Hôm nay,  

Bóng Mẹ Hiền

05/04/200300:00:00(Xem: 4683)
Trần Dật & Lê Ngô Ái Lan
Chiều, một buổi chiều xuân thật êm đềm. Dưới rừng thông tu viện Diệu Viên, tôi dạo bước quanh chùa với tâm hồn thanh thản, vắng lặng và hạnh phúc, sau khi tham dự lễ khánh thành nhà dưỡng lão của ni viện Diệu Viên. Qua bao năm xa quê, mỗi lần trở về, gia đình chúng tôi luôn luôn ước ao làm được một việc gì đó có thể giúp ích cho đời, cho đạo, làm vơi bớt phần nào sự khổ đau cho những kẻ khốn cùng.
Trong không gian tĩnh lặng của cảnh chùa, lòng tôi cảm thấy thanh thoát và trầm tư làm tôi nhớ đến mẹ tôi tha thiết. Hình ảnh mẹ tôi vẫn trĩu nặng trong tôi suốt 57 năm trời. Mẹ ơi! mẹ có biết rằng con nhớ mẹ vô vàn. Mẹ đã bỏ con ra đi vĩnh viễn trong một đêm trăng tròn của mùa Thu năm ấy, năm 1947. Tôi mất mẹ như mất cả cuộc đời. Kỷ niệm miên man xôn xao trở về trong ký ức tôi như nước lũ tràn dâng.
*
Ngày ấy chiến tranh tràn về quê tôi, gieo bao nhiêu đau thương tang tóc cho thôn xóm. Lệnh tản cư được ban ra, dân làng Trúc Lâm hốt hoảng kéo nhau vào Đồng Chầm lánh nạn. Cảnh đồi núi hoang vu, hẻo lánh. Chỉ thấy xa xa vài đám ruộng còn trơ gốc rạ, khiến lòng người cảm thấy thê lương hiu quanh.
Tất cả sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Gia đình tôi và gia đình bà Huyện Đài may mắn thay còn được tạm trú ở hai túp lều tranh, hoang vắng vốn dành cho những tá điền của gia tộc chúng tôi từ nhiều năm qua, ẩn giữa rừng thông bát ngát đồi núi chập chùng, sương mù bao phủ ở khe Đồng Chầm. Chạy giặc trong một đêm sương gió se lạnh, tiết trời hè đã chuyển sang thu. Đến đây vào lúc rạng sáng, mọi người quá mệt mỏi đã thiếp đi một giấc ngủ dài, cho đến khi trời ngã về chiều, nắng vẫn còn một mầu vàng dịu mát, đủ sáng cho buổi cơm chiều, trước khi màn đêm buông xuống. Sau bữa cơm đạm bạc, cả nhà tôi cùng nhau ra ngồi bên bờ suối, trong sương thu, gió hây hây mát lạnh, mảnh trăng thượng tuần màu trắng bạc lung linh trong tiếng súng “tạch đùng” từ xa dưới làng vọng lên từng hồi. Trong không khí im lặng nặng nề, bỗng nghe cất lên tiếng Cô Đốc Trinh, bạn láng giềng của mẹ tôi, con dâu của bà Huyện Đài – êm ái ngọt ngào:
- Mẹ ơi, để nhà con đỡ mẹ lên, con hầu cơm nước cho mẹ. Từ chiều đến giờ, mẹ chưa dùng gì cả, cố gắng ăn đi mẹ ạ...
Mẹ tôi tỏ vẻ cảm động, ánh mắt mơ màng xót xa... và kể lại rằng: Ngày xưa bà Huyện Đài nổi tiếng cả một vùng, không chỉ vì nhà bà giàu “nứt đố đổ vách” mà còn nổi tiếng bởi vì bà là người đàn bà đanh đá, chanh chua, khắc nghiệt đối với tất cả các tá điền, người ăn kẻ ở trong nhà. Bà Huyện chỉ biết làm giàu từ việc phát canh thu tô đến cầm cố, cho vay nặng lãi. Cả đời, bà chỉ biết tiền bạc, thóc lúa là trên hết. Bà đặc biệt đối với nàng dâu – Cô Đốc Trinh – hết sức cay nghiệt. Nàng dâu càng hiền thục bao nhiêu, bà càng lên tay múa ngón bấy nhiêu. Cô Đốc Trinh cam chịu cảnh đời bất hạnh, chỉ biết sống chịu đựng đắng cay một mình.
Vào vụ lúa chiêm năm 1944, bà Huyện Đài theo tá điền đi thu lúa ở Đồng Chầm. Tính bà vẫn thế, phải tự đi thu để khỏi bị vãi rơi dọc đường. Bà cho cha con chú Cùi, gia nhân của bà đi theo để “mót” lúa. Khi đò chở đầy lúa về, trời bỗng giáng một trận mưa tầm tả, cơn phong ba nổi lên tứ phía, sống cuồn cuộn mênh mang, đò ngập nước rồi chìm. Mọi người hốt hoảng, trong nỗi kinh hoàng phải lo tự cứu lấy mình. Bà Huyện Đài kêu thất thanh: Cùi ơi, Cùi ơi... cứu tao với... Chú Cùi đang cố tìm thằng Lụa, liền chạy quay lại túm mớ tóc dài của bà Huyện để kéo bà lên bờ. Xong chú hốt hoảng nhào xuống nước, bơi mãi tìm con, may thay thằng Lụa cũng được cứu sống.
Lên đến bờ, chú Cùi đuối sức, nằm bất tỉnh trong chiếc quán tre trống lốc bên đường làng. Sau kiếp nạn đó, bà Huyện ngã bệnh suốt tháng. Trong cơn mê sảng, bà gọi tên nhiều người, trong đó có người con gái duy nhất của bà đang hư hỏng lưu lạc tha phương. Ba tháng chập chờn cơn tỉnh cơn mê, đối diện với cái chết, bà được sự chăm sóc chu đáo của người con trai, nàng dâu và cả chú Cùi nên bệnh thuyên giảm dần. Nàng dâu hiền thảo không chỉ tận tình: “lấy ân báo oán” mà còn thỉnh mời quý Sư ở Chùa Tổ Khánh Vân về tụng niệm cầu an, thuyết pháp cho bà được thấm nhuần đạo lý từ bi, nhân ái. Cuối cùng, bà Huyện Đài như được “cải tử hoàn sinh”...
Mẹ tôi ngừng câu chuyện và chép miệng. Tất cả chúng tôi lặng lẽ thở phào rồi mẹ tiếâp tục kể:
Sau cơn bệnh thập tử nhất sinh đó, cận kề cửa tử, bà Huyện Đài đã thay đổi hoàn toàn. Trong những ngày nằm liệt giường, bà đã suy nghĩ nhiều về chú Cùi là kẻ ăn người ở, sao lại có tấm lòng cao cả, ân nghĩa này làm sao trả hết! Bà bứt rứt xót xa và ôm niềm ân hận muốn chuộc lại những lầm lạc ngày xưa. Việc đầu tiên, bà nhận chú Cùi làm con nuôi, cắt một mảnh đất vườn và làm cho gia đình chú một mái lều nhỏ ấm cúng, thằng Lụa được bà xem như cháu nội, cho ăn học hẳn hoi. Đối với tá điền, bà giảm tô và xóa nợ cho những người nghèo khó, neo đơn, đồng thời ân cần khuyên bảo họ chí thú làm ăn. Riêng với nàng dâu Cô Đốc Trinh hiền thục, đảm đang, nhẫn nhục, bà Huyện Đài đã giao cho việc quản lý toàn bộ gia sản, cơ ngơi một cách đáng tin cây. Có lẽ sau lần thoát chết, bà đã hồi tâm, cảm nhận được lẽ vô thường trong trời đất mà tu tâm, dưỡng tánh. Chắc hẳn những lời thuyết giảng của Chư Tăng trong thời gian bà nhuốm bệnh đã giúp bà ít nhiều hiểu thấu được lẽ nhiệm mầu của đạo Từ Bi. Cuối cùng cô con gái hư hỏng của bà cũng đã trở về trong nổi nhớ thương mòn mỏi của người mẹ nay trở nên thật đáng thương đáng kính...
Từ đó, gia đình bà Huyện Đài sống trong êm ấm thuận hòa, hạnh phúc. Cô Đốc Trinh là người phụ nữ đức hạnh, nhân hậu luôn hết lòng săn sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nhất là trong những lúc ốm đau như các con đã thấy đó. Mẹ tôi thực sự xúc động khi thuật lại câu chuyện nầy cho chúng tôi được nghe, như muốn chúng tôi nhìn thấy ở đây tấm gương sáng xứng đáng cho người đời noi theo.
Mười hai năm sau, bà Huyện Đài thanh thản nhắm mắt ra đi. Bà cũng tìm lại được nhiều năm tháng hạnh phúc bên con cháu và người thân yêu, trước khi qua đời.
Đau đớn thay! sau nhiều ngày đêm chạy loạn kham khổ, mẹ tôi nhuốm bệnh và đột ngột qua đời. Thiếu vắng mẹ, những ngày êm đềm tuổi thơ của tôi không còn nữa. Tôi thấm thía thấy cảnh mất mẹ từ đây. Trong tâm trí tôi, từ non nớt đến trưởng thành, mẹ luôn luôn là một hình ảnh cao cả, bao dung, vị tha, nhân đức. Bà sống mãi trong tim tôi, thiên thu rực rỡ.
*
Vợ chồng cô Đốc Trinh có hai người con, con trai trưởng là anh hai Long, trạc tuổi tôi, và cô Loan kém tôi độ hai tuổi. Ngoài ra còn Lụa, con chú Cùi được bà Đốc nuôi nấng coi như con ruột và dạy dỗ ăn học nên người.
Thời gian thấm thoát trôi qua, hai mươi năm vèo đưa như chiếc lá thu rơi. Rồi biến cố mùa Xuân năm 1975 xảy tới, người Việt chúng ta trải qua cuộc chạy nạn chưa từng có. Tôi, bạn Hai Long, Lụa và cô Loan gặp lại nhau trong những ngày cuối thật căng thẳng ở Sài Gòn. Lụa và hai Long đều không muốn ra đi, vì ai sẽ là người chăm sóc mẹ, bà Đốc Trinh nay đã già yếu. Tình mẫu tử thật thiêng liêng, càng thêm bịn rịn, quyến luyến. Trách nhiệm làm con cũng như ơn sâu nghĩa nặng không cho phép bỏ mặc mẹ già. Cuối cùng, Hai Long quyết định hy sinh để em nuôi ra đi tìm cuộc sống mới. Đêm từ biệt anh, một đêm thật buồn thảm, trời không trăng sao. Lụa đã đem hết tiền dành dụm được trao lại cho nghĩa huynh để anh ở lại lo việc phụng dưỡng mẹ già. Trong giờ phút chia ly, hai anh em đều không cầm được nước mắt, xót xa từ biệt nhau. Riêng Loan, em ruột thịt giàu có, chẳng đoái hoài gì đến mẹ, lặng lẽ theo chồng ra đi không một lời giã từ.
Sau một thời gian ổn định trên đất khách quê người, Trời trớ trêu đã ưu đãi người tệ bạc... Cô Loan làm ăn khấm khá nhưng không hề đoái hoài thương tưởng đến mẹ già đau yếu, người anh cật ruột đang sống trong cảnh lao tù tuyệt vọng giữa rừng vắng ở quê nhà.
Đến ngay bố mẹ chồng của cô ở cái tuổi bát tuần, cũng bị cô bạc đãi. Ông bà theo con trai qua đây, nào ngờ để rồi phải nghe cô con dâu ngày đêm đay nghiến than vãn, âm thầm cam chịu đắng cay cũng không xong. Cuối cùng cô tống khứ cha mẹ chồng vào nhà dưỡng lão, mặc xác họ với số tiền trợ cấp. Chúng tôi, mọi người đều cảm thấy bất bình, xót xa cho hai cụ già cô đơn gần đất xa trời, xa quê hương làm sao sống nổi ở một nơi xa lạ, lạc lỏng giữa những người không cùng ngôn ngữ tập quán. Hằng ngày phải trực diện với cảnh ốm đau bệnh tật triền miên, vừa cô đơn, và tuyệt vọng, trầm uất, xót tủi sẽ sớm tiễn họ về bên kia thế giới. Nuôi con khôn lớn, chả có ai nghĩ đến sự đền đáp, song đón nhận một sự hững hờ, lạnh lùng, vô cảm đến thế thì thật xót xa, phải chăng đây là một hậu quả của một kiếp người. Ôi, những cha mẹ bất hạnh, ôi những đứa con vô ơn, cõi ta bà thế giới nầy liệu có tồn tại mãi để dung chứa những nghịch cảnh như thế này không"

Ở quê nhà, bà Đốc và cô con dâu nương tựa dìu dắt nhau về với vườn rau, góc chuối, an phận thủ thường để sống qua ngày đoạn tháng, mẹ chồng giúp nàng dâu, giữ gìn cháu nhỏ, không quản nhọc nhằn lặn lội đường xa thăm nuôi con tù tội... tất cả các công việc đó khiến bà Đốc chẳng còn thì giờ để thương tiếc bóng vàng son của dĩ vãng. May thay có chút tiền của Lụa gởi về giúp họ vơi bao phiền não trong cảnh cơ hàn kham khổ. Những cánh thư đầy tình yêu thương của Lụa, làm họ tràn ngập niềm hân hoan và hạnh phúc. Khiến bà Đốc Trinh cảm thấy được an ủi và còn tin rằng cuộc đời này vẫn còn chút tình người.
Mỗi ngày, mỗi tháng qua đi, bà Đốc cảm nhận nổi niềm cô đơn thấm thía, khao khát mòn mõi, mong được tin người con gái duy nhất ở tận trời Âu, dù qua điện thoại hay vài ba chữ “quều quào” gởi về thăm mẹ. Hy vọng theo ngày tháng chồng chất nhuộm bạc mái tóc của bà Đốc. Đôi khi bà Đốc lại tự trách mình vì đã chẳng gầy dựng cho con gái một chút quan hoài đến bố mẹ và người thân yêu.
Về phần cô Loan có ba người con, đứa con trai lớn vì công việc làm ăn, có khi xa nhà đến cả tháng dài, hai cô con gái thường vắng nhà đi hoang. Một hôm, cô Loan thình lình ngã bệnh rồi rơi vào hôn mê. Hai ngày đêm mê man đã khiến cho người chồng tuổi đời đã ngoài 60 một mình đơn độc vô cùng lo lắng, bối rối. Mỗi lần hồi tỉnh, mở mắt nhìn quanh bốn bức tường bệânh viện với một cảm giác xa lạ. Lần đầu tiên cô cảm nhận nổi cô đơn thấm thía, lạc lõng, bơ vơ giữa chợ đời. Những lời hỏi han an ủi của chồng không làm cô bình tâm. Tất cả những gì cô đang có trước mắt, tiền tài, danh vọng, vật chất không làm diïu được nổi lo sợ của một người đang trên giường bệnh. Các bác sĩ đang hội chẩn để tìm ra nguyên do, căn bệnh của cô, nhưng đó không phải là cái chính cô đang mong chờ, cô đang nghĩ về đại gia đình thân yêu mà cô đã lãng quên từ lâu, đúng, gia đình mới chính là liều thuốc cho căn bệnh tâm thần của cô. Cô loáng thoáng thấy bóng người mẹ già và đứa con trai thấp thoáng sau khung cửa kính phòng bệnh. Sóng hối hận dâng tràn trong lòng cô . Cô quyết tâm nhìn lại chính mình và thoát bỏ được những sai lầm, lạc hướng mà cô đã phạm.
May thay, người con trai trưởng của cô, sau công tác, điện về thăm nhà mới được người láng giềng cho biết mẹ anh đã vào bệnh viện cấp cứu. Anh hốt hoảng báo tin cho bà ngoại, ông bà nội, các em và những người thân. Chúng tôi tề tựu ở bệnh viện, mọi người vây quanh giường bệnh an ủi, thăm hỏi như chẳng ai nghĩ đến những việc làm sai trái của cô Loan ngày trước. Cô Loan nước mắt ràn rụa nói chẳng nên lời. Sự ăn năn hối hận đang dày vò tâm hồn cô, cô không đủ can đảm nhìn vào bố mẹ chồng, cả mẹ ruột mình. Các bác sĩ cho hay bịnh tình của cô đã qua khỏi thời kỳ nguy hiểm, thì cô không mừng mà lại tiếc tại sao ông trời không hành hạ cô đau đớn triền miên, để hầu trả nợ được lỗi lầm ngày xưa. Cô cảm thấy đau xót hối hận và hiểu thấu được bổn phận làm con, rồi cô hối thúc căn dặn người con trai lo sắp xếp nhà cửa để đón ông bà nội về hầu hạ, có cơ hội báo hiếu lúc các cụ tuổi đã về già, để họ có những ngày xuân nắng ấm trong quãng đời còn lại. Chính cô Loan đã đánh đổi được hạnh phúc trọn vẹn của gia đình cô đang có. Anh Hai Long, Lụa và tôi ngỡ ngàng như sống trong cơn mộng. Duyên lành ơn Phật đã đến sau bao năm tháng mọi người mong chờ.
Kể từ dạo ấy, gia đình cô Loan sống trong chan hòa, đầm ấm, hạnh phúc, đầy thương yêu ngọt ngào. Không những vợ chồng chúng tôi thường đến hầu thăm, vấn an sức khỏe của bà mà còn có lớp đàn con đàn cháu của bà thường nhật lần lượt về tổ ấm xúm xít, quây quần bên bà và luôn mang lại niềm vui tươi. Đã ngoài 95 tuổi đời, nhưng bà Đốc không yếu, trí óc vẫn còn minh mẫn, luôn yêu đời, đặc biệt những chuổi cười dài vô tận đã đem đến cho mọi người niềm an lạc. Bà chính là cột trụ hạnh phúc của gia đình cô Loan. Bà thật là một hiền mẫu, đức độ, cao quý, bao dung, không những chỉ dành được sự kính trong của xã hội mà còn dành được sự tôn kính của gia đình.
*
Gần 28 năm qua, cô Loan lưu lạc nơi viễn xứ, vì bổn phận, chưa có cơ hội về thăm lại quê hương, bà Đốc hiểu được sự ước mong và tấm lòng của cô con gái, năm nay xuân Quí Mùi (2003) bà khuyến khích gia đình cô Loan, chú Lụa hãy về thăm quê cũ, cùng với đại gia đình chúng tôi, để cô tìm lại quê cha đất tổ.
Chiều nay, một buổi chiều cuối Đông Nhâm Ngọ (2002). Trong bầu không khí miền quê trong lành, êm ả, mát dịu, Xuân đang đến trên những cánh mai vàng, hé nụ nhà ai. Gia đình chúng tôi cùng gia đình cô Loan, chú Lụa từ phương xa về cùng đi thăm viếng mộ phần ông bà tổ tiên. Những ai có xa quê hương lâu, mới thấy lòng mình tràn ngập một nỗi niềm cảm xúc thiết tha khi tưởng nhớ người xưa. Đứng trước mộ, mà lòng bâng khuâng rưng rưng với những kỷ niệm xa xưa hiện về. Đốt nén hương thơm trên mộ cụ Huyện Đài để nhớ người quá cố bao chuyện bể dâu. Mộ mẹ tôi, cách đó không xa, đã hơn nửa thế kỷ mẹ tôi yên nghĩ nơi đây. Bao lớp hưng phế của thời gian và cuộc đời chìm nổi vẫn không thể nào làm tôi nguôi khuây hình bóng của mẹ. Trong tiếng lòng thổn thức, chị cả tôi đã kể lại những câu chuyện ngày xưa đến nay trải dài ba thế hệ. Chuyện gia đình cụ Huyện Đài, chuyện nhà bác Đốc Trinh, chuyện cô Loan... với bao sóng gió cuộc đời. Rất may con cháu trong gia đình chúng tôi hiểu thế nào là nét đẹp của đạo lý, biết cách ứng xử, tôn kính ông bà, cha mẹ, biết sống thân ái, hoà nhã với mọi người chung quanh, và sẵn sàng giúp đời. Mẹ ơi! Bấy nhiêu năm vắng bóng mẹ ở cõi đời này, ở thế giới bên kia chắc hẳn mẹ cũng mĩm cười mãn nguyện, bởi lớp lớp con cháu đã không bao giờ phụ lòng mong ước của mẹ. Với nén hương lòng, con xin cầu nguyện mẹ vãn sanh miền tiên cảnh...
Hoàng hôn xuống dần, hơi sương trên giòng sông Bạch Yến mờ mờ xa xa. Ánh nắng chiều trải dãi trên đồi Trúc Lâm chưa muốn tắt, chúng tôi rời mộ mẹ và cụ Huyện Đài trong sự bùi ngùi nổi nhớ mênh mang. Nghĩ về sự hồi tâm của cô Loan mà cảm động, đặc biệt là cảm tình mặn nồng chí hiếu của chú Lụa mà mến phục ngợi ca. Giao thừa đêm nay, chúng tôi trân trọng gọi điện chúc mừng bà Đốc Trinh sống trường thọ, suốt một đời bà tận tụy thay chồng nuôi con cháu khôn lớn nên người, hy sinh vì chồng, vì con, vì cháu, bà thật xứng đáng là người mẹ hiền dâu thảo là tấm gương đức hạnh tuyệt vời cho hậu thế noi theo.
*
Thời gian không đọng lại, ngày vui chóng qua, thế đã gần nữa tháng ở quê nhà, ngày mai tôi cùng con cái, dâu rễ sẽ tạm rời quê hương xóm làng thân yêu về Mỹ.
Ánh trăng non thượng tuần chiếu chênh chếch xuống sân nhà. Tôi ngồi trên hiên nhà nhìn ra quang cảnh xóm làng như cố thu vào trí óc những hình ảnh thân yêu mà ngày mai đây phải xa cách. Mọi vật đều có đổi thay, riêng vành trăng thì vẫn vậy. Đây là ánh trăng của đêm tản cư năm nào, khi tôi mới mười hai tuổi đầu. Cảnh vật hoang sơ, giữa núi rừng đẫm sương bên hồ suối vàng. Ánh trăng xưa dạt dào cảm xúc nghĩa tình mẹ cha.
Dưới ánh trăng nay giữa quê hương, gia đình chúng tôi cảm thấy hạnh phúc con cháu dâu rể quây quần dưới bóng nhà xưa. Làng Trúc Lâm muôn đời hiền hòa như ánh trăng xuân bàng bạc trên ngàn cây xanh. Tiếng gió lao xao chuyện trò với giòng sông Bạch Yến như giải lụa bộc bạch bao nổi niềm. Hàng cau xanh cao vút lung lay trước gió, hương bưởi, hương lan tỏa mùi thơm thấm dậm tình người. Cảnh và người giao hòa trong một cảm quan thiêng liêng. Bao năm tháng xa quê, nơi đất khách, chúng tôi vẫn cảm nhận được niềm vui của một đời người: Vợ chồng, con ngoan, dâu hiền rễ thảo, cháu thương nhưng nào đâu có ai hiểu được một khoảng trống trong lòng tôi, đã vắng bóng mẹ hiền. Ôi cha mẹ yêu dấu xin hãy về đây chứng kiến cảnh đoàn tụ đại gia đình. Giá như trong ánh trăng xuân viên mãn ngày hôm nay, ánh trăng mát lành như tình mẹ nghĩa cha có được sự xum vầy của bốn thế hệ, tứ đại đồng đường thì tuyệt vời biết bao!
Nhưng làm sao có được sự viên mãn đó" Tôi quá tha thiết, tham lam tình cảm quá chăng" Không, bởi vì tôi vẫn tiếc cho người đời có được mẹ cha mà không biết trân trọng, yêu thương, gìn giữ, đền đáp... Tiếc thay!
Ánh trăng trong làng Trúc Lâm lung linh mờ ảo như đồng cảm với những cảm xúc của tôi. Thấy tôi đang thẩn thờ suy tư, đứa con gái của tôi nhỏ nhẹ:
- Con biết ba đang nghĩ gì rồi! Ba ơi...
- Vâng, con ạ.
- Ba đang nghĩ về ông bà, và mong sao các con cũng sống hiếu thuận như ba mẹ hằng ao ước. Bóng mẹ hiền luôn luôn là nỗi niềm khôn nguây trong cuộc đời ba, như ánh trăng Thu vằng vặc kia.
Trần Dật & Lê Ngô Ái-Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.