Hôm nay,  

Akhmatova, Và...

07/07/200300:00:00(Xem: 6193)
Khi biết cô gái rượu của mình tính in thơ trên một tờ báo ở St. Petersburg [ở Hà Nội], ông bố bèn bảo, rằng bố cũng không cấm cản một việc làm như vậy - làm thơ, và rồi in thơ - nhưng theo bố, đừng đem xấu xa đến cho dòng họ nhà mình, con nên tìm một bút hiệu.
Và thế là “Anna Akhamatova” đi vào văn học Nga, thay vì “Anna Gorenko”.
Chuyện chọn một bút hiệu như thế, thì cũng chẳng có chi là chắc chắn, nếu nói về chọn cho mình một nghề - nghề làm thơ - hay về chuyện cái thông minh, thiên phú, thiên tài trời cho bây giờ mới nở ra; nó cũng chẳng xác nhận, rằng, chỉ du di một tí, về căn cước, tên gọi của mình, là có ngay một nhà văn, nhà thơ. Đây chỉ là giữ sao cho được cái vẻ bên ngoài – Gorenko là một trong những cái tên như thế đó: một thế gia vọng tộc. Và cái nghề viết văn làm thơ vốn chỉ được thiên hạ nhìn, với chút dè bỉu: ôi dào, cái cô Anna Gorenko ấy, tưởng làm vương làm tướng gì, tại làm sao đổ đốn ra như vậy: viết văn, làm thơ" Chẳng lẽ không có cách nào tốt hơn để chọn cho mình một cái tên" Kẹt quá thì kiếm một thằng bác sĩ, kỹ sư, đàn bà làm quan tắt là chuyện thường, mà!
Tuy nhiên, đòi hỏi của ông bố như vẫn có một cái gì hơi bị quá đáng. Nói cho cùng, Gorenko đâu thuộc dòng dõi những ông hoàng. Nhưng, gia đình Gorenko sống ở Tzarskoe Selo - Tzar's Village - nơi nghỉ mát của hoàng tộc, và một địa linh như thế làm sao mà không nẩy ra nhân kiệt, làm sao mà không ảnh hưởng tới những đấng con trai trong gia đình" Tuy nhiên, với cô gái mười bẩy tuổi của ông, trong một khu vuờn tại nơi chốn phải nói là tuyệt vời vô cùng này, một thế kỷ trước đây, đóa hoa thiên tài Puskin đã "nở ra một cách thật là cẩu thả" (carelessly blossomed). [Điều này quả là có một ý nghĩa đáng kể, đối với riêng cô, nếu không, cô đâu dám liều mình... làm thơ, và bây giờ... in thơ, mà lại đặt tên tập thơ của mình là.... Nằm Nghiêng"]
Nhưng, [từ Khắc Hiếu đến Tản Đà, từ Đứa Bé Lưu Lạc (Lạc Nhi) tới Cuốn Sách Huyền, có những nhà văn nhà thơ không chỉ bịa đặt những bút hiệu, những nhân vật có những cái tên mà chỉ mình mới biết hết những bí mật, những âm hưởng khi nghe đọc lên... mà còn bịa đặt luôn cả những ông tổ ông cố chẳng hề có, cho dòng họ nhà mình...], chỉ nội bút hiệu, Akhmatova, tự nó đã có vẻ, nếu không nói huyền thư, huyền hoặc, huyền thoại, thì cũng liên quan, về phía bên ngoại, tới những ông hoàng Đông Phương, những "tất liệt:" (khan), và người ta phải mò tới "the last khan of Golden Horde": tới Achmat-khan, một hậu duệ của Chengiz-khan. (1)
"Mình là một Chengizite", nhà thơ nữ của "chúng ta" khiêm tốn nói, chẳng thèm giấu diếm, ít nhiều kiêu ngạo, ở trong đó [Mình là dòng Núi Tản Sông Đà...].
Và với một cái tai Nga -xô [một cái tai Xứ Đoài Mây Trắng], "Akhamatova" rõ ràng là nghe ra cái giọng Đông Phương Huyền Hoặc - Tartar to be precise, Brodsky - [với nữ thi sĩ của chúng ta, thì lại là Tây Phương huyền hoặc, Tây Phương ở đây là tên một ngôi chùa ở Xứ Đoài]....
[Với một người cùng quê hương xứ Đoài, cô khiêm tốn, thành thực hơn, và cũng cởi mở hơn, nói: Mình dân Kẻ Nủa]....

Tác giả Nằm Nghiêng đã từng thở than, tôi chẳng hề muốn lưu vong trên đất mẹ...
Còn với Akhamota, việc chọn cho mình một cái tên như thế, hóa ra là có tính tiên tri, Brodsky viết như vậy. Chưa kể điều này: Bàn tay em "năm" ngón, Ru mãi ngàn "năm": "năm" chữ "a" mở ra tên thi sĩ [Anna Akhmatova] hớp hồn người nghe [Brodsky viết: có một hiệu quả thôi miên], và đẩy cái tên này lên trên đầu của cái bảng mẫu tự thi ca Nga. Theo một nghĩa nào đó, đây là một khởi đầu thành công, cho một nghiệp thơ, của một thi sĩ.
Làm sao bạn có thể quên nổi một cái tên như thế, hay một cuốn sách huyền hoặc, một ngọn đỉnh trời, một ngọn sông Đà, với câu thơ, câu hát:


Chiều nay trên bến muôn phương, có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...

Khoan nói chuyện nữ thi sĩ Nga, mà số mệnh đã chọn lựa, phải đứng riêng ra, không chỉ với quê hương của bà, mà còn với những kẻ bỏ nước ra đi.....

[Cho phép người viết lạc đề một chút, ở đây, nhân nói chuyện bút hiệu. Cái tên Thanh Tâm Tuyền, là từ Tâm, và Thanh Tuyền. Theo như người viết được biết, qua bà cụ thân sinh ra thi sĩ, khi cô Thanh Thuyền này lên xe hoa, thi sĩ 'đau quá', "quằn quại suốt đêm, gãi sồn sột"... bà cụ thương tình, khuyên, ôi dào, thiếu gì, con... còn cả lố.. ở ngoài đời đấy!....]

Anna Akhmatova thuộc về những nhà thơ không cần phả hệ, mà cũng không cần một sự "phát triển" rõ rệt. Bà là một thứ thi sĩ giản dị có đó [She is the kind of poet that simply 'happens']. Được trang bị chẳng thiếu một thứ chi, bà mang thơ tới giữa đời: Đây này, thơ mình như thế này này:... [with an already established diction and his/her own unique sensibility. Brodsky].

Và bà chẳng hề giống ai.
Còn điều này nữa: Trong bao nhiêu kẻ bắt chước bà, chẳng hề có kẻ nào có một tí Akhamatova ở trong những dòng thơ 'mô phỏng' của họ đó, và tiếu lâm thay, họ lại cứ hao hao giống nhau, nghĩa là hao hao dở ẹch như nhau!
[Hình như trước đây, chưa hề có ai dám đặt tên cho tập thơ của mình, lúc đầu là "Giấc Mơ Của Lưỡi", sau đổi là "Nằm Nghiêng"].

(1): Golden Horde: Từ tiếng Nga Zolotaya Orda, dùng để chỉ Ulus Juchi, phần đất phía tây của Đế Quốc Mông Cổ, nổi lên từ giữa thế kỷ 13 tới 14. Đã từng chinh phục Nga xô. Vào thế kỷ 14, đế quốc Golden Horde đã coi Hồi giáo như là tông giáo chính thức của nó, vì vậy mà Nga xô đã chịu ảnh hưởng của cả hai, Hồi giáo và văn hóa Á Châu. [Theo bách khoa Britannica và Columbia]

Lưu vong trên đất mẹ... She [Akhmatova] không ruồng bỏ Cách Mạng. Một dáng đứng thách đố, khinh khi cũng không. "Tôi không hiểu những từ đao to búa lớn", bà nói. Một thi sĩ, sinh ra là dân chủ, không phải chỉ nhờ tính may rủi do vị trí của nhà thơ mà có được, nhưng bởi vì 'đâu cần nhà thơ có' [he caters to the intire nation], và nhà thơ sử dụng ngôn ngữ của cái xứ sở cần tới nhà thơ [its nation]. Ở đâu có bi kịch, ở đó có thi sĩ. Brodsky viết: Akhamotova, thơ của bà luôn luôn quyện vào với tiếng bản địa, thổ ngữ, với tục ngữ, ca dao, chính vì vậy mà bà có thể đồng nhất với mọi người, dễ dàng hơn, so với những thi sĩ khác chỉ "lo làm thơ", hoặc nhắm những yêu cầu khác: Bà nhận ra nỗi đau [của cái quốc gia mà bà sử dụng ngôn ngữ của nó]:

CINQUE
Đúng như vậy, tôi luôn luôn thù ghét nó
Khi mọi người thương hại tôi.
Nhưng nếu bạn cảm thấy thương hại, mủi lòng: Hãy nói ra đi -
Mặt trời mới, trong thân thể tôi.
Chính vì vậy mà bình minh ở khắp nơi.
Tôi có thể tạo phép lạ, ở đây hoặc ở đó,
Đó là lý do tại sao!
1945-1946

Akhmatova

[Cinque: Năm, như trong lá bài số năm, hoặc năm điểm của con xúc xắc].

*
Volkov: Thật mong manh, cái gọi là ký ức của con người.... Tôi muốn, nhân dịp này, khêu gợi chút mong manh, trước khi chìm vào quên lãng: Chút ký ức của ông về Akhmatova...

Brodsky: Rất hân hạnh. Và thích thú. Đó là một phần đời của tôi, và nói về đời mình, thì đúng là chơi cái trò của một con mèo, muốn tóm được, chính cái đuôi của nó. Khó vô cùng, khó không thể chịu nổi. Nhưng cứ nói, như thế này: Mỗi lần gặp Akhmatova là một kinh nghiệm đặc biệt đối với tôi: Một khi mà bạn cảm thấy, về mặt thể chất, mình kém xa, so với người đó. Người đó hơn hẳn bạn. Chỉ nội giọng nói của người đó, là đã thay đổi, chuyển hóa bạn.
Và Akhmatova chuyển hóa bạn thành Homo sapiens, chỉ bằng giọng nói, hoặc lúc lắc cái đầu của bà... Có lẽ bởi vì tôi còn trẻ, khi đó...

[Có lẽ bởi vì tôi đã già, khi đó.
Khi trở lại Hà Nội]

Jennifer Tran

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.