Hôm nay,  

Giới Thiệu "Vũ Điệu Không Vần"

23/12/202120:38:00(Xem: 6645)
blank

GIỚI THIỆU "VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN"

  

Thơ xuất phát từ cảm xúc, là một hình thái của sáng tạo, và sáng tạo bao gồm hai yếu tố: kiến thức và tưởng tượng. Nếu không có kiến thức thì tưởng tưởng không thể nào đi xa, để tạo nên cái mới, cái đẹp. Nhưng kiến thức, theo triết gia hiện đại Đức, Immanuel Kant, là sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tại. Chẳng thế mà triết gia thởi cổ Hy Lạp, Socrates, từng giả bộ ngu dốt, tìm cách đàm thoại với mọi người chung quanh để hoàn chỉnh sự hiểu biết của mình.

 

Thơ thuộc về đời sống, và nhà thơ phải trầm luân trong khổ đau, nhận biết cái lẽ vô thường và vô ngã trong kiếp nhân sinh. Sau đó là sự tiếp thu vốn kiến thức từ mọi nguồn, sách vở và thực tại, mới có thể trở thành nhà thơ đích thực. Thời nào cũng vậy, có thể có nhiều người làm thơ, nhưng nhà thơ thì hiếm.

 

Cuốn “Vũ Điệu Không Vần” gồm 35 tiểu luận, với 632 trang, cung cấp thông tin chi tiết về ngôn ngữ, luật tắc trong sáng tác, ghi nhận những chặng đường tìm kiếm trong sáng tạo. Đặc biệt là kiến thức, hiểu biết toàn bộ về thơ, và cả những chủ đề liên quan tới thơ như Hiệu ứng cácn bướm, Nghiên cứu về não bộ, Giáo dục cổ điển phương Tây, giúp cho những nhà thơ và phê bình nghiên cứu tham khảo, trong công việc của họ. Đây cũng là tên của thể thơ không vần Việt, thường được gọi là thơ Tân hình thức.

 

Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, nên thơ thể luật, dù có vần hay không vần ở cuối dòng, vẫn có thể dùng kỹ thuật vắt dòng (enbjament) vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho liền lạc với nhau, còn thơ tiếng Việt, vì là ngôn ngữ đơn âm, nên không thể làm chuyện đó. Vì vậy, chúng tôi đưa vào thơ Việt một thể thơ mới. Đó là thể thơ không vần, kết hợp giữa thơ vần tự do, với ý tưởng liền lạc. Đây là yếu tố khó nhất trong thơ Mỹ, và dĩ nhiên cả thơ Việt. Thể thơ không vần Việt bao gồm; dùng lại những thể thơ Việt 5, 7, 8 chữ và lục bát, với kỹ thuật lập lại để tạo nhịp điệu và vắt dòng, tất cả kết hợp thành một bộ máy kiềm chế, cô đọng câu chữ, và biến nhịp điệu nói thành nhịp điệu thơ. Hai yếu tố căn bản của thơ Tân hình thức Việt: Ý tưởngnhịp địệu. Ý tưởng phải mới mẻ, còn nhịp điệu mỗi bài thơ phải có một nhịp điệu khác nhau. Cả hai phải theo đúng tinh thần sáng tạo.

 

Khi dùng cách vắt dòng (enjambment) phá đi cách đọc dừng lại ở cuối dòng, người đọc bị thúc đẩy đi tìm lại phần đã mất (của câu), tốc độ đọc nhanh hơn, và phải đọc bằng mắt. Điều này gợi tới ý niệm thời giankhông gian trong thơ. Cái phần mất đi ấy là phần gì, phải chăng là một phần đời sống, của quá khứ hay tương lai, và như thế, hiện tại không lẽ chỉ là cái trống không? Nhưng cái trống không ấy lại chẳng trống không vì những chuyển động không ngừng của cái biết chưa biết, đè lấp lên nhau. Thơ bật lên từ sự vặn vẹo và phức tạp của văn phạm và cú pháp (syntax), tạo thành nhịp điệu và nhạc tính. Điều rõ ràng, bài thơ và tri giác về nhịp điệu (perception of rhythm) không nằm ở ngôn ngữ (chữ), mà ở nội dung ngôn ngữ (the content of the language). Nội dung ngôn ngữ chính là những chuyển động cảm xúc trong phạm trù văn phạm và cú pháp.

 

Mục đích của thơ Tân Hình Thức là muốn đưa thơ Việt bước ra ngoài thế giới, nên mới chú tâm vào dịch thuật, để tìm kiếm người đọc khác ngôn ngữ và văn hoá. Nếu quá đậm đặc trong phạm trù văn hóa hay ngôn ngữ Việt sẽ không thể dịch vì làm sao dịch âm thanh (sound) ngôn ngữ, đặc biệt đối với những thể thơ truyền thống, khi kết hợp những đơn vị âm thanh đó, tạo nên nhạc tính trong thơ. Để đáp ứng điều kiện dịch thuật, thơ Tân hình thức phải thay đổi cách sáng tác. Về chữ, khi chuyển sang ngôn ngữ đời thường để sáng tác, thơ không còn những chữ hiếm, chữ lạ, và người đọc không bị vướng vào chữ khi đọc.

 

Với phong cách, thơ gần với văn xuôi và sử dụng kỹ thuật lập lại để tạo nhịp điệu, nên khi chuyển dịch vẫn giữ được nhịp điệu và làm biến mất dấu vết của văn xuôi, thành thơ. Kỹ thuật lập lại giúp cho thơ Việt có thêm một yếu tố nhịp điệu mới và khi dịch sang tiếng Anh vẫn không mất đi. Người đọc Mỹ sẽ đọc như một bài thơ chứ không phải một bản dịch. Một ưu điểm nữa là những người đọc Mỹ sẽ được đọc những bài thơ khác lạ, am hiểu thêm về đất nước và con người từ một nền văn hóa khác.

 

Thế kỷ 20, phương Tây phát triển mọi mặt, về khoa học, triết học cũng như văn học, và là thế kỷ vượt trội của thơ tự do, đặc biệt là thơ Mỹ, một dòng thơ mạnh về ý tưởng. Thơ hiện đại Pháp và Mỹ kéo dài đến năm 1930, từ tập niên 1950 tới 1980 là thơ hậu hiện đại Mỹ, với những phong trào tiền phong, vừa phức tạp vừa khó hiểu. Cuối thập niên 1980, thơ tự do cáo chung, thơ Mỹ quay trở lại thể luật, với ngôn ngữ đời thường.

 

Theo G. K. Chesteron, nhà thơ, triết gia, kịch tác gia người Anh, “cách mạng là phục hồi (restoration), đoạt lại (recapturing), giới thiệu lại một điều gì đó đã từng được hướng dẫn và truyền cảm hứng từ trong quá khứ.” Hay nói khác, “là cuộn lại (re-roll), quay trở lại (return), đi vòng quanh một lần nữa.” Nhà nghiên cứu văn học, PGS. TS Trần Hoài Anh giải thích thêm, “Sáng tạo nào cũng không chấp nhận sự đứng lại, sự đóng băng, sự trì trệ, bảo thủ khi mãi giam mình trong một “thành trì’ tưởng chừng vững chắc, nhưng đó là sự vững chắc nhằm che chắn những giới hạn và thất bại của mình.”

 

Tiếng Anh là một ngôn ngữ khó, về cả ngôn ngữ và văn phạm.Về ngôn ngữ, tiếng Anh có khả năng tiếp nhận mọi ngôn ngữ trên thế giới, vì vậy số từ ngữ vô cùng phong phú. Tiếng Anh có hơn một triệu từ, khoảng 170 ngàn từ được dùng, và mỗi cá nhân thông thường dùng khoảng 20 đến 30 ngàn từ. Nếu so sánh với những ngôn ngữ khác, như tiếng Pháp chẳng hạn, tối đa cũng chỉ khoảng 130 ngàn từ. Về văn phạm, tiếng Anh không đơn giản chỉ có động từ hiện tại, quá khứ và tương lai, mà còn có nhiều loại quá khứ và tương lai, mỗi thì quá khứ hay tương lại chuyên chở những ý tưởng khác nhau. Vì thế, tiếng Anh là một ngôn ngữ linh động, và là một ngôn ngữ thơ.

 

Những nhà xuất bản sách báo, ngay cả những xí nghiệp lớn, cũng cần một ngưởi editor (chủ biên) để điều chỉnh cho đúng ý tưởng trong sách báo hay những báo cáo. Nhưng editor về ý tưởng, bao gồm cả những giáo sư dạy văn chương tại các trường đại học, chỉ quan tâm tới ý tưởng cho chính xác, chứ ít quan tâm tới văn phạm. Ngay những nhà văn, họ viết theo cách nói, mà cách nói thì dễ sai văn phạm.

 

Báo Giấy có hai editor Mỹ chuyên nghiệp, Dr. Carol Compton và Richard Sindt,  cung cấp cho bạn đọc thông tin và kiến thức cập nhật về thơ và những hiểu biết về ngôn ngữ.

 

Báo Giấy: Trước kia, ra mỗi tháng một số, bây giờ thì 2 tháng. Mới nhất là số 57. Ngoài những sáng tác về thơ Tân hình thức Việt, còn có tiểu luận dịch từ tiếng Mỹ qua tiếng Việt, do tác giả người Mỹ gửi tới, hoặc chúng tôi mua từ những websibe chuyên bán các loại tiểu luận và sách Ebook, đủ các loại từ triết học tới văn học, khoa học ...

 

– Báo song ngữ Anh Việt (Journal Poetry), cứ cách 2 số báo tiếng Việt thì lại ra 1 số báo song ngữ. Mới nhất là số 10. Báo song ngữ, qua dịch thuật, bạn đọc có thể đọc và so sánh hai ngôn ngữ để hiểu ý nghĩa những bài thơ và tiểu luận, vì những từ ngữ dùng khó tìm thấy nghĩa trong tự điển.

 

blank

 

KHẾ IÊM

Tên thật Lê Văn Đức sinh năm 1946 tại Lê Xá, Vụ Bản, Nam Định. Chủ trương Tạp Chí Thơ tại Hoa Kỳ và phong trào thơ Tân hình thức Việt. Chủ biên Blank Verse (Thơ Không Vần, 2006) và Thơ Kể (Poetry Narrates (2010), cả hai là thơ Tân Tân hình thức Việt, ấn bản song ngữ. Tác Phẩm: Hột Huyết (kịch, Sàigòn 1972), Thanh Xuân (Tạp chí Văn, 1992), Dấu Quê (Traces of My Homeland, ấn bản song ngữ. Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2013), Thơ Khác (Other Poetry, ấn bản song ngữ, Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2011). Stepping Out, Essays on Vietnamese Poetry (Bước Ra, ấn bản song ngữ, Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2012).

 

Ông tham gia hội nghị hàng năm lần thứ 56 (2004) của Hiệp hội Nghiên cứu Á châu (Association Asian Studies) về thơ các quốc gia vùng Đông Nam Á, gồm Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt Nam, với chủ đề, “Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia” (Thơ, cửa sổ qua lịch sử và biến đổi tại Đông Nam Á).

 

Ông cũng tham gia buổi đọc thơ song ngữ Anh Việt tại Irvine, Orange County, California ngày 20 tháng 11, 2016, trong chương trình Đọc Thơ (Poetry Reading) khắp 58 quận thuộc tiểu bang California, do nhà thơ danh dự tiểu bang Dana Gioia tổ chức, cùng với nhà nghiên cứu âm nhạc trẻ Tina Hùynh.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các cơ sở bị khó khăn và các nhà điều dưỡng giống nhau là đã và đang chật vật, với khối công nhân áp đảo cố gắng xác nhận, cách ly và điều trị các bệnh nhân mắc bệnh đè nặng lên thêm công việc đòi hỏi đã có của họ. Trong khi đó, các biện pháp nhằm bảo vệ cư dân khỏi bị lây lan bệnh đã khiến cho họ dễ bị tổn thương hơn và đóng cửa từ công chúng.
Vinh danh cộng đồng A100 và AAPI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì biểu cảm chống người Á châu đã dâng trào sau đại dịch COVID-19. Dừng AAPI Hate, một dự án theo dõi các sự cố thù ghét đối với người Mỹ gốc Á, đã nhận được hơn 1.135 báo cáo chỉ trong hai tuần. Crisis Text Line (Văn Bản Khủng Hoảng) báo cáo rằng AAPIs, đại diện cho khoảng 6% dân số Hoa Kỳ, chiếm 16% trong tất cả các văn bản khủng hoảng liên quan đến coronavirus. Đây chỉ là một vài trong số những con số được báo cáo mà cộng đồng AAPI đã phải đối mặt trong những tuần gần đây - một cộng đồng liên tục chịu sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của bất kỳ nhóm chủng tộc nào, và ít có khả năng được thăng chức lên quản lý, tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe tâm thần hoặc được tính trong cuộc Tổng Kiểm Tra Dân Số.
Hàng triệu người Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp vào tuần trước, cho thấy việc sa thải đang lan sang nhiều ngành nghề ban đầu không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc đóng cửa và gián đoạn kinh doanh liên quan đến vi khuẩn corona. Phúc trình đơn khai thất nghiệp hàng tuần của Bộ Lao Động Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 theo sau các tin hôm Thứ Tư nói rằng kinh tế trong quý đầu đã bị thiệt hại nặng nề kể từ thời kỳ Đại Suy Thoái.
Hôm Thứ Năm, 30 tháng 4, Tổng Thống Trump nói rằng ông đã thấy bằng chứng để chứng minh rằng đại dịch vi khuẩn corona truyền nhiễm từ một phỏng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nhưng ông đã không đưa ra chi tiết cái gì là bằng chứng. “Tôi không được phép nói với bạn điều đó,” theo ông cho biết tại cuộc họp báo ở Bạch Ốc nơi mà ông đã nhiều lần cáo buộc chính quyền TQ về việc làm ngơ trong trách nhiệm của họ đối với vi khuẩn, trong khi bỏ ngỏ khả năng nó lây lan một cách cố ý.
Newsom nói rằng các bãi biển tại miền nam California, gồm các bãi biển tại Quận Cam, Los Angeles và San Diego, đã reo chuông báo động, gồm các hình ảnh người tụ tập ở đó và không tuân theo các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội. Ông cho biết tiểu bang muốn làm việc sát cánh với các viên chức địa phương, và nếu họ có thể đưa ra các hướng dẫn tốt hơn, thì các bãi biển có thể “tái mở cửa rất rất nhanh.”
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Hơn một chục người biểu tình, một số trong đó có vũ khí, đã tụ tập hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 bên trong tòa nhà Quốc Hội của Michigan để lên tiếng phản đối lệnh cho người dân phải ở trong nhà của Thống Đốc Gretchen Whitmer, với căng thẳng lên cao khi các nhà lập pháp sẵn sàng tranh luận về sự gia hạn của tuyên bố này.
nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.