Hôm nay,  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being

10/02/202200:18:00(Xem: 9110)

blank
  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being
.
Trịnh Y Thư
.

Có thể nói những bài thơ trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ (xuất bản cuối năm 2014) là những biến tấu liên miên bất tận của cái Being.
 
Being chứ không phải đời sống như chúng ta thường hiểu. Bạn có thể gọi nó là kiếp nhân sinh, kiếp người, đời sống, hữu thể, hiện tồn, hiện hữu, hiện sinh, hiện tính, thể tính, hoặc cả chục từ ngữ khác tương tự. Nhưng xin bạn cho phép tôi gọi nó bằng cái từ tiếng Anh Being. Giản dị, hàm súc, nhưng hết sức bao la, gợi mở. Dịch sang tiếng Việt, gọi nó là “đời sống” hoặc “kiếp người” thì không đủ nghĩa, còn các thuật ngữ Hán-Việt thì bị tô đậm bởi màu sắc Triết học nặng nề, khó hiểu. Kỳ thực, dưới luồng sáng của Triết học, Being được định nghĩa là, “Một hình thái ý thức chủ quan lẫn khách quan lý giải thực tại và sự hiện hữu.” Các triết gia Hy Lạp cổ đại nói nhiều về nó. Sang thời cận, hiện đại các triết gia như Hegel, Heidegger, Sartre, v.v… cũng tốn khá nhiều giấy mực về nó. Tuy nhiên, bởi không mấy mặn mà với Triết học nên tôi thích hiểu từ Being theo cái nhìn của thi ca, một suy nghiệm giao thoa giữa thực tại và huyễn mộng, bằng một thứ ngôn ngữ trong suốt chứ không dày đặc thuật ngữ vốn rất dễ đưa người ta sa vào chốn hỏa mù. Being dưới mắt nhìn của thi ca, có lẽ đơn giản hơn và dĩ nhiên “thơ” hơn. Vì nó, Shakespeare băn khoăn, “to be or not to be”; Nguyễn Du gọi nó là “cuộc bể dâu [với] những điều trông thấy mà đau đớn lòng”; gần chúng ta hơn, Milan Kundera gọi nó là cái “hệ toán hiện sinh”; và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, với tinh thần cụ thể Việt Nam tính, thấy gì nói đó, gọi nó là “bầu trời lộn ngược.” Hiển nhiên, các thi sĩ cũng đã tốn không ít giấy mực cho cái Being mà tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ này là tốn kém mới nhất.
   
Mở tập thơ, tôi bắt gặp ngay thái độ và câu trả lời của nhà thơ, mà tôi đặc biệt yêu thích và tâm đắc, về cái Being, “Hỏi ta vui hay buồn? Theo nắng sáng xuống phố!” (Âm cuối thu). Một thái độ trầm tĩnh thấm đẫm tinh thần Đạo giáo đông phương! Nhẹ nhàng. Phơi phới. Thong dong. Không cần đi vào những suy nghiệm siêu hình mà lại tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, đó là lợi thế của thi ca trên Triết học. Câu thơ biểu hiện một ý thức trong sáng nắm bắt được lẽ sống thiên nhiên, thấu hiểu lẽ đời và những hữu hạn tất yếu của con người sinh sống trong đó. Sống hài hòa với những quy luật tự nhiên, sống nương theo lẽ đời chứ không chinh phục cuộc đời; sống luôn luôn khiêm tốn, chẳng bao giờ dám vọng động đến độ tự nhận mình là đỉnh cao (mà khiếp hãi nhất là đỉnh cao trí tuệ). Phải chăng đấy là triết lý sống của người xưa mà ngày nay chúng ta gần như quên bẵng?
  
Theo tôi, nhà thơ chẳng cần phải trả lời câu hỏi đời buồn hay vui, bởi cuộc truy tìm ấy là một “nghịch lý chung cuộc”, nếu tôi được phép vay mượn cụm từ này của Kundera. Một nghịch lý “hết thuốc chữa” của cái Being. Và, với Nguyễn Lương Vỵ, nó là “Dấu hỏi hẳn đã chìm trong mộ, Hay vẫn lang thang trên đường về?” hay “Dấu hỏi giữa hư không thầm nhắc, Xa lòng giấc mộng vẫn cầm canh.” (Dấu hỏi giữa hư không). Mọi suy diễn và lý giải về cái Being đều mang nặng tính chủ quan và không thực. Quan trọng hơn, nó sẽ không đi đến đâu và giải quyết được gì cho chính bản thân chúng ta, nói gì đến tha nhân. Nhà thơ là kẻ nhạy cảm với đời sống hơn ai hết, đau cái đau của nhân sinh, vui cái vui của đồng loại, nhưng đừng kêu gọi nhà thơ cho lời giải đáp của cái “hệ toán hiện sinh” kia. “Đời thơ không khổ nạn, Làm sao thấu được thơ?” (Không đề IV). Bởi nó là câu hỏi giữa hư không.
  
Không có câu trả lời nhưng cũng không tuyệt vọng. Vâng, nhà thơ chìm đắm trong nỗi buồn, từ nỗi buồn vạn cổ cho đến nỗi buồn vu vơ, nhưng nhà thơ không tuyệt vọng. Quả thế, tôi không hề tìm thấy một ý nghĩ tuyệt vọng nào trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Ngược lại là đằng khác. Cho dù “khổ nạn” bao nhiêu chăng nữa, nhà thơ vẫn “xanh” như trong bốn câu, “Thánh ca rồi cũng tan, Cầm dương rồi cũng tạnh. Lạnh lạnh lạnh lạnh lạnh, Thi sĩ đã về xanh.” (Không đề VIII).
 
Ugo Betti, nhà văn kiêm kịch tác gia người Ý có lần nói, “Tại bất cứ giây phút nào tôi mở mắt, tôi đều hiện hữu. Còn trước đó, trong suốt cái vô hạn, là cái gì? Thưa, không là gì cả.” Một tình cờ thật thú vị, tôi tìm thấy ý tưởng này của ông nhà văn viết cách đây gần ba phần tư thế kỷ trong mấy câu thơ sau của Nguyễn Lương Vỵ, “Mộng ngày quên hỏi lại, Chùm bông dại bay rồi. Lòng tay vắng tiếng trời, Biết làm sao gặp được. (Phải vậy không?). Sư thật là, chỉ cần sống, chỉ cần hiện hữu trên mặt thế gian này đã đủ cho nhà thơ cảm thấy toại nguyện, “Sống cho trọn kiếp, nào phải trò trẻ con.” Câu thơ của Boris Pasternak trong bài thơ bất hủ Hamlet. Tôi nghe kể hôm nhà thơ qua đời, nhà nước Xô-viết chẳng những không loan báo mà còn tìm mọi cách ngăn cản người tiễn đưa thi hào quá cố ra huyệt mộ. Thế nhưng vẫn có vài ngàn người đến dự đám tang ông. Chừng chục người ghé vai khiêng quan tài, nắp áo quan mở toang, họ vừa đi vừa cất giọng trầm hùng đọc to bài thơ Hamlet như lời tiễn đưa vĩnh biệt nhà thơ vĩ đại của dân tộc họ. Tôi chạnh nghĩ, thực ra họ đọc lời tâm nguyện sống như ông đấy. Sống cho trọn kiếp! Ôi, một điều khó khăn vô hạn!
  
Người là con vật duy nhất mà cái Being của riêng hắn là vấn nạn chỉ mình hắn giải quyết. Sự vĩ đại của con người không nằm ở những thành tựu chính trị hay kinh tế, không ở chỗ “thành công hay thành nhân,” mà chính ở chỗ hắn can đảm sống và sống cho trọn kiếp. Âm nhạc của Beethoven không ca ngợi con người anh hùng hay cá nhân thần thánh. Nó là bản tụng ca cho cái tinh thần sống như con người. Và đừng quên câu nói bất hủ của Jean-Paul Sartre, như nguyên lý thứ nhất cho Triết học Hiện sinh, “Con người chẳng là cái gì ngoài cái hắn tạo dựng nên chính hắn.”
 
*
 
Mặc dù tự nhận mình có sống trong mộng ảo trong những câu thơ sau, “Cuối đời càng lắm mộng, Đêm về mộng am mây. Ngày ủ trong lòng tay, Ngát thơm chùm bông dại.” (Phải vậy không?). Thế nhưng Nguyễn Lương Vỵ không có xu hướng quay về cõi mộng như rất nhiều nhà thơ miền Nam Việt Nam thuộc thế hệ trước. (Một hiện tượng khá lạ bởi trong một đất nước tơi bời khói lửa chiến tranh mà chỉ có vài ba thi sĩ nói về chiến tranh). Không quay về cõi mộng, Nguyễn Lương Vỵ cũng tuyệt đối rũ bỏ son phấn lụa là. Bạn sẽ không tìm thấy những thi ảnh kiểu “em buông tóc kiêu sa đi trong chiều nắng hạ” hoặc “ngón tay em dài, ngón chân em nhỏ” trong thơ Nguyễn Lương Vỵ bao giờ. Tôi mừng lắm. Bởi thú thật, tôi ớn loại thơ đó đến tận óc. Mong nó sẽ mãi mãi nằm trên kệ sách bụi bám của các thư viện thị trấn miền xa.
 
Thơ Nguyễn Lương Vỵ không son phấn lụa là nhưng nhục cảm thì có.
 
Hai bài thơ thấm đẫm nhục cảm là bài “Đêm Tượng Trưng” và bài “Hà Hà Hà!”. Thấm đẫm nhục cảm nhưng cả hai đều kết bằng tiếng cười ha hả như khoái trá, như chọc ghẹo, như đùa cợt bông phèng. Tôi lấy làm lạ. Khi đụng chạm đến vấn đề thân xác nhục cảm, người ta thường hay “chất ngất cơn say” hoặc “đưa em lên đỉnh cuộc tình” chứ ai đời lại cất tiếng cười ha hả bao giờ. Tôi có cảm tưởng đây chỉ là sự châm biếm, tự biếm thì đúng hơn, nào đó của chính nhà thơ. Nhục cảm được thăng hoa bởi tiếng cười ha hả chăng? Nhục cảm ở chừng mực nào đó biến thành sự hài hước. Nhưng cái hài hước ở đây nhất định không phải là sự trào phúng hoặc mỉa mai cay độc. Ngược lại, nó chính là tinh thần tích cực yêu cái đẹp tự nhiên. Nó được thể hiện bằng tiếng cười khoái trá. Trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, có nhiều tiếng cười khoái trá như thế lắm. Dịch xong một câu thơ cổ, “Mừng rơn hơn trúng số” (Hương cổ thi). Hoặc tự biếm “Mừng ta ngày càng khù!” (Không đề III). Tự biếm rồi cười khà khoái trá. Một thái độ khinh mạn ư? Nhưng nếu hiểu hài hước là cảm xúc chủ quan về tính mâu thuẫn (cái nghịch lý hết thuốc chữa) của đối tượng thì chúng ta nhận thức được thái độ hết sức nhân bản của nhà nghệ sĩ. “Je suis Charlie!”
 
Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, bạn sẽ ít bắt gặp những thi ảnh cụ thể của thực tại. Không có những thao thức hay trăn trở (đôi khi rất sáo, giả tạo) của kiếp sống hay kiếp tha hương. Tôi không trách nhà thơ quay lưng với thực tại, bởi thực tại lắm khi chỉ là giấc mộng vô thường, đến rồi đi, tồn tại rồi tan biến, có rồi không, hoan lạc rồi đau khổ, nói chung là cái vòng luẩn quẩn vô thủy vô chung. Nó có gì đáng cho nhà thơ ca ngợi đâu. Hãy xem nó như cỏ rác, bụi bặm bám lên người trong những giây phút vô ý, sa đà, biếng nghĩ; hoặc nếu cần thì cứ đổ lỗi cho số kiếp, cho định mệnh tai ương hay quyền lực bạo tàn nào đó. Nó là phần dư thừa, những tế bào ung thư của đời sống.
 
Cái đáng ca ngợi trong thi ca chính là sự cô độc, sự hiu quạnh của kiếp người. “Đêm lạnh không tiếng dế, Chỉ có tiếng thạch sùng. Tiếng trời là tiếng gió, Cửa sổ khép hờ rung.” (Mấy bận thu phai). Hay “Người đi đâu lặng ngắt, Đời về đâu lặng thinh.” (Không đề V). Sự thinh lặng giúp nhà thơ chiêm nghiệm lẽ sống và những điều khác lạ mà có lẽ khó nhận thức nếu chung quanh là cảnh huyên náo của cuộc đời. “Khách lạ đứng nín thinh, Cúi nhặt vài âm lạ.” (Trưa ở chùa Linh Ứng).
Nguyễn Lương Vỵ bảo làm thơ tức là làm thinh. Câu “Mần thơ là mần thinh” (Tự hỏi tự đáp), như một lời tuyên ngôn cho việc làm thơ của mình, láy đi láy lại như một điệp khúc trong tập thơ. Nó đồng nghĩa với sự cô độc. Làm thơ là nói với chính mình, là độc thoại với khoảng không vô hạn trong lòng mình. Đúng ra, nghệ thuật nào cũng là sự đối diện của người nghệ sĩ với sự cô độc của chính mình. Chỉ sự cô độc mới cho người nghệ sĩ tìm ra cảm hứng sáng tạo, cho “Chữ reo xanh ý tứ, Sắc màu ứa vó câu.” (Không đề IX). Trăm năm trong cõi người ta là Trăm năm hiu quạnh. Hoặc như Octavio Paz, nhà thơ lớn nhất của nền thi ca Mexico thời hiện đại nhận định trong cuốn The Labyrinth of Solitude, “Sự hiu quạnh là cái gì sâu thẳm nhất của kiếp người. Con người là sinh vật duy nhất biết mình cô đơn.”
 
Tôi yêu thích những bài “Không Đề” trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu này, nhất là bài Không Đề IV đề tặng nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Nó gói ghém cái nhìn của nhà thơ về nhà thơ. Như trả lời câu hỏi, “Nhà thơ, mi là ai?” Có những câu khá cường điệu trong bài thơ như, “Đời thơ không lời đáp, Tự móc mắt moi tim.” Sự cường điệu có lẽ là cần thiết như một hình thức biểu đạt, nhưng tựu trung, nó vẫn khẳng định thi sĩ luôn luôn là kẻ cô đơn. “Đời thơ không quán xá, Chữ buốt giá tuỷ trời.”
 
Mô-típ huyết-âm, âm-huyết xuất hiện như nốt nhạc láy rền vang động trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Chúng hiện hữu như một ám ảnh khôn nguôi, quay về mãi, mỗi lần với một ý nghĩa khác nhau, và tất cả những ý nghĩa khác nhau đó tuôn chảy qua cụm từ như dòng nước tuôn chảy qua lòng sông. Tôi muốn gọi chúng là lòng sông của Heraclitus. (“Bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông”). Tôi không rõ lắm hiệu ứng thi ca của các cụm từ đó khi xuất hiện trong những bài thơ mà đôi khi hiện ra như tiếng kêu tắc nghẹn, ngậm ngùi. Chỉ thấy bàng bạc một cảm xúc mơ hồ dấy lên trong tâm tưởng chảy qua dòng sông này có một dòng sông khác; dòng sông với ý nghĩa mới và những ý nghĩa cũ cộng hưởng, hòa nhập vào nhau. Cuộc nghiệm sinh mỗi lần vang lên là một lần hòa nhập vào nhau khiến bản hòa âm đời sống càng thêm phong phú.
 
Ít thấy những thi ảnh cụ thể trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, và nếu có thì nó mang hơi hướm cổ điển như những câu sau trong bài Âm cuối thu, “Chiêm bao màu nắng lụa, Hửng sáng ửng một đoá. Cúc vàng đang ngậm sương, Tóc bạc vừa níu gió.” Cú điệu, nhạc tính trong thơ đều đều, êm nhẹ, đa phần là thuận âm, bởi hầu hết là thơ năm chữ niêm luật chỉn chu. Đọc tập thơ, thú thật có lúc tôi muốn tìm một nốt nhạc nghịch âm nào đó, và mặc dù trước khi gấp sách, tôi bắt gặp vài ba bài thơ xuôi và thơ tự do, nhưng nhạc tính của những bài thơ đó vẫn không thoát khỏi sự êm dịu cố hữu của thuận âm. Bạn cũng sẽ thất vọng nếu bạn tìm kiếm sự khai phá (hoặc đột phá, bứt phá, công phá, nếu muốn nói theo ngôn ngữ thời thượng) trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Không có những thử nghiệm mới lạ hoặc những hình thức làm dáng kiêu kỳ. Không có những kiểu vắt dòng ngược ngạo hay những ký hiệu gạch ngang gạch chéo ngớ ngẩn như thơ của nhiều nhà thơ ngày nay. Không có những thi ảnh trừu tượng, bí hiểm, làm dáng. Thơ Nguyễn Lương Vỵ chủ về ý nghĩa và nghệ thuật phối từ. Nhà thơ cẩn trọng với chữ nghĩa vốn là truyền thống của thi ca Việt Nam từ thời Trung đại. Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi ít bắt gặp những từ hào nhoáng, nuột nà. Thế nhưng, nhờ tài năng và một tâm hồn yêu thơ cao độ, Nguyễn Lương Vỵ đã khéo léo sắp đặt những từ tưởng là tầm thường như hòn sỏi bên cạnh nhau để biến chúng thành chuỗi ngọc sáng ngời.
 
Đọc xong tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ, nếu có kẻ hỏi tôi đời buồn hay vui thì tôi sẽ trả lời kẻ ấy bằng câu thơ “Theo nắng sáng xuống phố!” rồi thản nhiên nhìn cái Being chảy trôi trước mắt.

.
GHI CHÚ:
​Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ sinh ngày 9/5/1952 tại Quán Rường, Tam Kỳ, Quảng Nam. Từ trần ngày 18/2/2021 tại Quận Cam, California. Nguyễn Lương Vỵ nổi tiếng trong giới văn học Miễn Nam VN từ 1969, khi còn là học sinh trung học. Ông sáng tác đa dạng, nổi bật với văn phong riêng biệt, xuất sắc trong cả thơ đời và thơ đạo.
.
Tác phẩm đã in của Nguyễn Lương Vỵ:
. Âm Vang Và Sắc Màu (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1991);
. Phương Ý (NXB Thanh Niên, Sài Gòn, 2000);
. Hòa Âm Âm Âm Âm… (NXB Thư Ấn Quán, New Jersey, 2007);
. Huyết Âm (NXB Q&P Production, California, 2008);
. Tinh Âm (NXB Q&P Production, California, 2010);
. Bốn Câu Thất Huyền Âm (NXB Q&P, Production, California, 2011);
. Tám Câu Lục Huyền Âm (NXB Q&P Production, California, 2013);
. Năm Chữ Năm Câu (NXB Q&P Production, California, 01.2014);
. Năm Chữ Ngàn Câu (NXB Q&P Production, California, 12.2014);
. Tuyển Tập Thơ 45 Năm (1969 – 2014) (NXB Sống, Q&P Production, California, 2015).
. Tuyển Tập Thơ 50 Năm (1969-2019) (Văn Học Press, Q&P Production, California, 2020).
.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là rối loạn về sự tiêu hóa mà tiếng Anh gọi là Anorexia nervosa với đặc tính là bệnh nhân từ chối ăn.Người bệnh có quan niệm sai về cơ thể của mình và ám ảnh sợ bị mập vì họ cứ nghĩ là mình mập mặc dù khi cân thì lại là gầy.
Nhiều đương đơn đã nhận được thư mời phỏng vấn vào tháng 5- 2020. Tuy nhiên, không có những cuộc phỏng vấn cấp chiếu khán di dân được tiến hành cho đến ngày hôm nay. Cho dù nhận được thư phỏng vấn gần đây, các đương đơn không nên đến Tòa Lãnh sự khi trang mạng của Tòa Lãnh sự vẫn loan báo các cuộc phỏng vấn bị hủy bỏ.
Tất cả các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều tái mở cửa từng phần hôm Thứ Tư, 20 tháng 5 khi Connecticut nới lỏng các hạn chế vi khuẩn corona dù ít nhất 17 tiểu bang đang chứng kiến sự gia tang các trường hợp lây nhiễm Covid-19, theo CNN cho biết. Connecticut hôm Thứ Tư cho phép, với các hạn chế, người dân sử dụng không giản ăn uống bên ngoài trời, các văn phòng, các tiệm bán lẻ và thương xá, các viện bảo tang và sở thú, theo CNN cho hay.
Đại dịch vi khuẩn corona đã kéo dài nhiều tháng qua mang theo nó những thiệt hại kinh hoàng về kinh tế và nhân mạng trên toàn thế giới, nhất là Hoa Kỳ. Trong lịch sử loài người cũng đã chứng kiến nhiều trận đại dịch kinh khủng như thế. Ngoài mặt tiêu cực quá lớn mà đại dịch phủ trùm lên thế giới, các nhà phân tích cũng đã cho thấy một số điểm tích cực xuất hiện. Phó Giáo Sư dạy về Phát Triển Cộng Đồng và Khu Vực tại Đại Học UC Davis là Catherine Brinkley đã chỉ ra một số điểm tích cực từ đại dịch đối với các thành phố Mỹ trong bài viết “How pandemics have changed American cities – offen for the better,” được đăng trên trang mạng www.theconversation.com. Việt báo xin đăng bản dịch Việt của Thụy Âm để cống hiến cho độc giả tường lãm *** Kinh nghiệm của Thành Phố New York như là trung tâm của đại dịch COVID-19 tại Hoa Kỳ đang làm tăng các vấn nạn về cuộc sống thành thị. Các cư dân bị cách ly lo sợ về tương lai trong thành phố được biết là nơi đông đúc nhà cửa
Hơn 4 triệu người Mỹ đã khai thất nghiệp vào tuần trước, theo Bộ Lao Động cho biết hôm Thứ Năm, 21 tháng 5. Điều đó đã mang tổng số người khai thất nghiệp lên tới hơn 43 triệu, theo cơ bản được điều chỉnh theo mủa, kể từ đại dịch vi khuẩn corona lây lan trên toàn quốc. Nói cách khác, ¼ người lao động tại Mỹ đã khai thất nghiệp trong vòng 10 tuần lễ qua. “Khai thất nghiệp trong thời gian khủng hoảng vi khuẩn corona đã vượt khỏi 37 triệu người khai trong vòng 18 tháng của Đại Suy Thoái,” theo Daniel Zhao, kinh tế gia kỳ cựu tại Glassdoor, cho biết trong một thông báo. “Thị trường lao động vẫn nằm trong hố sâu mà nó phải leo ra khỏi.”
Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Năm, 21 tháng 5 đã không đeo khẩu trang bảo vệ vi khuẩn corona trong một phần thời gian đi thăm một nhà máy của Hãng Chế Tạo Xe Hơi Ford tại Michigan, dù luật tiểu bang và chính sách của công ty yêu cầu đeo khẩu trang ở đó. Trump, thường từ chối đeo khẩu trang nơi công cộng, đã viếng thăm Nhà Máy Rawsonville Components Plant của Ford tại Ypsilanti, là nơi có chính sách yêu cầu đeo khẩu trang ở đó. Nhà máy hiện đang chế tạo máy thở để đáp ứng với đại dịch Covid-19 tại Hoa Kỳ.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo Trung Quốc qua tuyên bố bởi quốc hội bù nhìn rằng một dự luật an ninh quốc gia tại Hồng Kông sẽ được lên chương trình nghị sự trong cuộc họp sắp tới, một động thái có vẻ sẽ đổ thêm dầu vào sự giận dữ và các cuộc biểu tình chống đối tại thành phố bán tự trị này, theo CNN tường trình cho biết hôm Thứ Năm, 21 tháng 5.
Vào trưa Thứ Ba 18/05/2020, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa hạt 48) đã có buổi ghé thăm văn phòng Đài Truyền Hình SBTN, trao bằng tưởng lục cho SBTN, tổ chức Rise và hơn 70 ca nhạc sĩ gốc Việt đã tham gia cho chương trình ca nhạc online “Sing For Our Heroes”.
Vụ nổ súng hôm Thứ Năm, 21 tháng 5 tại Căn Cứ Naval Air Station Corpus Christi tại Texas có liên hệ tới khủng bố, theo các viên chức FBI cho biết, theo CNN tường trình. Các viên chức trước đó nói rằng tay sung là “độc lập,” nhưng có thể có người thứ hai vẫn còn tại đào, theo viên chức FBI Leah Greeves cho biết trong cuộc họp báo ngắn gọn. Nhân viên này đã không cung cấp thêm thông tin. Tay súng đã bị giết chết, theo Greeves cho hay.
Nhà báo Phạm Thành (tên đủ là Phạm Chí Thành), là người sáng lập blog Bà Đầm Xòe và viết nhiều sách chỉ trích chế độ CSVN và ông Nguyễn Phú Trọng đã bắt tại Hà Nội hôm 21 tháng 5 năm 2020, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết.
Với những thay đổi khi chuyển sang Giai đoạn 2 trong cơn dịch COVID-19 tại quận Cam, Thành phố Garden Grove sẽ cấp giấy phép tạm thời cho các nhà hàng mở lại với những yêu cầu nghiêm ngặt về sức khỏe và an toàn. Các quán ăn, nhà hàng tại địa phương hiện có thể nộp đơn xin cấp giấy phép ăn uống ngoài trời có hiệu lực trong vòng 60 ngày để mở rộng khu vực ăn uống bên ngoài vỉa hè nếu nhà hàng tọa lạc ở trong một trung tâm mua sắm (shopping center), hoặc trong các bãi đậu xe do nhà hàng sở hữu.
75% dân Mỹ tin rằng Hoa Kỳ nên tiếp tục những nỗ lực chận đứng sự lây lan của con virus Corona. Mùa xuân khốc liệt năm nay, nước Mỹ đã phải đối đầu với hai cuộc khủng hoảng. Và với thời gian 14 tuần lễ vừa qua, đã có hơn 84,000 người Mỹ chết vì đại dịch. Con số đó lớn gấp 28 lần số tử vong của khủng bố 9/11 (3,000 người chết), hơn cả số quân nhân Mỹ tử trận trong chiến tranh Việt Nam (58,220 hy sinh) và chiếm 25% tổng số người chết vì đại dịch trên toàn cầu. Cùng lúc đó, các biện pháp phong tỏa mọi hoạt động kinh tế, xã hội với quy mô toàn quốc đã khiến 33 triệu người mất công ăn việc làm, buộc hàng trăm ngàn các doanh nghiệp nhỏ phải tạm đóng cửa và là nguyên nhân gây ra tình trạng 20% trẻ em Mỹ lâm vào cảnh bấp bênh ăn bữa nào biết bữa ấy.
Tại Saigon (TP Ho Chi Minh) cảnh sát bắt giữ và đối xử tàn tệ hai nhân viên làm việc cho nhà xuất bản Tự do (Liberal Publishing House). Con gái của một trong hai người nói trên, ông Thủy Tuất, người giao sách của nhà xuất bản, đã bị bắt giữ. Kể từ đầu tháng 10 năm 2019, hàng chục người thường quan hệ với nhà xuất bản Tự do đã bị công an nhòm ngó, theo dõi. Họ là những người hoặc đang và đã làm việc cho nhà xuất bản hoặc bị cho là đã mua hoặc đọc sách của nhà xuất bản.
Thời gian qua các nhà ngoại giao Trung cộng hung hăng tấn công bất cứ nước nào nghi ngờ về sự minh bạch và thành công của Trung cộng trong xử lý đại dịch do virus corona gây ra. Thủ tướng Úc ông Scott Morrison lại đề nghị tiến hành điều tra về nguồn gốc và cách thức các quốc gia xử lý đại dịch, nên nước Úc lãnh chịu phản ứng hung bạo nhất, nhưng chính nhờ vậy người Úc mới thức tỉnh đồng lòng “thoát Trung”, một bài học đáng giá để chúng ta học hỏi.
Thèm ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể, để củng cố năng lượng. Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột đường hay tinh bột (amidon, starch) và chất xơ (fibre). Những chất nầy rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi khi cũng nguy hiểm lắm đó!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.