạm gọi là không trẻ như Ý Lan, Như Mai, Thái Hiền, Vũ Khanh, Tuấn Vũ, và người trẻ hơn thì cũng từ trong nước qua định cư hải ngoại như Như Quỳnh, Thế Sơn... Còn những tiếng hát trẻ thuần tuý thuộc hải ngoại như Thanh Trúc, Lâm Nhật Tiến... vì họ lớn lên cũng như luyện tập ca hát ở bên này.
Có một nhận định chung là các giọng ca hải ngoại dù già hay trẻ, nó đại diện cho một phong cách trình diễn của sinh hoạt ca nhạc Sài Gòn trước năm bảy lăm bao gồm cách phát âm lời ca, kỹ thuật hát, cách chọn bài hát, y phục. Một điểm khác cũng dễ thấy là đa số các tiếng hát này không có tốt nghiệp một trường chuyên nghiệp dạy ca mà trong nước gọi là thanh nhạc. Do đó tính chất kỹ thuật đã không nổi bật trong khi trình bày một ca khúc. Đây cũng là khuyết điểm và đồng thời cũng là một ưu điểm khi so sánh với các tiếng hát trong nước bây giờ.
Khi Cộng sản chiếm Sài Gòn thì người dân miền Nam đã nghe nhiều giọng ca của cái gọi là văn công gồm những người đã học hát từ các trường thanh nhạc của các nước cộng sản Đông Aâu. Họ xướng âm rất chuẩn, kỹ thuật hát khá cao qua cách rung giọng, lấy hơi và nhất là hát những nốt nhạc cao cùng những nốt nhạc khó hát. Tuy nhiên cách phát âm lời ca thì bằng một giọng miền Bắc pha trộn với tính chất cộng sản làm khán giả miền Nam không thích, họ gọi là " giọng ca Việt Cộng".
Một lý do nữa là các bài hát họ trình diễn thiếu chất tình cảm, chỉ tuyên truyền cho nhà nước cho nên quần chúng miền Nam chán ghét.
Dân miền Bắc thời đó thì cũng có một số thấy thích các giọng ca Sài Gòn cùng các bài hát tình ca lãng mạn của chế độ VNCH.

Bây giờ những tiếng hát nổi tiếng trong nước là đệ tử của những văn công thời đó như Thu Phương, Mỹ Linh, Trần Thu Hà, Thanh Lam... chỉ khác một điều là họ trẻ hơn và những bài ca họ hát không còn tính tuyên truyền như thời trước. Họ có những ưu điểm của kỹ thuật trường thanh nhạc nhưng cũng vì thế mà cách hát đa số giống nhau. Mới nghe họ hát đôi lần thì khó mà phân biệt tên người hát.
Nghe thật kỹ thì thấy tính chất kỹ thuật đã phô diễn quá nhiều làm mất đi sự tự nhiên và truyền cảm của bài hát. Đôi khi các tiếng hát trẻ đã lạm dụng làn hơi khoẻ để "gào" lên những nốt nhạc cao, cách này rất ăn khách trong lúc trình diễn trên sân khấu để chinh phục khán giả trong một bầu không khí sôi động. Nhưng nếu trong lúc bình tĩnh ngồi nghe đĩa hát thì mới thấy thiếu đi sự dịu dàng, êm ái. Một chiếc xe tốt khi lên dốc cao không nghe tiếng máy xe to hơn, hát cũng như thế.
Giọng hát trẻ trong nước nếu là dân miền Bắc thì cách phát âm làm dân miền Nam không thích lắm nhưng nếu là người trong này như Quang Dũng (Qui Nhơn), Mỹ Tâm (Đà Nẵng) thì họ thấy gần gũi hơn. Cũng cần nói thêm là cách hát của Quang Dũng chịu ảnh hưởng của Tuấn Ngọc khá nhiều, tức là phong cách của Sài Gòn.
Trở lại cái khuyết điểm đồng thời cũng là ưu điểm của giọng ca Sài Gòn thời trước là chất giọng khác nhau của từng ca sĩ tạo nên nét riêng biệt của họ. Thanh Thúy khác Lệ Thu, khác Hương Lan, Sĩ Phú khác Duy Khánh, Hùng Cường... Và tuy có khi thiếu tính kỹ thuật nhưng họ lại diễn tả rất tự nhiên, mỗi người một vẻ.
Tính kỹ thuật tuy cần nhưng nếu quá đáng thì mất đi sự truyền cảm như trường hợp của Khánh Hà. Ai cũng công nhận rằng kỹ thuật hát cô rất cao nhờ lâu năm kinh nghiệm cùng thu thập những cách hát qua các bài ca Tây phương. Khi ra cuốn băng nhạc tên Gợi Giấc Mơ Xưa, phát âm của cô như là một người ngoại quốc hát nhạc VN, nhưng liền sau đó, Khánh Hà đã điều chỉnh và trở nên vị trí hàng đầu. Cũng vì quá chú trọng kỹ thuật mà một câu hát, cô đã thu đi thi lại nhiều lần làm cảm hứng bay mất, khách thưởng ngoạn tinh tế nhận ra điều này trong một số bài hát trong đĩa.
Sỡ dĩ nhắc yếu tố kỹ thuật để nhấn mạnh là đừng ỷ vào nó, cần nhiều yếu tố hài hoà để hấp dẫn khi hát.
Bàn chuyện ca nhạc mới thấy rằng các tiếng hát Sài Gòn năm xưa tức hải ngoại bây giờ không có người tiếp nối vì các người trẻ lớn lên bên này nói tiếng Việt chưa rành lấy đâu mà hát cho tròn chữ.
Các tiếng hát trong nước qua hải ngoại được đón nhận niềm nở thì cũng giống như các tiếng hát bên này trở về bên đó được khán giả hoan nghênh. Lý do đơn giản là người ta thích cái gì mới lạ. Giống như chàng Việt kiều đến nhà quen, đãi khách mấy món trái cây như bôm, nho và mãng cầu, mít. Chàng ta thích mãng cầu và mít trong lúc đó thằng cháu ở trong nước lại cứ chọn bôm, nho.
Bàn chuyện ai hơn ai tuy là câu chuyện văn nghệ, là chuyện trà dư tửu hậu nhưng bên cạnh đó cũng nói lên tính chất chính trị. Văn nghệ Sài Gòn hay văn nghệ miền Bắc, ngay cả trong nước khi tiếng hát Ngọc Sơn mang tính miền Nam đi thi chung kết tại Hà Nội đã thua Thanh Lam liền tức giận bỏ về trở thành tin tức báo chí sôi nổi.
Bài viết chỉ gợi lên đề tài để bạn bè tranh luận thêm cho không khí văn nghệ hào hứng, nhiều người tham dự thì càng nhiều ý kiến hay.
San Jose cười tháng chín

Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
Giữa những hình ảnh cánh đồng hoa anh túc và những chiến hào sũng nước trong ký ức chung về Thế Chiến I, ít ai để ý đến sự hiện diện của các trại tù binh chiến tranh ở vùng đảo British Isles. Nhưng trong suốt cuộc chiến, Anh đã giam giữ gần 116,000 người trong các trại tù binh trên khắp đất nước, từ Cung điện Alexandra ở London đến một trang trại cũ trên Đảo Isle of Man. Trong số đó có một võ sĩ đấm bốc và nghệ sĩ biểu diễn xiếc người Đức tên là Joseph Pilates.
Cựu Trung tướng Phạm Quốc Thuần đã qua đời vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Sáu 18-8-2023 tại Fountain Valley, California, hưởng thọ 98 tuổi. Ông sinh ngày 31-8-1926 tại Hà Đông. Trung tướng Phạm Quốc Thuần giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Bộ Binh (Thủ Đức) ngày 20-8-1969...
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
✱ Đs Anh/Đs Lodge: Đề xuất của Hồ Chí Minh về một hiệp định đình chiến - Nhu đã đáp lại rằng đề xuất này "không thực tế" nhưng có thể trở thành thực tế trong ba hoặc bốn tháng tới và đang được nghiên cứu. ✱ Báo Espresso, Italia: Ông Nhu sẵn lòng từ bỏ viện trợ Mỹ nếu đó là cái giá phải trả để loại bỏ sự hiện diện của người Mỹ - Nhu cho biết Việt Nam có thể tồn tại mà không cần người Mỹ - Ông Nhu phản ứng phẫn nộ khi người Mỹ muốn ông rời khỏi đất nước. ✱ Nhà báo M.West,Úc: Ông Nhu nói rằng ông muốn tất cả, lặp lại, tất cả các cố vấn Mỹ đều phải rời đi - Không có người Mỹ, chúng ta có thể thắng chiến tranh trong hai hoặc ba năm - Hiện nay trong ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, không có đạo đức. ✱ Đại sứ Lodge: Chúng ta nên xem xét việc rút quân là một khả năng ngày càng gia tăng. Sự bắt đầu của việc rút quân có thể gây ra một cuộc đảo chính...
Một nhóm khoa học giả quốc tế đã thấy bằng chứng lâu đời nhất về cà ri bên ngoài Ấn Độ và cho thấy ý nghĩa lịch sử của hành trình mà các thành phần gia vị này đã trải qua để đến đó. Các nhà nghiên cứu từ Úc, Việt Nam và Trung Quốc đã tìm thấy món ăn này – được biết đến với hương vị cay nồng của đất, có nguồn gốc từ Nam Á và hiện đã phổ biến trên toàn cầu – có lẽ đã được đưa đến bàn ăn của người Việt Nam hơn 1800 năm trước nhờ mạng lưới thương mại hàng hải.
Ở Hoa Kỳ, khi ai đó qua đời, thường thì họ sẽ được ướp xác, đặt trong quan tài và chôn cất tại nghĩa trang (thổ táng), hoặc mang đi hỏa táng, phần tro cốt sẽ được trả lại cho gia đình, người thân. Tuy nhiên, thổ táng và hỏa táng nay đã không phải là các lựa chọn duy nhất. Ngày càng có nhiều nhà tang lễ, cả các công ty khởi nghiệp và tổ chức vô vụ lợi, cung cấp cho mọi người những nghi thức khác nhau dành cho người đã khuất. Trong tương lai, bối cảnh nghi thức tang lễ sẽ đa dạng hơn…
Đã mấy năm nay, một nhóm tên "Sinh viên tranh đấu cho được nhập học công bằng" (Students for Fair Admissions) kiện Đại Học Harvard về tình trạng mà họ cho là bất công lúc xét các ứng viên Á châu nộp đơn vào trường đại học ưu tú này của Mỹ. Nhóm này cho rằng Harvard thực hành “affirmative action” (hành động khẳng định) và "racial balancing" (quân bình chủng tộc) trong quá trình quyết định ai được nhận ai bị từ chối. Nếu không, theo họ, nếu chỉ căn cứ trên thành tích học tập (academics) tỷ lệ sinh viên Á châu được nhận sẽ là 43% tổng số, hay ít lắm 26% nếu xét thêm về hoạt động ngoại khóa, thể thao hay gia đình quen biết với trường ("legacy"); chứ không thấp như mức 18.7% như hiện nay.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.