Hôm nay,  

GS Nguyễn Văn Sâm Ấn Hành Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ

13/10/202122:21:00(Xem: 5704)

blank

GS Nguyễn Văn Sâm (phải) và nhà báo Phan Tấn Hải
(đang cầm sách Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ) hôm 11/10/2021.

  

GS Nguyễn Văn Sâm Ấn Hành

Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ
 

Phan Tấn Hải
 

Kim Vân Kiều. Nhưng đây là Tuồng Kim Vân Kiều, và là bản Nam Bộ, Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trong khi Truyện Kiều của Nguyễn Du viết theo thể thơ lục bát, trong bầu không khí văn học quý tộc, những người dân Nam Bộ đã làm cho bình dân hóa, và chuyển thành một phiên bản tuồng để trình diễn cho khán giả xem. Truyện Kiều tập trung vào yếu tố đọc, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ tập trung vào yếu tố sân khấu. Do vậy Truyện Kiều là nét thơ tài hoa riêng của nhà thơ Nguyễn Du, ngồi viết trong đơn độc. Trong khi đó, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ là đóng góp tập thể của nhiều nhà sáng tác trong một thời gian dài khoảng 60 năm.
 

Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ được GS Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu. Nguyễn Hiền Tâm bổ chính. Sách in khổ lớn, dày 496 trang. Nhà xuất bản Gió Việt ấn hành.
 

GS Nguyễn Văn Sâm nơi trang 34 sách này ghi nhận về yếu tố tuồng và thời lượng hình thành sách tuồng (bản Nôm): “Nhìn chung, có thể nói mà không sợ sai lầm rằng Tuồng Kiều Nam Bộ hình thành trong suốt sáu mươi năm (tạm gọi là 1875-1942) qua nhiều cải tiến. Nguyên nhân hình thành là để phù hợp với sự thưởng thức của người lưu dân mới vừa định cư ở vùng đất mới mọi thứ đều thiếu thốn, nhứt là mức độ văn chương thơ phú, không thể thưởng thức được loại văn chương quá cầu kỳ kiêu sa của nguyên tác.”
 

Cần ghi nhận rằng, tuy gọi Tuồng Kim Vân Kiều hướng về giới bình dân, nhưng các tác giả nơi một số trang vẫn giữ thói quen học giả. Thí dụ, nơi trang 332, có tới 11 dòng viết bằng từ Hán Việt, trích dòng đầu là: “Niệm kinh: triêu triêu mộ mộ nhứt tham thiền…” Hiển nhiên, không phải các nhà nho uyên thâm, sẽ không sáng tác được Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ.

 
blank

 

*

 
Nơi đầu sách Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ có bài dùng như Lời Đầu Sách của TS Nguyễn Văn Trần, Paris, dài 10 trang sách, từ trang 13 tới trang 22 để giới thiệu sơ lược về chữ Nôm và công trình của GS Nguyễn Văn Sâm, nhưng đặt nhan đề cho Lời Đầu Sách là “Một Bông Hồng Mùa Đông.” Nơi đây, chúng ta dẫn ra phần về chữ Nôm và GS Nguyễn Văn Sâm, do TS Nguyễn Văn Trần   viết, trích:
  

“... Từ khi có chữ quốc ngữ, nhiều tài liệu văn học xưa hàng ngàn năm bằng chữ Nôm được các học giả sau này viết lại bằng chữ quốc ngữ làm cho nhiều người đọc cứ tưởng đó là những bản văn quốc ngữ, mà quên đi đã có chữ Nôm và nền văn học chữ Nôm. Nên việc học chữ Nôm ngày nay vẫn là điều cần thiết và quan trọng.

Học giả Đào Duy Anh, trong Lời tựa quyển «Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến», Hà Nội, 1973, xác định chữ Nôm là thứ chữ dân tộc của ta đã được dùng trong gần 10 thế kỷ, mãi đến cuối thời Pháp thuộc, nó trở thành cổ tự, như chữ Hán, không còn được sử dụng trong đời sống hằng ngày nữa.

Đây là về văn tự. Về tiếng nói, từ ngữ tiếng Nôm lẫn tiếng Hán-Việt làm thành phần lớn thứ tiếng mà người Việt vẫn sử dụng hằng ngày cho đến nay.

Rất tiếc vì chữ Nôm không còn thông dụng nên từ đó không còn mấy người đọc và hiểu được. Nhưng cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và chữ Nôm.

Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ…

Về nguồn gốc chữ Nôm, học giả Đào Duy Anh có kể ra chuyện chuông đồng chùa Vân Bản có khắc nhiều hàng chữ Hán trong đó có vài chữ Nôm nhưng chính ông không thấy tài liệu in chụp lại rõ ràng nên sau cùng ông căn cứ vào tấm bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phú, có ghi đầu năm 1210, đời Lý Cao Tôn, là chứng tích có nhiều chữ Nôm rõ ràng.
 

Về những người nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam bằng chữ Nho và chữ Nôm, trước ông, là những người Pháp như ông Maspéro,… Riêng kẻ nghiên cứu chữ Nôm một cách nghiêm túc, có hệ thống, theo ông, cũng người Pháp, được ông nhắc tới, đó là ông A. Chéon với quyển «Cours de Chữ Nôm».

Tên đầy đủ của ông A. Chéon là Jean-Nicolas-Arthur Chéon (1856 – 1928), nghạch công chức cao cấp của chánh quyền Pháp. Ông được đề cử làm giáo sư dạy ở trường bổn quốc Collège Chasseloup-Laubat. Năm 1889, ông làm Phụ tá cho ông Antony Landes, đặc trách Phòng Chánh Trị của Chánh phủ Nam kỳ. Năm sau, ông bị đổi ra Hà Nội làm Đổng Lý Văn Phòng cho Phủ Thống Sứ.

Ông am hiểu tường tận tiếng Việt Nam. Trong những công trình nghiên cứu của ông về ngôn ngữ học, đáng kể là quyển «Văn phạm chữ An Nam» (1904), «Cours de langue annamite» (Sách dạy tiếng An nam, Hà Nội, 1904), «Tuyển tập 100 bài văn annamites, chú giải và dịch » (Hà Nội, 1899), « Phân tích 100 bài văn trong sách Cours d'Annamite dịch ra chữ Nôm», «Một bản nghiên cúu tiếng lóng (Argot) Annamite và một ghi chú về những thổ ngữ (dialectes) Nguồn, Sắc và Mường» (BEFEO, tập V và VII), «Un Cours de chữ Nôm»,… Ông là người bạn đầu tiên của Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội.
 

Ông Đào Duy Anh nhắc tới quyển «Cours de chữ Nôm» của ông Jean-Nicols-Arthur Chéon nhưng ông lấy làm tiếc là không thấy cuốn đó vì trong thư viện của Viện Khoa học xã hội không còn cuốn sách đó. Nó bị mất từ lâu.

Chữ Nôm là gì? Ông Đào Duy Anh nhắc lại định nghĩa của học giả người Tàu, ông Vương Lực, năm 1948, viết trong một bài nghiên cứu về tiếng Hán-Việt, chữ Nôm là «Chữ Việt mô phỏng theo chữ Hán mà tạo thành».

Không thoát khỏi hoàn cảnh chữ quốc ngữ lúc ra đời, chữ Nôm trong suốt thời gian dài bị giới nho sĩ hủ nho kịch liệt chống đối, dè bỉu, cho rằng chữ Nôm chỉ là thứ chữ «nôm na là cha mách qué» (nôm na là cách nói, cách diễn đạt mộc mạc, theo cách người dân thường không biết chữ Nho, còn mách qué là cách nói thiếu văn hoá đến mức đáng khinh). Cũng vì những xung đột gay gắt do lòng đố kỵ chỉ nhằm bảo vệ cái mũ cánh chuồn và chiếc áo thụng của giới quan lại mà chữ Nôm trong suốt thời gian dài đã không hoàn chỉnh và thống nhứt được. Mất chữ Nho đồng nghĩa với mất địa vị của họ.

Khi nghiên cúu về chữ Nôm, ông Đào Duy Anh lấy làm tiếc hiện nay không có nhiều người Việt Nam am hiểu chữ Nôm để đọc lại sách xưa và diễn dịch, chú giải giúp người ngày nay hiểu văn học và văn hóa của mình thời tổ tiên trước đây. Theo ông, hiện nay trong thư viện của Viện Khoa Học Xã Hội ở Hà Nội còn giữ được 1148 quyển sách bằng chữ Nôm mà chưa được khai thác đúng mức. Ngoài ra, ông nghĩ chắc chắn còn nhiều tài liệu chữ Nôm trong dân gian và ở rải rác trong các thư viện ngoại quốc như Anh, Pháp, Nhựt, Tàu, Đại Hàn…

Đúng như ông nghĩ, riêng ở thư viện quốc gia Pháp, thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ Paris còn giữ một số lớn tài liệu bằng chữ Nôm. Có nhiều tài liệu chưa được khai thác.
 

Cách nay vài năm, cứ mỗi năm vào mùa thu, Giáo sư Hán Nôm Nguyễn văn Sâm vẫn đều đặn qua Paris một tháng, dành nhiều thì giờ vào thư viện tìm những bản văn Nôm của tác giả xứ Nam kỳ để diễn dịch ra quốc ngữ với thêm chú giải. Cách nay hai năm, vì không kịp đọc tại chỗ, ông in lại hơn 3000 trang ôm về Huê Kỳ đọc và phiên dịch. Ông nói thấy ham quá nhưng bây nhiêu đây cũng phải mất nhiều thì giờ mới làm xong. Năm rồi ông không qua Paris được vì dịch Vũ Hán.
 

Giáo sư Nguyễn văn Sâm và chữ Nôm

Trước 30/04/75, Giáo sư Nguyễn văn Sâm dạy văn chương tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Cần Thơ...

Năm 1979, ông tỵ nạn ở Mỹ. Ông không biên khảo nữa mà viết truyện ngắn (lối 90 truyện) và làm một số bài thơ, đăng trên nhiều tạp chí của người Việt hải ngoại. Ông tâm sự «Vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương».

Gần đây, ông chọn trở về với gia tài cổ của dân tộc ở miền đất Nam kỳ bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Paris (Theo trang P. Ký internet). Như ông vừa làm xong «Tuồng Kim Vân Kiều Nam bộ» và giới thiệu:

«Học giới để ý tới truyện Kiều đều biết tác phẩm nầy có nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẩy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều và thay những chữ ông ta cho là khó hiểu để tạo nên một bản văn Kiều mới mà ông cho rằng có tánh cách dân tộc hơn. Đặc biệt phó phẩm viết theo toàn bộ các sự kiện trong truyện Kiều bằng một thể loại văn học khác hẳn để phù hợp với sự thưởng thức của một vùng miền mới phải kể đến nhiều tuồng Kiều”.
 

Giáo sư Lê Hữu Mục, cùng dạy ở Văn Khoa với Giáo sư Nguyễn văn Sâm, cũng chuyên về Hán-Nôm. Cách nay khá lâu, ông qua Paris làm tiếp công trình phiên dịch chữ Nôm của ông Tạ Trọng Hiệp ở Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) bỏ dở dang vì sức khỏe.

Trước ông Tạ Trọng Hiệp là Giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Nay các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp và Lê Hữu Mục đều đã lần lượt qua đời. Tôi chưa nghe nói ở Pháp, về ngành Hán-Nôm, có ai nối tiếp.

Ông Lê Hữu Mục nghiên cứu văn học chữ Nôm nhưng ông không mấy quan tâm tới những tài liệu cổ của các nhà văn, học giả Nam Kỳ vì ông cho không có giá trị văn chương đúng mức. Trong lúc đó ông Nguyễn văn Sâm để tâm lục tìm những bản văn chữ Nôm của tác giả Nam kỳ để phiên dịch và chú giải. Trước khối tài liệu đồ sộ còn giữ trong thư viện ở Paris, ông lo ngại không biết thời gian cho phép ông hoàn tất được tới đâu!
 

Nay, công trình biên soạn chữ Nôm xứ Nam kỳ của ông đã khá đồ sộ. Đáng khâm phục. Tên tuổi của ông nổi bật trong giới Văn học chữ Nôm là điều không ai có thể lấy làm lạ được. Những tác phẩm về chữ Nôm của ông đã in có nhiều thể loại: truyện, thơ, tuồng hát... (coi “Tuyển tập Nguyễn văn Sâm”). Những thứ này, tôi nghĩ, nếu không có Giáo sư Nguyễn văn Sâm làm, chắc tất cả cũng sẽ còn nằm yên trong các “tàng kinh các” không biết tới chừng nào? Vì không có giá trị văn chương để cho các học giả Hán Nôm để ý tới?
 

Tháng 10/2019, Giáo sư Nguyễn văn Sâm có giới thiệu nhơn buổi nói chuyện với “anh em văn nghệ sĩ tự do” ở Paris “Nữ tắc của Trương Vĩnh Ký, Phiên âm và chú giải”, 56 trang (sách biếu). Về Mỹ, năm sau, ông cho in cuốn “Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ” do ông phiên âm và chú giải như những quyển khác ông đã làm.
 

Đây là một ấn bản hiếm còn giữ được ở một gia đình tư nhơn miền đồng bằng sông Cửu Long nên ở lời cuối sách, ông đã không quên tỏ lòng biết ơn người giữ sách đã có nhã ý trao lại ông quyển sách hiếm:

Nhân đây tôi xin gởi lời cám ơn tới người đã trao đổi với tôi bản tuồng nầy mà tôi sẽ nói tên khi được chấp thuận. Những sự trao đổi tư liệu văn học nào cũng có mặt tích cực của nó. Ở xa đất nước, nếu không nhờ sự trao đổi tôi sẽ khó lòng có được những bản tuồng quí, và hôm nay quí vị đã không có quyển sách lạ đang cầm trên tay: Quyển Tuồng Kiều Nam Bộ hay tuồng Kim Vân Kiều ở Đồng Bằng Cửu Long, hay tuồng Kiều ở Miền Nam”. (Tôi muốn gọi nhiều cách để nhấn mạnh trên tính cách Miền Nam của bản tuồng).
 

Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhiều người phiên âm, phóng tác, viết lại theo các thể loại khác nhau như Phú, Ca, Tuồng hát,… vì nó là một tuyệt tác (UNESCO chọn) và viết bằng chữ Nôm. Trong số tác giả đó có khá nhiều là người xứ Nam kỳ. Họ cũng viết lại truyện Kiều, với văn bác học của nguyên tác theo ngôn ngữ Nam kỳ, theo sở thích và sanh hoạt Nam kỳ, để họ thưởng thức, đánh giá cái hay của Truyện Kiều, theo họ!

Từ Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Nôm tới nay chưa có một tác phẩm nào bằng quốc ngữ mà hay bằng hoặc hay hơn. Vì người ta đã bỏ quên chữ Nôm mà dùng chữ quốc ngữ với mẫu tự La-Tinh? Nó thiếu cái hồn dân tộc?

Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!

Giáo sư Nguyễn văn Sâm là người trong số rất hiếm quí làm công việc không còn mấy người làm này. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay tre đã già đang chờ măng mọc!
  

Ở Hà Nội có Viện Hán-Nôm, có học giả Hán-Nôm nhưng tại sao học giả Đào Duy Anh lại than trong thư viện của Viện Khoa Học Xã Hội nay còn giữ những 1148 quyển chữ Nôm chưa được khai thác vì thiếu người chuyên môn? Theo Giáo sư Lê Hữu Mục thuật lại chuyện được ông sử gia Trần văn Giàu tới nhà thăm và nài nỉ ông ở lại giảng dạy và nghiên cứu Hán-Nôm vì các nhà Hán-Nôm học của ta, theo ông Trần văn Giàu, có được mặt này thì lại mất mặt kia.

Mùa thu năm rồi, Giáo sư Nguyễn văn Sâm, trong thư thăm hỏi nhau thường lệ, báo tin ông sẽ cho ra mắt một quyển truyện Kiều mới chữ Nôm, phiên âm và chú giải, vào cuối năm. Ông ngỏ ý muốn tôi viết vài hàng về tác phẩm này của ông. Tôi vội thưa với ông là nếu viết thì tôi viết kiểu tay ngang. Ông đồng ý: “Viết kiểu nào cũng được!”

Vì ông biết tôi đúng là tay ngang nếu cầm viết.
 

Tôi hứa với ông. Vì thật lòng cảm kích tình cảm của ông dành cho tôi và nhứt là kính trọng ông ở tuổi này mà vẫn say mê làm công việc gìn giữ chữ Nôm, tức giữ Hồn Nước! Ông đã không quan tâm tới tôi sẽ viết hay dở thế nào. Miễn có chút vết tích của bạn mà thôi!

Vậy quí vị bất chợt có đọc bài viết này, xin hiểu cho tại sao nó có ở đây mà niệm tình lượng giải cho.

Trân trọng,

Paris, mùa đông 2020

Nguyễn văn Trần

 

*

 
Nghĩa là, theo ghi nhận của TS Nguyễn Văn Trần, người duy nhất có nhiều công trình giá trị về chữ Nôm hiện nay là GS Nguyễn Văn Sâm tại Hoa Kỳ, trong khi toàn bộ nhân sự trong Viện Hán Nôm tại Hà Nội lại không chịu làm việc tích cực mà chẳng ai hiểu chính xác vì sao (theo nhận định của học giả Đào Duy Anh và sử gia Trần Văn Giàu). Nơi đây, chúng ta nói các học giả Hà Nội “không chịu làm việc tích cực mà chẳng ai hiểu chính xác vì sao” là để tránh phải suy đoán, và cũng để bày tỏ lòng tôn trọng những người tài năng về chữ Nôm ở Hà Nội nhưng không có cơ hội thuận lợi hay không được trọng dụng để làm việc.

Bây giờ, chúng ta có thể nghe trực tiếp từ Giáo sư Nguyễn Văn Sâm nói sơ lược về Tuổng Kim Vân Kiều Nam Bộ: Giáo sư Nguyễn Văn Sâm và phu nhân hôm 11/10/2021 đã tới thăm nhà báo Phan Tấn Hải, ký tặng tác phẩm mới ấn hành, nhan đề "Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, toàn bộ ba hồi với bản Nôm."

Video sau đây dài 2:36 phút, thu hình tại tư gia của nhà báo Phan Tấn Hải tại Westminster, California, ghi lời Giáo sư Nguyễn Văn Sâm nói về tác phẩm Kim Vân Kiều Nam Bộ.

https://youtu.be/fzlQOZic-3o


Dự kiến sẽ có buổi Phát Hành Đầu Tiên và Trà Đàm ở

Viện Việt Học
15355 Brookhurst St., Suite 222,
Westminster, CA 92683, USA
Tel: 714-775-2050


vào ngày 23/10/2021 từ 10 giờ sáng tới 1 giờ trưa.

Để ký sách và trao đổi văn chương giữa các độc giả.
Kính mời quý độc giả đang cư ngụ ở Nam California tham dự.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Cử tri gốc Việt tại thành phố Fort Worth (Texas) có thể sẽ quyết định thắng bại cho một ghế dân biểu liên bang sẽ bầu cử vào Thứ Bảy 1/5/2021: địa hạt TX-06 sẽ bầu cử đặc biệt để chọn Dân Biểu thay cho DB Ron Wright từ trần hồi tháng 2/2021.
Trong khi tình hình đại dịch tại Hoa Kỳ đang ngày càng tiến triển tốt hơn với nhiều hạn chế được gỡ bỏ từ từ và khoảng một phần ba dân số Mỹ đã được chích ngừa đầy đủ, Ấn Độ đã rơi vào tình trạng khủng hoảng chưa từng có của đại dịch, với số người chết tăng cao hơn 200,000 và các bệnh viện chật người, các lò thiêu hết chỗ, thậm chí người chết ngoài đường.
Bộ Nội An (DHS) đang muốn tìm hiểu những bình luận từ công chúng về những phương cách giúp cho Sở di trú USCIS có thể giảm bớt các rào cản ngăn chận công dân Hoa Kỳ và người ngọai quốc tiếp cận với tất cả các dịch vụ và lợi ích di trú hiện có. Bộ Nội An muốn công chúng đóng góp ý kiến về những khó khăn mà mọi người đang gặp phải với việc điều chỉnh tình trạng cư trú (xin thẻ xanh), nhập tịch, diện phi di dân xin việc làm H-1B, tình trạng tị nạn, xin lánh cư (asylum) và bất kỳ vấn đề nào khác hiện gây rắc rối cho di dân.
Hôm Thứ Năm, 29 tháng 4 năm 2021, Thượng Viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật 35 tỉ đôla để thúc đẩy xây dựng hạ tầng cơ sở nước của các tiểu bang với tỉ số phiếu lưỡng đảng 89-2, theo bản tin của NBC News tường thuật hôm Thứ Năm cho biết.
Các cơ quan liên bang Hoa Kỳ đang điều tra về ít nhất 2 trường hợp trên đất liền Hoa Kỳ, gồm một trường hợp gần Tòa Bạch Ốc trong tháng 11 năm ngoái, có vẻ cùng các vụ tấn công bí mật không thể thấy mà đã dẫn tới các triệu chứng suy nhược đối với hàng chục viên chức Hoa Kỳ ở ngoại quốc, theo bản tin của CNN tường thuật hôm Thứ Năm, 29 tháng 4 năm 2021.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam có phần không khả quan trong những ngày qua mà cụ thể nhất và mới nhất là một thôn gồm 320 gia đình tại tỉnh Hà Nam đã bị phong tỏa vì có 4 người bị lây nhiễm vi khuẩn corona, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm 29 tháng 4 năm 2021.
Để giúp cho các gia đình không đủ điều kiện tài chánh lo tang lễ cho thân nhân đã quá vãng vì bị lây nhiễm Covid-19, Cơ Quan Điều Hành Khẩn Cấp Liên Bang Hoa Kỳ gọi tắt là FEMA đã có chương trình hỗ trợ tang lễ Covid-19, theo trang mạng bằng tiếng Việt của FEMA https://www.fema.gov/vi/disasters/coronavirus/economic/funeral-assistance cho biết.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Báo Ignatian Solidarity Network hôm 28/4/2021 loan tin rằng mạng lưới Catholic Mobilizing Network (CMN) trình thỉnh nguyện thư mang chữ ký nhiều ngàn viên chức, trí thức, nhà hoạt động Công Giáo xin xóa bỏ án tử hình liên bang. CMN nhắc rằng Biden đã công khai chỉ trích án tử hình, bây giờ là lúc cần gỡ bỏ án tử hình vĩnh viễn.
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Dân Biểu Janet Nguyễn nói thêm: “Cách đây 46 năm, gia đình tôi đã quyết định bỏ lại tất cả và vượt biển để tìm tự do. Hôm nay, là một Dân Cử người Mỹ gốc Việt cấp cao nhất của Tiểu Bang California, Hoa Kỳ, tôi tự hào đại diện cho những câu chuyện, văn hóa và lịch sử của cộng đồng tôi.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.