Hôm nay,  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being

10/02/202200:18:00(Xem: 9070)

blank
  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being
.
Trịnh Y Thư
.

Có thể nói những bài thơ trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ (xuất bản cuối năm 2014) là những biến tấu liên miên bất tận của cái Being.
 
Being chứ không phải đời sống như chúng ta thường hiểu. Bạn có thể gọi nó là kiếp nhân sinh, kiếp người, đời sống, hữu thể, hiện tồn, hiện hữu, hiện sinh, hiện tính, thể tính, hoặc cả chục từ ngữ khác tương tự. Nhưng xin bạn cho phép tôi gọi nó bằng cái từ tiếng Anh Being. Giản dị, hàm súc, nhưng hết sức bao la, gợi mở. Dịch sang tiếng Việt, gọi nó là “đời sống” hoặc “kiếp người” thì không đủ nghĩa, còn các thuật ngữ Hán-Việt thì bị tô đậm bởi màu sắc Triết học nặng nề, khó hiểu. Kỳ thực, dưới luồng sáng của Triết học, Being được định nghĩa là, “Một hình thái ý thức chủ quan lẫn khách quan lý giải thực tại và sự hiện hữu.” Các triết gia Hy Lạp cổ đại nói nhiều về nó. Sang thời cận, hiện đại các triết gia như Hegel, Heidegger, Sartre, v.v… cũng tốn khá nhiều giấy mực về nó. Tuy nhiên, bởi không mấy mặn mà với Triết học nên tôi thích hiểu từ Being theo cái nhìn của thi ca, một suy nghiệm giao thoa giữa thực tại và huyễn mộng, bằng một thứ ngôn ngữ trong suốt chứ không dày đặc thuật ngữ vốn rất dễ đưa người ta sa vào chốn hỏa mù. Being dưới mắt nhìn của thi ca, có lẽ đơn giản hơn và dĩ nhiên “thơ” hơn. Vì nó, Shakespeare băn khoăn, “to be or not to be”; Nguyễn Du gọi nó là “cuộc bể dâu [với] những điều trông thấy mà đau đớn lòng”; gần chúng ta hơn, Milan Kundera gọi nó là cái “hệ toán hiện sinh”; và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, với tinh thần cụ thể Việt Nam tính, thấy gì nói đó, gọi nó là “bầu trời lộn ngược.” Hiển nhiên, các thi sĩ cũng đã tốn không ít giấy mực cho cái Being mà tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ này là tốn kém mới nhất.
   
Mở tập thơ, tôi bắt gặp ngay thái độ và câu trả lời của nhà thơ, mà tôi đặc biệt yêu thích và tâm đắc, về cái Being, “Hỏi ta vui hay buồn? Theo nắng sáng xuống phố!” (Âm cuối thu). Một thái độ trầm tĩnh thấm đẫm tinh thần Đạo giáo đông phương! Nhẹ nhàng. Phơi phới. Thong dong. Không cần đi vào những suy nghiệm siêu hình mà lại tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, đó là lợi thế của thi ca trên Triết học. Câu thơ biểu hiện một ý thức trong sáng nắm bắt được lẽ sống thiên nhiên, thấu hiểu lẽ đời và những hữu hạn tất yếu của con người sinh sống trong đó. Sống hài hòa với những quy luật tự nhiên, sống nương theo lẽ đời chứ không chinh phục cuộc đời; sống luôn luôn khiêm tốn, chẳng bao giờ dám vọng động đến độ tự nhận mình là đỉnh cao (mà khiếp hãi nhất là đỉnh cao trí tuệ). Phải chăng đấy là triết lý sống của người xưa mà ngày nay chúng ta gần như quên bẵng?
  
Theo tôi, nhà thơ chẳng cần phải trả lời câu hỏi đời buồn hay vui, bởi cuộc truy tìm ấy là một “nghịch lý chung cuộc”, nếu tôi được phép vay mượn cụm từ này của Kundera. Một nghịch lý “hết thuốc chữa” của cái Being. Và, với Nguyễn Lương Vỵ, nó là “Dấu hỏi hẳn đã chìm trong mộ, Hay vẫn lang thang trên đường về?” hay “Dấu hỏi giữa hư không thầm nhắc, Xa lòng giấc mộng vẫn cầm canh.” (Dấu hỏi giữa hư không). Mọi suy diễn và lý giải về cái Being đều mang nặng tính chủ quan và không thực. Quan trọng hơn, nó sẽ không đi đến đâu và giải quyết được gì cho chính bản thân chúng ta, nói gì đến tha nhân. Nhà thơ là kẻ nhạy cảm với đời sống hơn ai hết, đau cái đau của nhân sinh, vui cái vui của đồng loại, nhưng đừng kêu gọi nhà thơ cho lời giải đáp của cái “hệ toán hiện sinh” kia. “Đời thơ không khổ nạn, Làm sao thấu được thơ?” (Không đề IV). Bởi nó là câu hỏi giữa hư không.
  
Không có câu trả lời nhưng cũng không tuyệt vọng. Vâng, nhà thơ chìm đắm trong nỗi buồn, từ nỗi buồn vạn cổ cho đến nỗi buồn vu vơ, nhưng nhà thơ không tuyệt vọng. Quả thế, tôi không hề tìm thấy một ý nghĩ tuyệt vọng nào trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Ngược lại là đằng khác. Cho dù “khổ nạn” bao nhiêu chăng nữa, nhà thơ vẫn “xanh” như trong bốn câu, “Thánh ca rồi cũng tan, Cầm dương rồi cũng tạnh. Lạnh lạnh lạnh lạnh lạnh, Thi sĩ đã về xanh.” (Không đề VIII).
 
Ugo Betti, nhà văn kiêm kịch tác gia người Ý có lần nói, “Tại bất cứ giây phút nào tôi mở mắt, tôi đều hiện hữu. Còn trước đó, trong suốt cái vô hạn, là cái gì? Thưa, không là gì cả.” Một tình cờ thật thú vị, tôi tìm thấy ý tưởng này của ông nhà văn viết cách đây gần ba phần tư thế kỷ trong mấy câu thơ sau của Nguyễn Lương Vỵ, “Mộng ngày quên hỏi lại, Chùm bông dại bay rồi. Lòng tay vắng tiếng trời, Biết làm sao gặp được. (Phải vậy không?). Sư thật là, chỉ cần sống, chỉ cần hiện hữu trên mặt thế gian này đã đủ cho nhà thơ cảm thấy toại nguyện, “Sống cho trọn kiếp, nào phải trò trẻ con.” Câu thơ của Boris Pasternak trong bài thơ bất hủ Hamlet. Tôi nghe kể hôm nhà thơ qua đời, nhà nước Xô-viết chẳng những không loan báo mà còn tìm mọi cách ngăn cản người tiễn đưa thi hào quá cố ra huyệt mộ. Thế nhưng vẫn có vài ngàn người đến dự đám tang ông. Chừng chục người ghé vai khiêng quan tài, nắp áo quan mở toang, họ vừa đi vừa cất giọng trầm hùng đọc to bài thơ Hamlet như lời tiễn đưa vĩnh biệt nhà thơ vĩ đại của dân tộc họ. Tôi chạnh nghĩ, thực ra họ đọc lời tâm nguyện sống như ông đấy. Sống cho trọn kiếp! Ôi, một điều khó khăn vô hạn!
  
Người là con vật duy nhất mà cái Being của riêng hắn là vấn nạn chỉ mình hắn giải quyết. Sự vĩ đại của con người không nằm ở những thành tựu chính trị hay kinh tế, không ở chỗ “thành công hay thành nhân,” mà chính ở chỗ hắn can đảm sống và sống cho trọn kiếp. Âm nhạc của Beethoven không ca ngợi con người anh hùng hay cá nhân thần thánh. Nó là bản tụng ca cho cái tinh thần sống như con người. Và đừng quên câu nói bất hủ của Jean-Paul Sartre, như nguyên lý thứ nhất cho Triết học Hiện sinh, “Con người chẳng là cái gì ngoài cái hắn tạo dựng nên chính hắn.”
 
*
 
Mặc dù tự nhận mình có sống trong mộng ảo trong những câu thơ sau, “Cuối đời càng lắm mộng, Đêm về mộng am mây. Ngày ủ trong lòng tay, Ngát thơm chùm bông dại.” (Phải vậy không?). Thế nhưng Nguyễn Lương Vỵ không có xu hướng quay về cõi mộng như rất nhiều nhà thơ miền Nam Việt Nam thuộc thế hệ trước. (Một hiện tượng khá lạ bởi trong một đất nước tơi bời khói lửa chiến tranh mà chỉ có vài ba thi sĩ nói về chiến tranh). Không quay về cõi mộng, Nguyễn Lương Vỵ cũng tuyệt đối rũ bỏ son phấn lụa là. Bạn sẽ không tìm thấy những thi ảnh kiểu “em buông tóc kiêu sa đi trong chiều nắng hạ” hoặc “ngón tay em dài, ngón chân em nhỏ” trong thơ Nguyễn Lương Vỵ bao giờ. Tôi mừng lắm. Bởi thú thật, tôi ớn loại thơ đó đến tận óc. Mong nó sẽ mãi mãi nằm trên kệ sách bụi bám của các thư viện thị trấn miền xa.
 
Thơ Nguyễn Lương Vỵ không son phấn lụa là nhưng nhục cảm thì có.
 
Hai bài thơ thấm đẫm nhục cảm là bài “Đêm Tượng Trưng” và bài “Hà Hà Hà!”. Thấm đẫm nhục cảm nhưng cả hai đều kết bằng tiếng cười ha hả như khoái trá, như chọc ghẹo, như đùa cợt bông phèng. Tôi lấy làm lạ. Khi đụng chạm đến vấn đề thân xác nhục cảm, người ta thường hay “chất ngất cơn say” hoặc “đưa em lên đỉnh cuộc tình” chứ ai đời lại cất tiếng cười ha hả bao giờ. Tôi có cảm tưởng đây chỉ là sự châm biếm, tự biếm thì đúng hơn, nào đó của chính nhà thơ. Nhục cảm được thăng hoa bởi tiếng cười ha hả chăng? Nhục cảm ở chừng mực nào đó biến thành sự hài hước. Nhưng cái hài hước ở đây nhất định không phải là sự trào phúng hoặc mỉa mai cay độc. Ngược lại, nó chính là tinh thần tích cực yêu cái đẹp tự nhiên. Nó được thể hiện bằng tiếng cười khoái trá. Trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, có nhiều tiếng cười khoái trá như thế lắm. Dịch xong một câu thơ cổ, “Mừng rơn hơn trúng số” (Hương cổ thi). Hoặc tự biếm “Mừng ta ngày càng khù!” (Không đề III). Tự biếm rồi cười khà khoái trá. Một thái độ khinh mạn ư? Nhưng nếu hiểu hài hước là cảm xúc chủ quan về tính mâu thuẫn (cái nghịch lý hết thuốc chữa) của đối tượng thì chúng ta nhận thức được thái độ hết sức nhân bản của nhà nghệ sĩ. “Je suis Charlie!”
 
Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, bạn sẽ ít bắt gặp những thi ảnh cụ thể của thực tại. Không có những thao thức hay trăn trở (đôi khi rất sáo, giả tạo) của kiếp sống hay kiếp tha hương. Tôi không trách nhà thơ quay lưng với thực tại, bởi thực tại lắm khi chỉ là giấc mộng vô thường, đến rồi đi, tồn tại rồi tan biến, có rồi không, hoan lạc rồi đau khổ, nói chung là cái vòng luẩn quẩn vô thủy vô chung. Nó có gì đáng cho nhà thơ ca ngợi đâu. Hãy xem nó như cỏ rác, bụi bặm bám lên người trong những giây phút vô ý, sa đà, biếng nghĩ; hoặc nếu cần thì cứ đổ lỗi cho số kiếp, cho định mệnh tai ương hay quyền lực bạo tàn nào đó. Nó là phần dư thừa, những tế bào ung thư của đời sống.
 
Cái đáng ca ngợi trong thi ca chính là sự cô độc, sự hiu quạnh của kiếp người. “Đêm lạnh không tiếng dế, Chỉ có tiếng thạch sùng. Tiếng trời là tiếng gió, Cửa sổ khép hờ rung.” (Mấy bận thu phai). Hay “Người đi đâu lặng ngắt, Đời về đâu lặng thinh.” (Không đề V). Sự thinh lặng giúp nhà thơ chiêm nghiệm lẽ sống và những điều khác lạ mà có lẽ khó nhận thức nếu chung quanh là cảnh huyên náo của cuộc đời. “Khách lạ đứng nín thinh, Cúi nhặt vài âm lạ.” (Trưa ở chùa Linh Ứng).
Nguyễn Lương Vỵ bảo làm thơ tức là làm thinh. Câu “Mần thơ là mần thinh” (Tự hỏi tự đáp), như một lời tuyên ngôn cho việc làm thơ của mình, láy đi láy lại như một điệp khúc trong tập thơ. Nó đồng nghĩa với sự cô độc. Làm thơ là nói với chính mình, là độc thoại với khoảng không vô hạn trong lòng mình. Đúng ra, nghệ thuật nào cũng là sự đối diện của người nghệ sĩ với sự cô độc của chính mình. Chỉ sự cô độc mới cho người nghệ sĩ tìm ra cảm hứng sáng tạo, cho “Chữ reo xanh ý tứ, Sắc màu ứa vó câu.” (Không đề IX). Trăm năm trong cõi người ta là Trăm năm hiu quạnh. Hoặc như Octavio Paz, nhà thơ lớn nhất của nền thi ca Mexico thời hiện đại nhận định trong cuốn The Labyrinth of Solitude, “Sự hiu quạnh là cái gì sâu thẳm nhất của kiếp người. Con người là sinh vật duy nhất biết mình cô đơn.”
 
Tôi yêu thích những bài “Không Đề” trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu này, nhất là bài Không Đề IV đề tặng nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Nó gói ghém cái nhìn của nhà thơ về nhà thơ. Như trả lời câu hỏi, “Nhà thơ, mi là ai?” Có những câu khá cường điệu trong bài thơ như, “Đời thơ không lời đáp, Tự móc mắt moi tim.” Sự cường điệu có lẽ là cần thiết như một hình thức biểu đạt, nhưng tựu trung, nó vẫn khẳng định thi sĩ luôn luôn là kẻ cô đơn. “Đời thơ không quán xá, Chữ buốt giá tuỷ trời.”
 
Mô-típ huyết-âm, âm-huyết xuất hiện như nốt nhạc láy rền vang động trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Chúng hiện hữu như một ám ảnh khôn nguôi, quay về mãi, mỗi lần với một ý nghĩa khác nhau, và tất cả những ý nghĩa khác nhau đó tuôn chảy qua cụm từ như dòng nước tuôn chảy qua lòng sông. Tôi muốn gọi chúng là lòng sông của Heraclitus. (“Bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông”). Tôi không rõ lắm hiệu ứng thi ca của các cụm từ đó khi xuất hiện trong những bài thơ mà đôi khi hiện ra như tiếng kêu tắc nghẹn, ngậm ngùi. Chỉ thấy bàng bạc một cảm xúc mơ hồ dấy lên trong tâm tưởng chảy qua dòng sông này có một dòng sông khác; dòng sông với ý nghĩa mới và những ý nghĩa cũ cộng hưởng, hòa nhập vào nhau. Cuộc nghiệm sinh mỗi lần vang lên là một lần hòa nhập vào nhau khiến bản hòa âm đời sống càng thêm phong phú.
 
Ít thấy những thi ảnh cụ thể trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, và nếu có thì nó mang hơi hướm cổ điển như những câu sau trong bài Âm cuối thu, “Chiêm bao màu nắng lụa, Hửng sáng ửng một đoá. Cúc vàng đang ngậm sương, Tóc bạc vừa níu gió.” Cú điệu, nhạc tính trong thơ đều đều, êm nhẹ, đa phần là thuận âm, bởi hầu hết là thơ năm chữ niêm luật chỉn chu. Đọc tập thơ, thú thật có lúc tôi muốn tìm một nốt nhạc nghịch âm nào đó, và mặc dù trước khi gấp sách, tôi bắt gặp vài ba bài thơ xuôi và thơ tự do, nhưng nhạc tính của những bài thơ đó vẫn không thoát khỏi sự êm dịu cố hữu của thuận âm. Bạn cũng sẽ thất vọng nếu bạn tìm kiếm sự khai phá (hoặc đột phá, bứt phá, công phá, nếu muốn nói theo ngôn ngữ thời thượng) trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Không có những thử nghiệm mới lạ hoặc những hình thức làm dáng kiêu kỳ. Không có những kiểu vắt dòng ngược ngạo hay những ký hiệu gạch ngang gạch chéo ngớ ngẩn như thơ của nhiều nhà thơ ngày nay. Không có những thi ảnh trừu tượng, bí hiểm, làm dáng. Thơ Nguyễn Lương Vỵ chủ về ý nghĩa và nghệ thuật phối từ. Nhà thơ cẩn trọng với chữ nghĩa vốn là truyền thống của thi ca Việt Nam từ thời Trung đại. Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi ít bắt gặp những từ hào nhoáng, nuột nà. Thế nhưng, nhờ tài năng và một tâm hồn yêu thơ cao độ, Nguyễn Lương Vỵ đã khéo léo sắp đặt những từ tưởng là tầm thường như hòn sỏi bên cạnh nhau để biến chúng thành chuỗi ngọc sáng ngời.
 
Đọc xong tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ, nếu có kẻ hỏi tôi đời buồn hay vui thì tôi sẽ trả lời kẻ ấy bằng câu thơ “Theo nắng sáng xuống phố!” rồi thản nhiên nhìn cái Being chảy trôi trước mắt.

.
GHI CHÚ:
​Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ sinh ngày 9/5/1952 tại Quán Rường, Tam Kỳ, Quảng Nam. Từ trần ngày 18/2/2021 tại Quận Cam, California. Nguyễn Lương Vỵ nổi tiếng trong giới văn học Miễn Nam VN từ 1969, khi còn là học sinh trung học. Ông sáng tác đa dạng, nổi bật với văn phong riêng biệt, xuất sắc trong cả thơ đời và thơ đạo.
.
Tác phẩm đã in của Nguyễn Lương Vỵ:
. Âm Vang Và Sắc Màu (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1991);
. Phương Ý (NXB Thanh Niên, Sài Gòn, 2000);
. Hòa Âm Âm Âm Âm… (NXB Thư Ấn Quán, New Jersey, 2007);
. Huyết Âm (NXB Q&P Production, California, 2008);
. Tinh Âm (NXB Q&P Production, California, 2010);
. Bốn Câu Thất Huyền Âm (NXB Q&P, Production, California, 2011);
. Tám Câu Lục Huyền Âm (NXB Q&P Production, California, 2013);
. Năm Chữ Năm Câu (NXB Q&P Production, California, 01.2014);
. Năm Chữ Ngàn Câu (NXB Q&P Production, California, 12.2014);
. Tuyển Tập Thơ 45 Năm (1969 – 2014) (NXB Sống, Q&P Production, California, 2015).
. Tuyển Tập Thơ 50 Năm (1969-2019) (Văn Học Press, Q&P Production, California, 2020).
.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng Gangnam Style là câu chuyện âm nhạc vô hại, còn trong những vụ đã kể tại Việt Nam, khi người ta đăng đàn đăng tin giả mạo hay công khai chửi rủa, sỉ nhục lẫn nhau để được hàng ngàn người hào hứng vỗ tay, theo dõi, thậm chí cổ vũ, bênh vực và biến chúng thành hiện tượng như hiện nay, nó cho thấy có điều gì đó dường như chưa đúng lắm trong xã hội. Bởi đó là cách ứng xử bộ lạc, "đầu gấu" của giang hồ.
Vào lúc 10:00 sáng ngày Thứ Tư 26/05/2021 (ngày rằm tháng Tư năm Tân Sửu), một số vị dân cử & đại diện vùng Little Saigon đã có mặt tại chùa Bát Nhã để dự đại lễ Phật Đản, đồng thời chúc mừng ngày khánh thọ của Hòa Thượng Viện Chủ Thích Nguyên Trí. Những vị dân cử & đại diện có mặt gồm có cựu Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda, ông Lý Vĩnh Phong đại diện Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal, bà Quyên Trần đại diện Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Tom Umberg, Nghị Viên thành phố Garden Grove Thu Hà Nguyễn.
Tổng Thống Biden hôm Thứ Năm bay tới Cleveland để quảng bá kế hoạch tạo ra việc làm của ông, và đã chọc quê các dân cử Cộng Hòa đã bỏ phiếu chống dự luật cứu nguy đại dịch nhưng rồi khi về tiểu bang nhà lại khoe công đã giúp đem tiền cứu trợ về cho người dân.
Khi Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC) thay đổi các hướng dẫn của họ về việc đeo khẩu trang vào ngày 13 tháng 5 năm 2021, nhiều người Mỹ vẫn còn một ít nhầm lẫn. Hiện nay bất cứ ai đã chích ngừa đầy đủ có thể tham gia vào các hoạt động bên trong và bên ngoài nhà, lớn hay nhỏ, không cần đeo khẩu trang hay giữ khoảng cách với người khác.Anthony Fauci, trưởng cố vấn y tế cho Tổng Thống Biden, nói rằng hướng dẫn mới “dựa vào sự phát triển của khoa học” và “phục vụ như là một sự khuyến khích” đối với 2/3 người Mỹ là những người chưa chích ngừa đầy đủ tiếp tục đi chích ngừa. Nhưng một số người không thể chích ngừa bởi vì các điều kiện tiềm ẩn. Những người khác với các hệ thống miễn dịch yếu kém, từ bệnh ung thư hay các điều trị y khoa, không thể được bảo vệ hoàn toàn bởi việc chích ngừa của họ. Trẻ em từ 12 tới 15 tuổi đã hội đủ điều kiện để chích ngừa thuốc Pfizer-BioNTech chỉ mới hôm 10 tháng 5 năm 2021. Và không có thuốc chích ngừa Covid-19 được trao thẩm quyền sử dụng
Tình hình đại dịch trong tuần qua đã hầu như giảm xuống rất nhiều tại Mỹ và Châu Âu khi nhiều nơi cho mở cửa sinh hoạt trở lại, nhưng tại Việt Nam và một số nơi khác như Ấn Độ và Châu Mỹ La Tinh thì tình hình vẫn còn nghiêm trọng. Trong tuần qua cũng bùng lên lại chuyện nguồn gốc của vi khuẩn corona với lời bình luận giám đốc cơ quan CDC Hoa Kỳ nói rằng rất có thể vi khuẩn corona thoát ra từ phòng thí nghiệm Vũ Hán của TQ.
Chương trình đầu tư EB-5 chỉ quan trọng đối với một nhóm rất nhỏ các thành viên trong Thượng viện và Hạ viện và trong các tái ủy quyền trước đây không ai dành sự quan tâm đáng kể cho chương trình này. Nhưng hiện nay, Chương trình Trung tâm Vùng EB-5 đang nhận được sự quan tâm của nhiều thành viên hơn vì đã hết hạn sử dụng. Tuy nhiên, có một số thành viên quốc hội không biết rằng chương trình EB5 cần được tái ủy quyền lại trước ngày 30 tháng 6.
California đang trao tặng số tiền thưởng chích thuốc ngừa lớn nhất nước – 116.5 triệu đô la – trong nỗ lực để có thêm nhiều triệu người chích thuốc ngừa trước khi tiểu bang đông dân nhất Hoa Kỳ tái mở cửa vào tháng tới, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Năm, 27 tháng 5 năm 2021.
Tổng Thống Joe Biden đã công bố thông điệp chính thức được gửi đi bởi Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Tư trong đó ông viết như sau: “Jill và tôi gửi lời cầu chúc nồng ấm nhất đến các Phật tử tại Hoa Kỳ và trên khắp thế giới khi họ mừng Lễ Vesak, một ngày kỷ niệm sự đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn của Đức Phật. Nghi lễ thắp nến, biểu tượng của ngày lễ này đã được tổ chức trên 2,500 năm qua, nhắc nhở chúng ta giáo lý của Phật Giáo về lòng từ bi, khiêm cung, và vô ngã mà đã tồn tại đến hôm nay. Vào ngày này, chúng ta cũng tưởng nhớ đến những đóng góp của các Phật tử tại Mỹ là những người đã làm phong phú các cộng đồng và đất nước của chúng ta khi tất cả chúng ta cùng nhau làm việc hướng tới tương lai tươi sáng hơn.”
Người dân Việt trong và ngoài nước vì chứng kiến quá nhiều vụ tai tiếng tham nhũng của các cán bộ từ trung ương xuống địa phương trong hàng chục năm nay nên đã không còn tin vào sự trong sáng của cơ chế chính quyền CSVN khi nói đến chuyện đóng góp tiền bạc để chính phủ mua thuốc chích ngừa cho dân như lời kêu gọi của Thủ Tướng CSVN Phạm Minh Chính hôm 24 tháng 5 năm 2021, theo tường thuật của Đài Á Châu Tự Do (RFA) hôm Thứ Năm.
- Hôm Thứ Năm 27/5/2021, báo Politico loan tin rằng các viên chức do Trump bổ nhiệm bây giờ bị kẹt hóa đơn thuế, vì Trump đã cho hoãn trả thuế lương (payroll taxes) của các viên chức này. Lúc đó Trump hứa với các quan chức này là thuế lương sau đó sẽ được xóa, nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra, và bây giờ nhiều người nợ thuế nhiều ngàn đôla. Đó là khoản 12.4% tiền thuế an sinh xã hội. - Một lá thư từ Sở Thuế gửi 1 cựu viên chức Bạch Ốc yêu cầu phải trả $1,500 tiền thuế lương còn nợ trong vòng 30 ngày, nếu không thì sẽ được qua danh sách Bộ Ngân Khố để làm thủ tục siết nợ thuế. Một cựu viên chức của Trump nói với 2 phóng viên Brian Faler và Daniel Lippman rằng bà và các bạn đồng sự đều nổi giận, vừa bị đòi thuế bất ngờ và vừa bị cho thời hạn quá ngắn để trả thuế nợ, mà họ tin là lương của họ được Trump miễn thuế đó.
Mười tiểu bang hiện đã đạt được mục đích của chính phủ Biden để chích ngừa ít nhất 70% người lớn chống lại Covid-19 tới ngày 4 tháng 7 với ít nhất một liều, theo tài liệu được công bố hôm Thứ Tư, 26 tháng 5 năm 2021, bởi Cơ Quan CDC qua tường thuật của CNN hôm Thứ Tư. Pennsylvania là tiểu bang mới nhất đạt tới điểm chuẩn này, tham gia với các tiểu bang Connecticut, Hawaii, Maine, Massachusetts, New Hampshire, New Jersey, New Mexico, Rhode Island và Vermont.
Hung thủ được xác nhận là Sam Cassidy, 57 tuổi, theo 2 viên chức chấp pháp cho hay. Các nhà điều tra không cung cấp bất cứ động cơ gì ngay tức thì. Người vợ cũ của ông, là Cecilia Nelms, nói với AP rằng Cassidy rất nóng tánh và đã từng nói với bà rằng ông muốn giết chết người tại chỗ làm việc, “nhưng tôi không bao giờ tin ông ấy, và nó không bao giờ xảy ra. Cho đến nay.”
“Bây giờ tôi yêu cầu Cộng Đồng Tình Báo nhân đôi các nỗ lực của họ để thu thập và phân tích thông tin mà có thể đưa chúng ta đến gần với kết luận cuối cùng, và phúc trình lại tôi trong vòng 90 ngày,” theo Biden cho biết. Hôm Thứ Hai Báo The Wall Street Journal trích thuật báo cáo tình báo Hoa Kỳ nói rằng 3 nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nơi đại dịch vi khuẩn corona được tin đã bắt nguồn, bị bệnh vào mùa thu năm 2019.
Facebooker Lê Văn Dũng đã thoát khỏi sự vây bắt của công an Hà Nội hôm 25 tháng 5 năm 2021 vì bị cáo buộc tội danh “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, vật phẩm, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,” nhưng không biết ông có thể không bị bắt trong tương lai hay không, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Tư, 26 tháng 5 năm 2021.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.