Hôm nay,  

Một vài cảm nhận về Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh của Nguyên Giác Phan Tấn Hải

10/01/202212:21:00(Xem: 6314)
blank
 

Một vài cảm nhận về Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh

của Nguyên Giác Phan Tấn Hải

  

Đỗ Hồng Ngọc

  

Nguyên Giác Phan Tấn Hải sinh năm 1952 tại Saigon, là một nhà báo, nhà văn quen biết trên văn đàn từ hơn 30 năm nay đang sống và làm việc tại Mỹ, nhưng đặc biệt Nguyên Giác viết nhiều về Phật học, bởi đã theo học tại chùa Tây Tạng Bình Dương trong suốt 3 năm với bổn sư là Hòa thượng Thích Tịch Chiếu (1912-2016). Nguyên Giác đã xuất bản trên 10 cuốn sách về Phật học như Chú giải về Thiền Đốn Ngộ (2001); Thiền tập (2005); Thiền tông qua bờ kia (2017) Kinh Nhật Tụng sơ thời, Kinh Pháp cú Tây Tạng… và mới nhất là cuốn Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh (Nxb Ananda Viet Foundatio, 2021).

Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh tổng hợp các bài viết về Thiền tập tâm đắc của Nguyên Giác, từ chương Bồ Đề Đạt Ma đến… Lắng nghe bờ bên kia, Hai phong cách Thiền Chánh Niệm, Chìa khóa vào Thiền… “có tính thực tiễn, thực dụng, giúp độc giả không chỉ nắm bắt căn bản về Phật pháp mà còn có thể thực hành ngay trong đời sống hằng ngày” (Tâm Diệu) với con đường hoàn toàn tự do, tự tại, không theo lối mòn  mà không sợ sai lệch yếu chỉ của Phật. Chùa Tây Tạng Bình dương do Hòa thượng Nhẫn Tế sáng lập vào năm 1928 với tên gọi ban đầu là Bửu Hương Tự, đến năm 1935, khi thiền sư vân du tu học ở Tây Tạng trở về thì được đổi tên thành Tây Tạng Tự tại tỉnh Bình Dương đến nay vẫn là một ngôi chùa danh tiếng về Thiền học ở nước ta.

Với tôi, một người học Phật “lõm bõm”, “thấp thoáng” thì những cuốn sách viết về Phật học của Nguyên Giác Phan Tấn Hải giúp tôi rất nhiều bởi cách nghiên cứu của ông là dựa trên kinh sách, trích dẫn từ Trường bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi bộ kinh v.v…, với những chọn lọc so sánh đối chiếu các nghiên cứu của các vị Thầy đáng tin cậy ở trong cũng như ngoài nước.
 

Không chỉ thế, đọc Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh ta biết thêm Nguyễn Du vốn là nhà sư Chí Hiên (Từ Nhà sư Chí Hiên tới Nhà thơ Nguyễn Du), rồi về Tuệ Trung Thượng Sỹ mà với “tâm không”, mỗi ngày đọc lại mỗi thấy cái mới (tr 119); rồi ta có thể mở rộng tầm nhìn với những bài dịch từ “Chìa khóa vào thiền” của Horada Roshi, “Hai phong cách Thiền Chánh niệm” của Bodhi, “Đại thủ ấn của Tipola”…  Cũng vậy, giữa mùa Covid không thể không học “Hộ trì sáu phương”, “Đối trị dịch bệnh”…
 

Bất ngờ là những bài thơ ở cuối sách “Thêm một ngày, học vô cùng” “ Lắng Nghe Hơi Thở” “Hoa Bay khắp trời”…

Thật là một cuốn sách về Phật học thú vị, vừa khoa học, vừa văn chương với lối viết trong sáng, chú giải cẩn thận, tham khảo đầy đủ của một Cư sĩ vừa là nhà báo, nhà văn và một thiền giả…
 

Có những trường hợp cùng một câu kinh Pali mà các vị đại sư sử dụng những từ ngữ khác nhau thì Nguyên Giác đã trích dẫn, so sánh, đối chiếu và chú giải rất kỹ, đưa ra ý kiến riêng của mình để giúp làm sáng tỏ, như bản dịch một bài kệ của Bhante Vadaro, Thanissaro Bhikkhu, Khantipalo… Điều này rất quý cho người đọc, giúp mở rộng cách thấy và cách biết, khi ứng dụng vào thực hành, tự thể nghiệm theo nguyên tắc “… không nắm giữ một giáo thuyết nào…”. (tr 31) của tinh thần Thiền tông. Krishnamurti cũng từng nói: "Chân lý là mảnh đất không có đường vào"!
 

Ta hiểu được vì sao các Thiền sư trong khi dạy đạo, có lúc chẻ tượng Phật làm củi để sưởi ấm (tr 31) hay như Sư phụ Tịch Chiếu dạy đệ tử: “Không có pháp nào để tu hết” (Tu hành cái mốc gì!), nghĩa là phải buông bỏ tất cả, không bám chấp một pháp nào!
 

Tác giả luôn giữ một thái độ trung lập và khiêm tốn, bởi vì Phật pháp mênh mông, học lấy một nhúm lá trong tay Phật ở rừng Samsapa đã là không thể, còn nói gì đến cả một khu rừng mênh mông phía sau kia.
 

Nguyên Giác thường mở đầu các bài viết với sự cẩn trọng: “ Bài viết này sẽ khảo sát Vô Tướng Tam Muội, một pháp môn ít được chú ý hiện nay... Bài viết phần lớn sẽ dựa vào kinh luận vì bản thân người viết không có thẩm quyền nào”(tr 51).
 

“Bài này phân tích một số khái niệm nhà Phật về Niết Bàn, nhưng không đi sâu vào tranh luận bộ phái¸ chỉ để tìm các phương tiện khả dụng thích nghi cho Thiền tập. Người viết không có thẩm quyền nào; sai sót nếu có xin được sám hối cùng Tam Bảo” (tr 75).
 

Không đi sâu vào lý thuyết, không tranh luận bộ phái, tác giả chỉ muốn giúp người đọc những gì thực tiễn, thực hành trong Thiền tập, “con đường không có con đường” tự tu, tự chứng, giữa một thời đại tràn ngập thông tin trên không gian mạng.
 

Kinh Lăng Nghiêm viết: Thanh tịnh bổn nhiên/ Tùy chúng sanh tâm/ Chu biến pháp giới/ Tòng nghiệp phát hiện! Chiếc lá mùa thu rơi trên mặt hồ là nỗi ai hoài của chàng thi sĩ, nhưng là nỗi mừng vui của con kiến đang trôi lạc giữa dòng... Tôi có lần trích mấy câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ: Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh/ Ngoài hư không có dấu chim bay…? Ta có thể trả lời nhà thơ: Có chứ, chắc chắn ngoài hư không có dấu chim bay. Với kỹ thuật multimedia bây giờ, người ta có thể thu hình không khó. Có điều… dấu chim bay đó không để lại một vết gì trên mặt hồ tĩnh lặng. Cũng như bóng người đẹp đi qua gương, gương không buồn giữ một dấu vết! Còn hỏỉ kiến nơi nào cõi tịnh ư? Phải là kiến mới biết. Như con cá của Trang Tử: anh không phải là cá sao biết cá không vui?


 

Với tôi, chương Vô tướng tam muội (tr 51) có lẽ là một pháp… đáng nghiền ngẫm để thực hành nhất. Lục tổ Huệ Năng bảo pháp “đốn ngộ” của Ngài lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể và Vô trụ làm gốc. “Đốn” để ngộ thì có thể rất nhanh thôi nhưng Lục tổ cũng đã phải mất 15 năm để “Tiệm” tu mới thành tựu! 
 

Đúc Phật dạy giải thoát có nhiều cửa, không phải chỉ có một. Nhưng có một cửa… phổ biến phải nhớ trong Thiền tông là “không hề có một pháp nào để làm” bởi vì “không có một chỗ nào trong tâm để bấu víu” (tr 51).

Kinh Trường A Hàm nói có nhiều pháp… dẫn tới Niết Bàn (bản dịch của Tuệ Sỹ)

Thế nào là một pháp dẫn tới Niết bàn? Thường tinh cần tu niệm xứ về thân.

Thế nào là hai pháp dẫn tới Niết Bàn? Chỉ và Quán.

Thế nào là ba pháp dẫn tới Niết Bàn? Là Không, Vô tướng, Vô nguyện (Vô tác).

v.v…
 

Cứ tùy căn cơ mà chọn! Với tôi, một thầy thuốc, thì Thường tinh cần tu niệm xứ về thân là… tốt nhất. Không có thân (sắc) thì thọ, tưởng, hành, thức biết dính vào đâu để mà sinh sự cho sự sinh? “Vô thân hữu hà hoạn?” Lão Tử cũng nói vậy. Trong đồ hình Mạn Đà La thì… thân (sắc) nằm ở trung tâm, Đại Nhựt Như Lai (Vajrocana).
 

Con đường Thiền có lẽ là con đường… ngắn nhất, chỉ thẳng vào… “thân” đó thôi (Thường tinh cần tu niệm xứ về thân), từ đó mà thấy “Tâm bất sinh”.

Viết về Phật pháp, về Thiền tông, nhưng Nguyên Giác không viết một chiều, luôn đặt ra những câu hỏi của một… nhà báo. Thí dụ bài về Bồ Đề Đạt Ma, ông gọi là “một khuôn mặt ẩn nhiều huyền thoại”, và mời gọi độc giả đặt nghi vấn. Đó là một thái độ khoa học cần thiết, nhờ đó, tránh đi những màu sắc mê tín. Tổ thứ 27 có phải là một Ni sư? Lúc viên tịch Ni sư bay lên trời, hóa thành lửa thiêu rụi, mưa xá lợi rơi xuống cho đệ tử. Tổ 28 Bồ Đề Đạt Ma 9 năm diện bích là sao? Sống đến 150 tuổi. Lúc viên tịch thì trở về Ấn Độ, chỉ mang theo một chiếc dép…

blank

Những huyền thoại đó thú vị quá chớ. Nhưng cốt lõi của câu chuyện này lại nằm ở chỗ cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa Lương Vũ Đế và Bồ Đề Đạt Ma:

Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?

Rỗng rang không thánh.

Đối diện với Trẫm là ai?

Không biết.

  

Chỉ chừng ấy là đủ! Không thánh không đế gì cả! Chỉ Rỗng Rang. Rỗng Rang là Không (sunyata, emtiness).

Còn trả lời “Không biết” là vì đã Vô ngã, Vô tướng còn biết sao được?

  

Hễ nhìn thấy nội xứ và ngoại xứ rỗng rang không tánh thì là giải thoát. Đức Phật dạy: “Hỡi Mogharaja, hãy luôn tỉnh thức và nhìn thế giới này như rỗng rang, với cái nhìn về tự ngã đã bứng gốc, người đó sẽ vượt qua sự chết. Thần Chết không thể thấy người đã nhìn thấy thế giới này như thế” (tr 19).
 

“Không biết” theo tôi là cái biết trước khi có “sự can thiệp” (chen vào) của ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, nghĩa là cái biết khi chưa bị méo mó. Tôi vẫn nghĩ Bát Nhã Prajna gồm Pra + Jna: Pra là trước. Jna là biết. Prajna (Bát Nhã) là một cái biết hồn nhiên, trong sáng, trước khi bị lệch lạc. Vì… “tri kiến lập tri tức vô minh bổn!”, khi đã có ‘Thành kiến” chen vào rồi thì không có cách chi thay đổi được nữa!  Vì thế mà pháp giới ta đang sống cứ luôn quần quật, loanh quanh, đấu đá, chém giết, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… không ngớt, tưởng là Trời “hành” mà thiệt ra do tư tưởng, do hành vi lối sống của con người.
 

Có cách nào để nhận ra tánh Không trong các pháp? Đức Phật dạy rằng, nhận ra Pháp Duyên Khởi chính là tương ưng với Không. Và hãy tùy thuận duyên khởi: Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi (tr 55).
 

Thiền là con đường tiếp cận gần gũi và trực tiếp nhất. Giác ngộ chỉ là một phát kiến đột khởi trong cõi tâm vô niệm, vô tâm, một thứ “đốn”. Nhưng ngộ rồi thì phải Tu, phải Chứng. Bởi có Chánh trí (Thánh trí) Bát Nhã rồi thì mới mong “thấy biết’ như thật, thấy cái đang là, biết cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe, nghĩa là đã “thấy Tánh”. Thành Phật hay chưa thì chưa biết nhưng đã thoát được cái “tự tánh” giả do biến kế sở chấpy tha khởi để đi đến viên thành thật, là cái thấy của Bát Nhã, từ đó mà có thể “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không”.
 

Thiền không phải là tréo chân, nín thở, bù đầu với công án mà thiền là toàn bộ Thân Khẩu Ý, là mọi hoạt động đi đứng nằm ngồi trong đời sống bình thường nhưng tâm  rỗng rang, vô niệm, như Phật hoàng Trần Nhân Tông bảo: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền…
 

Kinh EA (bản dịch Tuệ Sỹ, Đức Thắng):

Hết thảy các hành đều rỗng lặng, cái sanh và cái diệt đều như huyễn hóa, không chơn thật. Cho nên Tỳ kheo hãy ở trong hơi thở ra vào, tư duy về tưởng chết để thoát khỏi sanh già bệnh chết, buồn rầu, khổ não. (tr 57).
 

Lục tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh cũng dạy: Các cõi Phật đều đồng như hư không, diệu tánh con người vốn Không, chẳng có một pháp nào có thể đắc, tự tánh chơn không cũng như thế. Dứt niệm lự phân biệt. Tâm vắng lặng mà thường chiếu, chiếu mà thường lặng (tr 59).
 

***
 

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm.

(Kinh Lăng Già)

 

(ĐHN, Saigon 10 Jan, 2022)



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay đã 46 năm, Biển Đông dậy sóng, bao ngư dân ra khơi bị tàu Trung Cộng cướp giết và đế quốc kia lại muốn chiếm thêm quần đảo Trường Sa và toàn bộ Biển Đông.
chúng ta cũng đã từng dùng thuốc thiên nhiên rồi. Đó là thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Ta hay còn gọi là thuốc “Vườn”... Sau 75, danh từ thuốc Dân tộc đã được dùng để chỉ những loại thuốc được sản xuất và bào chế từ cây cỏ ở Việt Nam
ra mắt vào ngày 8 tháng 3 năm 2020 tại Viện Việt Học Nam Cali. Lạ là vì đây là một tác phẩm mang hồn Việt đến từ Pháp Quốc! Tác phẩm mang tên cũng đặc biệt, gây tính tò mò cho độc giả: "Một lối đi riêng vào cõi thơ"!
Vào những ngày đầu Xuân các hội đoàn, cộng đồng thường tổ chức những buổi tiệc tùng, hợp nhóm, hợp bạn…để đón Xuân và cũng để hoài niệm, nhớ thương về quê hương, đồng bào thân yêu còn bên kia chân trời xa thăm thẳm.
Một di sản văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam vừa được Viện Việt Học trình bày trước công chúng: ấn hành tác phẩm “Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh” (Hồi 1/3) vừa được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu
Phiên xử luận tội lần thứ 3 trong lịch sử Hoa Kỳ đã bắt đầu vào Thứ Năm, 16 tháng 1 năm 2020 giữa một loạt các cáo buộc mới về các thương lượng của TT Trump với Ukraine, mà nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa đã vội vã hạ thấp mức độ quan trọng khi họ bác bỏ các lời kêu gọi của những nhà lập pháp Dân Chủ đòi điều tra thêm.
Trong vòng một thập niên qua, số lượng – và chiều kích – của viện bảo tàng, phòng trưng bày, hội chợ nghệ thuật, và trường nghệ thuật trên khắp thế giới đã gia tăng dữ dội, và người ta cảm thấy an tâm để nói rằng nhiều nghệ thuật đã được sáng tạo trong vòng 10 năm qua hơn bất cứ thời gian nào khác trong lịch sử nhân loại.
Nghệ sĩ không phải chỉ là người sáng tạo nên tác phẩm. Nghệ sĩ còn là kẻ sáng tạo nên bản thân mình. Không ngừng. Họa sĩ Võ Đình khằng định như vậy trong cuốn Mây Chó. Về cuối đời ông viết nhiều hơn vẽ. Sau 10 năm sống ở Pháp sang Mỹ năm 1960 qua nhiều tiểu bang, nơi đâu ông cũng thích ngụ ở vùng thôn dã.
Lời tòa soạn: Từ Franz Kafka đến Milan Kundera, hai nhà văn kiệt xuất của thế kỷ XX. Cả hai đều có chung một nền tảng văn hóa, một khảo hướng và một chủ hướng văn học: làm mới văn chương và dùng tiểu thuyết để nói những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được. Cả hai đều để lại cho hậu thế những kiệt tác văn học, ảnh hưởng bao trùm gần như toàn thể nhân loại. Kafka sống vào đầu thế kỷ, Kundera vẫn còn tại thế dù năm nay, 2020, đã trên 90 tuổi. Việt Báo hân hạnh gửi đến độc giả Việt bốn phương ít dòng tiêu biểu của hai nhà văn lừng lẫy này qua phần chuyển ngữ và giới thiệu của dịch giả Trịnh Y Thư.
Nhà văn Dương Hùng Cường sinh ngày 1/10/1934 tại Hà Nội. Ông gia nhập Không quân và học về cơ khí tại Pháp năm 1953. Ông là hạ sĩ quan phục vụ ở nhiều đơn vị từ 1955, đến những năm 1960 mang cấp bậc Chuẩn úy, làm việc tại Phòng Tâm lý chiến, Bộ Tư lệnh Không quân VNCH.
Một đất nước mà chính quyền bao che cho quan chức từ cao xuống thấp cướp đất của dân để trở thành quốc nạn là điều bất hạnh cho dân tộc, và hiện tượng này đã không dừng ở đó mà còn đi xa hơn nữa để biến nó thành mối hận thù giữa dân oan và nhà nước như trường hợp xảy ra trong tuần qua tại xã Đồng Tâm.
Nhân dịp Xuân Canh Tý Chùa Phật Tổ có liên lạc được với building gần Chùa khoảng 2 Miles, Phật tử có thể đậu xe tại 1305 E . Pacific Coast Highway, Long Beach, CA 92806 lot # 1 Mỗi xe trả lệ phí $2.00 và sẽ có xe đưa đón đến chùa vào những ngày 25, 26 tháng 1 và 1, 2, 8, 9 tháng 2. Rất mong Quý Phật Tử hoan hỉ cảm thông cho sự bất tiện về đi lại và kính mời quí vị về Chùa đón Xuân Canh Tý 2020. LL (562) 599-5100.
Hàng ngàn năm trước, một người phụ nữ trẻ thời Đồ Đá Mới mà hiện nay nằm ở nước Đan Mạch đang nhai một miếng nhựa cây thông. Phân tích DNA của “miếng kẹo cao su đang nhai” của người thời Đồ Đá Mới hiện đã được công bố, trong chi tiết rất đáng lưu ý, người phụ nữ này trông giống gì, theo bài báo được đăng hôm 17 tháng 12 năm 2019 trong tạp chí Nature Communications được phổ biến trên trang mạng www.livescience.com
Mục di trú và bảo lãnh do Văn Phòng tham vấn di trú Robert Mullins International đảm trách hằng tuần, rất hữu ích cho quý vị nào quan tâm đến việc bảo lãnh thân nhân. Đề tài trên đây cũng được thảo luận trực tiếp trên www.Facebook.com/rmiodp vào mỗi tối thứ Tư , từ 7:00-8:00 giờ, hoặc sáng thứ Năm lúc 10:00 sáng, giờ Việt Nam.
Hôm nay nhằm ngày nghỉ, sáng vẫn thức sớm vì thói quen hằng ngày, cơ thể điều khiển chị giờ đó phải ngồi dậy, có muốn nướng thêm chút xíu cho chín đều cái lưng ngày xưa thon thon như cá lòng tong bây giờ bự bự như cá voi, cũng không xong.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.