Hôm nay,  

Thầy Thích Minh Châu: Bất Lập Văn Tự

12/03/202208:16:00(Xem: 10704)
blank
 

Thầy Thích Minh Châu: Bất Lập Văn Tự

 

Nguyên Giác

  

Bài viết này để ghi ơn Thầy Thích Minh Châu. Những gì Thầy dịch nhiều hơn những gì tôi có thể đọc, những gì Thầy viết phức tạp hơn những gì tôi có thể hiểu, và công trình hoằng pháp của Thầy vĩ đại hơn những gì tôi có thể đo lường. Bài viết, do vậy, chỉ là một phần những gì có thể nhìn về Thầy Thích Minh Châu, từ một người, tuy chưa bao giờ gặp Thầy trực tiếp, nhưng luôn luôn tự xem như học trò của Thầy. Và nơi đây sẽ tập trung về cách Thầy Thích Minh Châu lý giải về cửa pháp Bất Lập Văn Tự (không dựng lập chữ nghĩa, ngôn ngữ, biểu tượng, ký hiệu…).  Sai sót tất nhiên sẽ có, người viết xin được thành tâm sám hối.

.

Thiền sư và Pháp sư

Thầy Thích Minh Châu đã dịch Tạng Nikaya, tất nhiên được gọi là dịch giả, học giả; Thầy uyên bác như thế đương nhiên được người trong nhà Phật gọi là Pháp sư. Có thể Thầy cũng là Thiền sư? Hình như chưa nghe ai nói về Thầy Thích Minh Châu như là một Thiền sư. Nhiều người có thể thắc mắc và khởi tâm phân biệt. Xin mời đọc kỹ những gì Thầy Thích Minh Châu viết, để chúng ta có thể tin rằng Thầy đã vượt qua các lằn ranh phân loại như thế.
 

Trong rất nhiều Kinh Phật, có nhiều vị chỉ nghe Đức Phật dạy một câu, hay dạy một bài kệ bốn câu, hay dạy một bài kinh vài đoạn, là đủ để giải thoát. Đối với những vị như thế, vừa nghe Đức Phật dạy xong là tức khắc, hay chỉ mất thời gian rất ngắn, là xa lìa ngay được tham sân si. Thiền sư còn nương tựa vào cây gậy Thiền để đi đường, Pháp sư còn nương tựa vào cây gậy Pháp mà đi. Tuy nhiên, tôi tin rằng, những người như Thầy Thích Minh Châu, đã ngồi dịch Kinh miệt mài nhiều thập niên, chính ngay khi đó cũng có thể là Giới, cũng có thể là Định, và cũng có thể là Huệ. Hiển nhiên, Thầy đã trải qua rất nhiều thời gian tu, học, viết, dịch và giảng Kinh Phật, tham sân si có thể đã biến mất trong tâm Thầy.
 

Trong Kinh AN 5.26, Đức Phật nói người sống không phóng dật và nhiệt tâm có thể đi đến đoạn diệt hoàn toàn qua một trong năm giải thoát xứ: (a) nghe pháp, (b) thuyết pháp, (c) tụng đọc pháp, (d) tư duy và khảo sát về pháp (bản dịch Bodhi:  ponders, examines, and mentally inspects the Dhamma), (e) khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí tuệ (has grasped well a certain object of concentration, attended to it well, sustained it well, and penetrated it well with wisdom). (1)
 

Như thế, ngồi dịch Kinh nhiều thập niên như Thầy, là dễ dàng đi qua bốn cửa giải thoát đầu trong Kinh trên, vì dịch Kinh là nghe pháp, là thuyết pháp, là tụng đọc pháp, là tư duy và khảo sát về pháp. Khi Thầy đã qua được bốn cửa giải thoát nêu trên, là đã lìa khỏi các phân loại của chúng sinh. Thì, có gọi Thầy bằng chữ nào cũng không thích nghi.
 

Có một Kinh khác cũng có thể cho chúng ta tin rằng Thầy Thích Minh Châu đã vượt qua kiểu phân loại của thế gian hữu vi. Đó là Kinh AN 6.46, trích như sau:

Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau: “Chúng ta là những người chuyên tâm về Pháp, chúng ta sẽ tán thán các Tỷ-kheo tu Thiền “. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người cảm giác bất tử giới với thân và an trú.

Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau: “Chúng ta là những người tu thiền, chúng ta sẽ tán thán các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp”. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người với trí tuệ thể nhập và thấy con đường thâm sâu hướng dẫn đến đích.” (2)
 

Nghĩa là, tôi suy đoán rằng, Thầy Thích Minh Châu đã vượt qua các lằn ranh: cả Thiền và Pháp đều hiển lộ trong tâm Thầy.

.

Đại Thừa, Tiểu Thừa, Nhất Thừa…

Một số người thường nói rằng Thầy Thích Minh Châu đã phủ nhận tư tưởng Đại Thừa, xem như của các vị sư Trung Hoa hậu tác. Thực sự không phải. Thầy chỉ phân tích và gạn lọc. Thầy có thể phủ nhận một phần, nhưng rồi chúng ta sẽ thấy Thầy từng trích dẫn rất nhiều Kinh Bắc Tông. Riêng trong một tác phẩm do Thầy dịch, Thầy đã cho thấy toàn cảnh về Phật Giáo nhiều truyền thống, và điều này rất lợi ích cho người học Phật chân chính, để biết nơi nào thiếu sót và nơi nào dư thừa do lỗi người đời sau. Hãy luôn luôn nhớ rằng, chúng ta đã là học trò Đức Phật, điều cốt tủy là phải can đảm tự xét về chính mình, can đảm suy nghĩ về những gì mình cần đọc nhưng chưa đọc tới, về những gì mình cần học nhưng chưa học tới, và về những gì mình đã đọc và học nhưng thực ra là xen tạp vô ích. Và tận cùng, chúng ta phải nhìn vào tự tâm để đối chiếu Kinh Phật hiển lộ trong tâm mình.
 

Thầy Thích Minh Châu đã dịch một sách biên khảo nhan đề “Đại Thừa và Sự Liên Hệ với Tiểu Thừa” của học giả Nalinaksha Dutt, phát hành với ấn bản 1999 của nxb TPHCM, trong Lời Dịch Giả, trích lời Thầy viết như sau:
 

“…Cho nên quan điểm của một số học giả Pàli cho rằng những gì ngoài ba Tạng Pàli là ngụy tạo, vừa nguy hiểm, vừa nông nổi nếu không phải là lạc hậu. Nguy hiểm vì tự mình phủ nhận những cố gắng trung thành với đạo Phật nguyên thủy của các nhà luận sư, như chúng ta đã thấy quá rõ ràng trong tập sách này. Nguy hiểm hơn nữa là chúng ta phủ nhận luôn những tinh hoa đạo Phật nguyên thủy do chính các nhà luận sư khai thác và diễn đạt. Nông nổi và lạc hậu, vì ngày nay các nhà học giả Phật giáo phần lớn đều chấp nhận một số tư tưởng Đại thừa là những tư tưởng của đạo Phật nguyên thủy và xác nhận chính trong tam tạng Pàli, được kiết tập trong một thời gian một vài thế kỷ, lẽ dĩ nhiên phải có những đoạn phi nguyên thủy xen kẽ vào. Nếu có nhà học giả nào chịu khó so sánh bốn tập A Hàm (Trung Hoa) với các tập Pàli Nikàya tương đương, các vị ấy sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm Trung Hoa lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pàli.

Thái độ của một số Phật tử Đại thừa ngược lại xem những gì Tiểu thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận ba tạng Pàli, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh hoa tốt đẹp nhất và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy. Và làm vậy chúng ta mắc mưu các nhà Bà-la-môn giáo đã khôn khéo loại bỏ ra ngoài Phật giáo những tinh ba của lời Phật dạy, bằng cách gán cho danh từ "Tiểu thừa". Nông nổi và ngây thơ, vì thật sự danh từ Tiểu thừa và Đại thừa không được tìm trong ba tạng Pàli và bốn bộ A Hàm và chỉ là những danh từ được tạo ra về sau. Hơn nữa, tìm hiểu quá trình lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta chỉ có thể hiểu được tư tưởng Đại thừa sau khi chúng ta tìm hiểu được tư tưởng nguyên thủy. Loại bỏ tư tưởng nguyên thủy để tìm hiểu tư tưởng Đại thừa cũng như thả mồi bắt bóng, và bắt bóng ở đây là bắt bóng tà ma ngoại đạo, mới thật sự nguy hiểm hơn. Các nhà gọi là Đại thừa cần phải xác nhận một sự thật lịch sử, là các nước Tiểu thừa chống giữ sự xâm nhập của ngoại đạo tà giáo kiên trì và hữu hiệu hơn các nước Đại thừa. Lý do chính là tư tưởng Đại thừa và tà giáo ngoại đạo nhiều khi cách xa chỉ có gang tấc, và nhiều nhà tự cho là Đại thừa lại sẵn sàng bước qua biên giới ấy…” (3)

.

Một điểm đặc biệt của sách vừa dẫn, là phần Phụ Lục, chương này có nhan đề “Vấn đề các tập Prajnàpàramità (Bát nhã Ba-la-mật)”.  Chương Phụ Lục nơi đoạn kết ghi về cách nhìn của Bát nhã Ba-la-mật, rất đúng với cái nhìn của Thầy Long Thọ, người mở đường cho lý luận của hệ Bát Nhã và cũng là người khai sáng tư tưởng Đại Thừa, đồng thời cũng rất phù hợp với tinh thần của các nhóm Kinh Nhật Tụng Sơ Thời (trong Kinh Tập, Tiểu Bộ), nghĩa là các Kinh mà trong các năm đầu hoằng pháp Đức Phật đã yêu cầu tứ chúng tụng đọc hàng ngày.
 

Trích nơi đoạn cuối Phụ Lục - Vấn đề các tập Prajnàpàramità (Bát nhã Ba-la-mật) là những dòng chữ như sau:

Tóm lại, tác dụng của Bát nhã Ba-la-mật là làm cho vị Bồ-tát tin rằng bố thí Ba-la-mật hay bất cứ pháp nào đều không có hình tướng, không có căn nguyên, và không sai khác với Sùnyatà, Bát nhã Ba-la-mật dùng như một vệ sĩ cho vị Bồ-tát, đã vượt trên các hạng người tầm thường, đã chứng nhiều đức tánh tốt đẹp, nhưng có thể vẫn còn chấp thủ một vài quan điểm có thể là cao thượng, trong sạch, nhưng vẫn trở thành một đối tượng chấp thủ cần phải trừ diệt. Vì lý do này mà Bát nhã Ba-la-mật được tán thán hơn các pháp Ba-la-mật hay các đức tánh khác và được xem như là lãnh đạo (nàyikhà, phùrvan gamà) cho tất cả pháp Ba-la-mật.” (3)
 

Đó là Bát Nhã Tâm Kinh, là Trung Luận. Đọc kỹ Bát Nhã Tâm Kinh sẽ thấy, tinh thần vượt qua cả chấp thủ cả Có và Không, cả bờ này và bờ kia, đó chính là lời Đức Phật dạy, rằng trong cái nhìn Đại Thừa (hiểu là cửa lớn dung thông) sẽ thấy rằng phiền não tức là Niết Bàn, rằng mắt tai mũi lưỡi thân ý là hang tối vô minh vây hãm chúng sinh, nhưng đồng thời cũng chính mắt tai mũi lưỡi thân ý là tia sao mai buổi sớm chỉ ra cái nhìn giải thoát. Không phải vô ý mà tác giả Nalinaksha Dutt đưa bài nhận định Bát nhã Ba-la-mật về chương Phụ Lục để kết thúc cuốn sách, và hiển nhiên có thể tin rằng dịch giả Thích Minh Châu cũng nhận ra như thế, nơi đó các thừa không còn vương bận nữa; nói như Thiền Tông là khi “Trâu bùn qua sông” thì đó là giải thoát, nơi bờ này với bờ kia chỉ còn là giấc mộng đêm qua, và không còn gì để gọi là buộc hay để gỡ. Nếu dùng lời để nói, có thể nên gọi Thầy Thích Minh Châu là bậc Đại Sa Môn Nhất Thừa.

.

Trước Sự Nô Lệ Của Con Người

Một tác phẩm tuyệt vời của Thầy Thích Minh Châu cần được đời sau đọc kỹ, và nên đọc rất kỹ, đó là cuốn “Trước Sự Nô Lệ của Con Người: Con Đường Thử Thách của Văn Hóa Việt Nam.” (4)
 

Sách này, nơi đây, chúng ta sẽ thảo luận về bản in lần thứ hai, năm 1970, ấn hành bởi Nha Tu Thư & Sưu Khảo Viện Đại Học Vạn Hạnh. Có lẽ, Thầy Thích Minh Châu viết sách này, trong cương vị Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, có thể viết năm 1968 vì Chương 3 là bài diễn văn Thầy Minh Châu đọc khi khởi đầu niên học 1968-1969: "Với trọn lòng tôn kính và nhiệt hứng, với trọn lòng tin sắt đá vào sự phục hồi sinh lực của tinh thần Việt Nam, chúng tôi xin chính thức tuyên bố buổi Tổng Khai Giảng hôm nay, mở đầu niềm hy vọng liên tục trong niên học 1968-1969 tại Viện Đại Học Vạn Hạnh."
 

Trong sách này, Thầy Minh Châu đã viết và lý luận gần như là thuần tư tưởng Bắc Tông. Chúng ta không hề ngạc nhiên khi đọc và thấy các vị Thầy khác trích dẫn Kinh Bắc Tông – thí dụ, Thầy Thanh Từ, Thầy Tuệ Sỹ… -- bởi vì đó là những gì các Thầy này đọc hàng ngày, dịch hàng ngày, tư duy và tu dưỡng hàng ngày. Tuy nhiên, Thầy Thích Minh Châu nhiều lần trích dẫn Kinh Bắc Tông mới là lạ. Rất kỳ lạ, vì trong sách này, Thầy Minh Châu cũng trích nhiều lần về Thiền Tông, y hệt như Thầy Minh Châu mới dùng thần thông để đi du học ngược thời gian, như từ thời Lý, Trần về.
 

Có phải vì “gỡ bỏ nô lệ” cần riêng tới Kinh Đại Thừa? Không phải, vì Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông đều nhằm gỡ bỏ xiềng xích nô lệ trong nhân loại nói chung, và trong tâm từng người nói riêng.
 

Tại sao Thầy Minh Châu đã du học Ấn Độ, hoàn tất Tiến sĩ Phật học với luận án "So sánh Tạng Pàli Trung Bộ Kinh với Tạng Hán A Hàm" (The Chinese Madhyama Agama and the Pàli Majjhima Nikàya – A Comparative Study) tại Đại học Phật giáo Nalanda (Ấn Độ) lại ưa thích trích dẫn Kinh Kim Cương, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Già, Tư tưởng Bất Nhị, Tư tưởng Bát Nhã, Tư tưởng Phật Tính, Bồ Tát Hóa Thân, Đức Di Lặc, Lục Tổ Huệ Năng, Tam Tổ Tăng Xán, Ngài Long Thọ…
 

Và rồi tận cùng Thầy Thích Minh Châu đã viết với văn phong Lâm Tế rằng, “Phật giáo chỉ là Phật giáo khi Phật giáo  vượt qua chính cơ cấu ngôn ngữ và biểu tượng của Phật giáo…” Nghĩa là, Thầy Thích Minh Châu đang lặng lẽ truyền pháp của Thiền Tông: bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền…

Nơi đây, chúng ta sẽ trích từ sách “Trước Sự Nô Lệ của Con Người: Con Đường Thử Thách của Văn Hóa Việt Nam” một số nơi đáng chú ý, khi Thầy dẫn ra Kinh điển Bắc Tông, và tư tưởng Thiền Tông.

.

Chương 1: Hãy nhìn thẳng vào chính mình

(Bắt đầu trích) "Vô uý là một trong những đức tính quan trọng mà đấng Thế Tôn đã dạy cho chúng ta. Đó là con đường của tất cả Bồ Tát. Hoá Thân của Đức Di Lặc sẽ mang đủ đức tính của Bất Không Thành Tựu Như Lai. Đó chính là tư thái thản nhiên của Ngài được thể hiện trong Vô Uý Ấn (abhaya mudrà)... [...]
 

Điều trên khiến chúng ta nhớ đến bình đẳng tánh trí và diệu quan sát trí hai trong bốn trí của Duy Thức Học.

Bình đẳng tánh trí (Samatājnāna) và Diệu Quan sát trí (Pratyaveksanājňāna) đưa đến Đại viên cảnh trí (Àdarsanajňāna), cứu cánh của giải thoát; đó mới chính là con đường giải thoát duy  nhất cho mỗi người trong chúng ta.

Tâm hồn thản nhiên trước sự vật và tâm trí mở ra trước huyền diệu, đó là đường đi của tất cả Bồ Tát, thể hiện cô đọng trong Vô Uý An (Abhaya mudrà) của Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiddhi), hoá thân của Đức Di Lặc." (ngưng trích Chương 1)

.

Chương 5: Hoà bình với sự sụp đổ của ngôn ngữ

(Bắt đầu trích)  “Khi đức Phật mở ra con đường giải thoát bằng việc phá chấp, phá bỏ tất cả mọi cố chấp và phá bỏ ngay việc cố chấp vào chính đạo phật, Đức Phật chỉ muốn cho con người ý thức tính cách giới hạn của biểu tượng và đồng thời ý thức tối hậu rằng chính Thực tại và Thực thể cũng là biểu tượng cuối cùng mà con người phải phá hủy, để được giải phóng toàn triệt. Đó cũng là ý nghĩa cách mạng triệt để của Lục tổ Huệ Năng khi Ngài nói: "Bản lai vô nhất vật", nói khác đi thì cũng có nghĩa là chính Thực tại chỉ là biểu tượng và biểu tượng này cũng phải vứt vỏ đi để không còn một vật nào hay một nơi nào hay một nơi nào mà con người có thể cố chấp trói buộc dù là Thực tối hậu hay biểu tượng tối hậu.[...]

Hiểu hòa bình theo nghĩa chống lại chiến tranh là còn hiểu theo bình diện tầm thường, như thể bị trói buộc trong hướng đi biện chứng pháp (processusdialectique) của chính ngôn ngữ, nói theo danh từ nhà Phật thì có nghĩa là còn phân biệt đối đãi giữa thực tế này với thực thể khác, chưa đạt đến "vô Phân biệt trí"; trong ý nghĩa ấy, Tổ Tăng Xán của Thiền Tông đã nói một câu ý nghĩa:"Chỉ động quy chỉ, chỉ cánh quy động" (ngăn động mà cần tịnh, hết ngăn lại động thêm), khi chiến tranh thì ta cầu hòa bình, nhưng hết chiến tranh thì lại chỉ là sống để chờ một trận chiến tranh khác dữ dội, do đó, hòa bình chỉ là hòa bình giai đoạn, có tính cách nhất thời.

Khi chúng tôi nói đến hòa bình, chúng tôi chỉ nói hòa bình toàn thể, hòa bình tâm linh, chỉ có hòa bình tâm linh mới là hòa bình duy nhất làm nền tảng cho tất cả hòa bình chính trị và quân sự.” (ngưng trích Chương 5)

.

Chương 6: Ngay giữa lòng thế gian đau khổ

(Bắt đầu trích) “Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: tất cả các Đức Phật đều vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời; đại sự nhân duyên ấy, chính là mở bày cho chúng sinh tri kiến của Phật chỉ cho chúng sinh tri kiến của Phật, làm cho chúng sinh hiểu tri kiến Phật, khiến chúng sinh chứng nhập tri kiến của Phật… […]

 Trong Kinh Pháp Hoa phẩm "Như Lai thọ lượng" Phật lấy ví dụ một vị lương y vì đàn con ngộ độc nên chế sẵn món thuốc giải độc cho các con uống. Nhưng những người con mãi mê vui chơi không chịu uống, độc dược ngày một ngấm sâu vào cơ thể, người cha lương y bèn dùng phương tiện bỏ nhà ra đi phương xa rồi cho người về báo tin là mình đã chết. Đàn con khi ấy thương tiếc cha mới bắt đầu nhớ lời cha dặn và uống thuốc, nhờ đấy khỏi được bệnh. Đức Phật cũng thế, vốn là đấng Vô Thỉ, vô chung thọ mạng vô cùng, thường trụ bất diệt, là đấng toàn trí vượt trên sự tu học, nhưng vì chúng sinh mà thị hiện ra đời; thị hiện sáu năm khổ hạnh, thị hiện thành đạo, thị hiện nhập diệt. Vì sao? vì nếu chúng sinh thấy Như Lai thường còn chẳng mất thì dễ sanh lòng buông lung nhàm trễ, không sanh tâm tưởng nghĩ Đức Phật khó gặp. Do đó mà Như Lai đã dùng phương tiện nói rằng: “Các Tỳ Kheo nên biết, chư Phật ra đời khó có thể gặp được." (Pháp Hoa Kinh, Như Lai thọ lượng phẩm). Lại nữa pháp thân Phật to lớn bao trùm cả pháp giới; mà nay nhập thể trong một thân bé nhỏ,hữu hạn chịu những ràng buộc hữu vi: sinh, già, bệnh, chết của con người cũng chỉ vì một ý hướng nhân bản nêu trên… […]

Chính Đức Phật đã dạy trong Kinh Kim Cương:

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.

Kinh Pháp Hoa có lấy dụ một thương nhân mang món báu lớn đi qua đường hiểm (tê trì trọng bảo quá hiểm lộ), chính là hoàn cảnh chúng ta hôm nay, mang kho tàng pháp bảo vô giá đi vào một giai đoạn cam go của thời mạt thế. Đức Phật đã cứu chúng ta, bây giờ đến lượt chúng ta hãy cứu lấy đức phật. (ngưng trích Chương 6)

.

Chương 9: Nền tảng của mọi khoa học và triết học nhân loại

(Bắt đầu trích) “Tất cả những chủ đề này đều nêu ra một thuộc tính trong những thuộc tính của Phật tính. Thực ra, đứng trên bình diện Chân Như quan thì Phật tính là Phật tính, tức là Như tính, gọi là Như Như mà chữ phạn gọi là Tathàtva hay tathatà; đứng trên quan điểm dựa trên chân lý như thật ấy (yathàbhù tàrthasthànadar-sana) thì Phật tính không có thuộc tính gì cả, bởi vì thuộc tính chỉ có lý do tồn tại trong hiện tượng giới… […]

Thấy được sự thật là hiểu biết Như thật (Yathà-bhùtam); hiểu biết như thật (Yathà-bhùtam) là hiểu biết đúng y như thực tại (Yathàtattvam) đúng theo sự kiện thiết thực (yathàrtha) nghĩa là nhận thức chân tướng của mọi sự vật. Vì lẽ đó, đạo Phật còn có tên là "đạo như thật" "yathàbhùtammarga" (kinh Bát Nhã, trang 15).” (ngưng trích Chương 9)

.

Chương 10: Nền tảng của mọi phương pháp giáo dục

(Bắt đầu trích) “Vô minh là nền móng của tà kiến, và vì tà kiến, do tà kiến, bởi tà kiến, nên con người mới nô lệ vào những ảo ảnh nguy hiểm để giết hại lẫn nhau. Chánh kiến đi đôi với Đạo đức; chuyển tà kiến thành chánh kiến thì chuyển được Ác thành Thiện. Nhà giáo dục Phật giáo không phải chỉ là người cố chấp vào một nguyên tắc đạo đức để mà bỏ quên thực chất linh động của đạo đức; chính kiến mới là không chấp trước vào vọng kiến; vọng kiến là sự chìm đắm trong những ảo ảnh, hư ảnh phù phiếm mà chạy trốn thực tại. Thực tại nằm trên Thiện và Ác; giai đoạn đầu là theo Thiện bỏ Ác, giai đoạn thứ hai là bỏ Ác theo Thiện, giai đoạn thứ ba là siêu hóa nhị tướng của vạn pháp để mà thể nhập Thực tại siêu việt… […]

Tinh thần vô chấp, vô trước, phải được thực hiện triệt để trong nền giáo dục Phật giáo; con người của chân lý là kẻ sống với chân lý mà không chấp trước và chân lý. Giáo dục phật giáo là giáo dục con người trở thành Phật tử để rồi không chấp trước vào bản vị Phật tử và trở về lại với con người, con người trọn vẹn, không phân biệt tôn giáo, nòi giống, giai cấp, Phật tử chỉ là Phật tử thực sự khi Phật tử vượt lên giới hạn của mình để nhập một với con người bằng xương bằng thịt ở khắp mọi chân trời. Chân lý bất nhị (Advaya) là nền tảng của tất cả mọi đường hướng giáo dục Phật giáo. Chân lý (satyatà) chính là bất nhị (advaya), con đường của sự thật(màrgasat), như Đức Phật đã dạy trong Kinh Lăng Già (Lankàvatàrausutra). Bất nhị là không phân biệt Phật giáo với những gì không phải là Phật giáo; Bất nhị là không phân biệt trí và Đức, Thiện và Ác, vô vi và hữu vi, tự thể và tha thể, bạn và thù, quốc gia và quốc tế.” (ngưng trích Chương 10)

.

Chương 11: Nền tảng của sự trùng phùng giữa văn hoá Đông phương và Tây phương

(Bắt đầu trích) “Chúng ta chỉ phân biệt Đông phương và Tây phương khi chúng ta đã đánh mất sự hòa điệu. Sự hòa điệu chỉ nằm tại nguồn; nơi suối nguồn, Đông phương và Tây phương không còn khác nhau, cả hai chỉ là một. Và con đường hướng về Suối nguồn duy nhất này chính là con đường "antadvayasunya" của Prajnà, mà Prajnà, chính là sự im lặng toàn triệt của tất cả mọi câu hỏi, vì tất cả câu hỏi đều bị quy định trong cơ cấu của ngôn ngữ, mà cơ cấu của mọi ngôn ngữ đều bị quy hướng trong con đường nhị phân hoặc đa phân. Trong tư tưởng Phật giáo của Nàgàr-juna thì Prajnà chính là Sunyatà mà Sun-yatà có nghĩa là "phi nhị tướng, ly lưỡng biên" tức là "không tướng" (laksanasu-nyatà) hoặc "không tự tướng"(svalaksan-astunyatà)

Chúng tôi muốn kết luận bằng một câu kệ của Long Thọ (Nàgarjuna) trong Màbhyamika-kàrikàs (Bid.Budd.IV):

Tất cả đều hòa điệu đối với kẻ nào hòa điệu với Không Tính.
Tất cả bấy hòa điệu đối với Kẻ nào không hòa điệu với Không Tính.” (ngưng trích Chương 11)

.

Và bây giờ, chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc, khi đọc tới chỗ Thầy Minh Châu viết về tư tưởng Bất Lập Văn Tự --- của Thiền Tông, và cũng là cốt tủy của Phật Giáo. Nơi đây, chúng ta trích như sau, từ Chương 4.

.

Chương 4: Vượt ra ngoài biểu tượng và ngôn ngữ

(Bắt đầu trích) “Đối với đạo Phật, con đường dẫn đến Niết bàn phải là công bình, đặt trọng tâm vào tự nguyện và sự tùy thuận của từng cá nhân không bao giờ dùng áp lực mà bắt buộc (như đại ý của Kinh Kuladanta), nhưng công bình chỉ là ý niệm, bước đầu trong đời sống tâm linh, khi đời sống tâm linh mình trở nên sâu sắc và đã giải thoát  rồi thì công bình tự nhiên xuất phát từ nhất cử nhất động của mình, công bình lúc ấy hòa nhập với trí tuệ và đối với Phật giáo, công bình  không phải xuất hiện giữa hai thực thể (chủ thể và khách thể) mà công bình phải bắt đầu ngay trung tâm điểm; trung tâm điểm ấy tức là tâm thức con người: do đó, phải cách mạng nơi tâm thức con người thì mới có thể đem đến công bình thực sự cho thế giới. Cuộc cách mạng tâm thức chỉ có thể thực hiện, khi mỗi người trong chúng ta không còn ôm giữ lấy cơ cấu ngôn ngữ và biểu tượng của tôn giáo mình và ý thức rằng Thực tại chỉ có thể thực hiện bên trong tự thể của mình thôi (Pali gọi là paccattam ve-ditabbo vinnuhi= Pratyatmyavedya). Trong quan niệm của Phật giáo, Phật giáo chỉ là Phật giáo khi Phật giáo  vượt qua chính cơ cấu ngôn ngữ và biểu tượng của Phật giáo, vì thực tại không thể nào xác định được bằng bất cứ ngôn ngữ hay biểu tượng nào (avyà krta). Niết bàn là chấm dứt tất cả mọi vọng tưởng (vikalpa), tức là phá bỏ vô minh (avidyà), phá bỏ chấp trước đeo níu (rà-ga) ác ý (dvesa) và ảo tưởng (moha). Giới (sila) Định (sammàdhi) và Tuệ (Pra-jna) là công bình trong đức hạnh, công bình trong tâm thức và công bình trong trí huệ: Niết Bàn là sự toàn thiện của Giới, Định, Tuệ.

Chỉ khi nào chúng ta không còn nô lệ vào ngôn ngữ và biểu tượng, chúng ta mới đạt được sự công bình trong Trí Huệ, công bình trong Trí cũng chính là trí huệ công bình, tức là trí huệ bình đẳng; chữ nhà Phật gọi đó là bình đẳng tánh trí; đó là trí huệ của một người vượt ra ngoài mọi quan niệm, mọi cơ cấu biểu tượng và ngôn ngữ (nivikalpajnana).

Chỉ khi nào chúng ta quan niệm nền tảng của tôn giáo như là (nivikalpajnana) nghĩa là "tri kiến thuần túy vượt ra ngoài mọi cơ cấu ngôn ngữ ý niệm" thì chúng ta mới có thể đối xử mọi tôn giáo một cách công bình và từ sự công bình của nền tảng tôn giáo, chúng ta mới có thể xây dựng công bình thế giới.” (ngưng trích Chương 4)

.

Ý chỉ Bất Lập Văn Tự

Chúng ta thử phân tích vài khái niệm trong Chương 4 vừa dẫn.

Trước tiên, là chữ “biểu tượng” – tức là, sử dụng một ký hiệu, hay một hình ảnh, hay một ký tự, hay một chữ, hay bất kỳ một cái gì để chỉ về một cái gì khác được cho là rất khó mô tả. Trong Thiền Tông, hình ảnh thường gặp nhất là dùng “ngón tay” để “chỉ trăng.” Ngón tay là biểu tượng, cần ngó theo ngón tay (dựa vào biểu tượng) mới thấy mặt trăng (thực tướng muốn thấy). Ngón tay không phải mặt trăng, biểu tượng không phải thực tướng.

Tương tự, “ngôn ngữ” chính là một hệ thống biểu tượng của một dân tộc. Thực tại chỉ có một, trong khi lại có nhiều ngôn ngữ khác nhau của nhiều dân tộc khác nhau chỉ để nói về một thực tại ở cõi này. Không có ngôn ngữ để dùng như biểu tượng, sẽ không truyền thông được, và cũng không chỉ ra được điều muốn nói hay nơi muốn tìm.
 

Kinh Viên Giác viết rằng: "Tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ. Nhược phục kiến nguyệt, liễu tri sở tiêu, tất cánh phi nguyệt. Nhất thiết Như Lai chủng chủng ngôn thuyết khai thị Bồ-tát diệc phục như thị."

Bản dịch của Thầy Thanh Tử là: "Kinh giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu thấy được mặt trăng thì biết rõ ngón tay rốt ráo không phải là mặt trăng. Tất cả ngôn giáo của Như Lai khai thị cho Bồ-tát cũng như thế."
 

Bởi vậy, Thiền Tông đã ghi lại huyền thoại Đức Phật cầm đóa hoa lên lặng lẽ trước đại chúng; lúc đó, chỉ có ngài Ca Diếp ngộ được ý chỉ, mỉm cười. Sự tích “Niêm hoa vi tiếu” này là vượt ra ngoài ngôn ngữ. Thực tướng nào được Đức Phật hiển lộ nơi đây? Đơn giản, ngài Ca Diếp nhận ra ngay đây là cái được thấy, cái lìa ngôn ngữ, lìa biểu tượng, lìa mọi ý niệm tư lường. Chỉ có Thiền Tông mới siêu vượt tất cả ngôn ngữ và biểu tượng, để rồi nói ngắn gọn là Bất Lập Văn Tự, Giáo Ngoại Biệt Truyền.
 

Thầy Thích Minh Châu trong Chương 4 cũng viết "tri kiến thuần túy vượt ra ngoài mọi cơ cấu ngôn ngữ ý niệm." Nghĩa là, nơi đây, Thầy Minh Châu nêu lên giáo lý vô niệm của Lục Tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thầy Minh Châu không mượn phương tiện Niệm thân, hay Niệm thọ, hay Niệm tâm, hay Niệm pháp… Nơi đây, Thầy đã nói trực chỉ là hãy thấy "tri kiến thuần túy vượt ra ngoài mọi cơ cấu ngôn ngữ ý niệm." Đây là Thiền Tông, đây là Tổ Sư Thiền, là lìa ngôn ngữ, là lìa ý niệm, là không mượn bất kỳ phương tiện nào.
 

Tại sao vô niệm? Chúng ta hãy thí dụ bằng hình ảnh cụ thể. Giả sử bạn đang xem truyền hình, chương trình gì đó. Giả sử, đang xem kịch. Trong khi xem kịch, bất chợt bạn khởi niệm, nghĩ tới ngày mai đóng tiền nhà, hay nghĩ tới hồi chiều quên đi chợ, hay khi thấy hình ảnh góc phố trên TV lại nhớ tới thời thơ ấu, hay khởi niệm chê diễn kịch dở hay khen kịch hay… Bất kỳ ý niệm nào khởi lên, đều làm gián đoạn việc bạn đang xem kịch, và bạn có thể mất đi một khoảng thời gian trong kịch. Đó là cái được thấy. Trong khi bạn đang thấy, hễ khởi lên bất kỳ ý niệm nào, cũng làm xen tạp vào cái được thấy, và chỉ làm phá hoại hay gián đoạn cái được thấy.
 

Bây giờ tới cái được nghe. Giả sử bạn đang nghe một ca khúc. Trong khi đang nghe, bất chợt bạn khởi niệm, nghĩ tới ngày mai đóng tiền nhà, hay nghĩ tới hồi chiều quên đi chợ, hay khi nghe một nốt nhạc quen thuộc thế là lại nhớ tới thời thơ ấu, hay khởi niệm chê hát nhạc dở hay khen nhạc hay… Bất kỳ ý niệm nào khởi lên, đều làm gián đoạn việc bạn đang nghe nhạc, và bạn có thể mất đi một khoảng thời gian trong chuỗi nốt nhạc. Đó là cái được nghe. Trong khi bạn đang nghe, hễ khởi lên bất kỳ ý niệm nào, cũng làm xen tạp vào cái được nghe, và chỉ làm phá hoại hay gián đoạn cái được nghe.

Nơi đây, Thiền Tông dẫn chúng ta về Kinh Bahiya, khi Đức Phật từ bi dạy rằng hãy để cái được thấy chỉ là cái được thấy, và hãy để cái được nghe chỉ là cái được nghe (và hiểu ngầm rằng, như Lục Tổ Huệ Năng nói, và như Thầy Minh Châu lập lại: rằng bất kỳ niệm nào khởi lên đều làm quậy sóng dòng sông thực tại).
 

Đó là hình ảnh của Thầy Thích Minh Châu đang quảng diễn pháp môn Bất Lập Văn Tự, Giáo Ngoại Biệt Truyền.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.26: https://suttacentral.net/an5.26/vi/minh_chau

(2) Kinh AN 6.46: https://suttacentral.net/an6.46/vi/minh_chau

(3) Đại Thừa và sự Liên Hệ với Tiểu Thừa: https://thuvienhoasen.org/a5928/dai-thua-va-su-lien-he-voi-tieu-thua

(4) Trước Sự Nô Lệ của Con Người: https://thuvienhoasen.org/p87a26169/truoc-su-no-le-cua-con-nguoi

 

 

 

 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Điều này anh chỉ viết, nhưng không nói rằng phải chi em là người máy để anh không phải nghe những câu hỏi về những chuyện muôn đời anh không hiểu
Chính sách đối ngoại của Mỹ gây ra nỗi lo rằng sau Tổng Thống Trump sẽ là nhiều thập niên Hoa Kỳ suy yếu vì hỗn loạn, theo nhận định của Matt K. Lewis trên tờ Los Angeles Times. Trong khi đó, nhà bình luận M A Hossain trên tờ báo Blitz nhìn từ Bangladesh, rằng quốc gia Hồi giáo này đang bị Trump đẩy vào vị trí phải chống Mỹ.
Báo Independent loan tin như thế hôm Thứ Bảy, ngày 31 tháng 1 năm 2026: Tổng thống Donald Trump được cho là hiện muốn "Vòm Độc lập" (Independence Arch”) mà ông đề xuất xây ở thủ đô Washington, D.C., cao tới 250 feet (76.2 mét), cao hơn gấp đôi chiều cao của Đài tưởng niệm Lincoln và cao hơn cả Nhà Trắng.
-- Biểu Tình Ở Los Angeles Leo Thang: Xô Xát Trước Tòa Nhà Liên Bang. -- Minneapolis Biểu Tình Lớn Chống ICE. -- ICE Âm Thầm Mua Nhiều Nhà Kho, Dựng Mạng Lưới Trại Giam Khắp Nước. -- Trump (Lại) Đề Cử Thân Tín Đứng Đầu Sở Thống Kê Việc Làm. -- Từ Đầu Tháng Hai, Không Có REAL ID Đi Phi Cơ Sẽ Tốn Thêm 45 MK. -- Đi Khám Bác Sĩ, Coi Chừng Gánh Thêm “Phí Cơ Sở”. -- Cựu Xướng Ngôn Viên CNN Don Lemon Ra Tòa Sau Vụ Biểu Tình Trong Nhà Thờ.
giả sử, một vị tăng hay ni, hay một cư sĩ, kiện một ngôi chùa ra tòa Hoa Kỳ để nói rằng chùa đã không trả lương tối thiểu cho vị này, trong khi vị này thuyết pháp hàng tuần trong mấy năm qua, và như thế là, theo người đời, vị này "bị bóc lột" theo luật lao động Hoa Kỳ. Tương tự, những vị làm công quả, làm vườn, nấu bếp trong chùa, cũng có thể kiện ban quản trị chùa để đòi lương tối thiểu nhiều năm qua không trả.
Tô phở nóng, ly trà thơm Giữa cái lạnh dưới 0 độ C của ngày Thứ Sáu 23/1, hàng hàng người dân Minneapolis đã bất chấp cái lạnh khắc nghiệt để xuống đường tuần hành, yêu cầu chấm dứt chiến dịch trấn áp nhập cư của Donald Trump tại thành phố này. Đây là một phần của phong trào phản kháng rộng lớn hơn mang tên "ICE OUT!" mà các nhà tổ chức gọi là một cuộc tổng đình công trong tiểu bang. Đây cũng là cuộc phản kháng tập thể đầu tiên sau vụ đặc vụ liên bang biên phòng (CBP) bắn chết một công dân Mỹ (thứ hai) trên đường phố, y tá Alex Pretti. Người thứ nhất là cô Renee Good.
J541. Nimi Jātaka -- Hãy tu cả bố thí và giới hạnh. Tóm tắt: Đức Phật mỉm cười, và Tôn giả Ānanda hỏi ngài lý do. Đức Phật kể lại câu chuyện về một vị vua, khi nhận thấy một sợi tóc bạc trên đầu, đã quyết định từ bỏ thế tục. Con cháu của ông cũng làm theo, và một trong số họ được đưa đến xem địa ngục và thiên đàng, và được cho biết những việc làm mà con người đã thực hiện để xứng đáng với kiếp luân hồi của mình.
-- Trump Đề Cử Kevin Warsh Lãnh Đạo FED, Thượng Viện Vướng Kẹt Ngân Sách Giờ Chót. -- Durbin Phản Pháo Vance: “Lời Lẽ Thấp Hèn, Không Xứng Danh Phó Tổng Thống”. -- Cựu Xướng Ngôn Viên CNN Don Lemon Bị Bắt Ở Los Angeles. -- Thượng Viện Đòi Bộ Trưởng Nội An Noem Ra Điều Trần Gấp. -- Washington: Hàng Chục Lãnh Đạo Tôn Giáo Bị Bắt Vì Biểu Tình Chống Chính Sách Di Trú. -- Bộ Tư pháp Mỹ công bố thêm tài liệu trong hồ sơ Jeffrey Epstein -- Trump Kiện Sở Thuế Vụ Và Bộ Ngân Khố Đòi 10 Tỉ USD Vì Lộ Hồ Sơ Thuế. -- Texas: Tạm Ngưng Cấp Visa H-1B Cho Các Cơ Quan Tiểu Bang Và Đại Học. -- Minneapolis: Hàng Loạt Công Tố Viên Đòi Từ Chức Vì Bất Bình. -- Chưa Giải Trình Xong Vụ Georgia, Gabbard Lại Xuất Hiện Trong Họp Bầu Cử Toàn Quốc. -- Massachusetts: Dự Luật Ngăn Vệ Binh Quốc Gia Tiểu Bang Khác Tự Ý Vào Địa Phận. -- Cộng Hòa Đòi Bỏ Phiếu Đuổi Nữ DB Florida Vì Nghi Án Rửa Tiền 5 Triệu MK. -- Tòa Bạch Ốc Chê Ca Khúc Mới Của Danh Ca Bruce Springsteen “Tầm Phào”...
Là một thành viên của Little Saigon San Diego (LSSD), tôi luôn tin rằng việc giữ gìn không gian văn hóa sạch đẹp chính là cách thể hiện tình yêu thương dành cho các thế hệ đi trước, cho cộng đồng doanh nghiệp và cho thế hệ mai sau. Hôm nay, niềm tin đó đã trở thành một cam kết chính thức. Little Saigon San Diego tự hào được công nhận là Cộng đồng California Sạch. Danh hiệu này không chỉ đơn thuần là một danh xưng. Nó khẳng định điều mà cộng đồng chúng ta từ lâu đã biết: chăm sóc khu phố của mình chính là một hành động gìn giữ và bảo tồn văn hóa. Chúng tôi không chỉ giúp dọn dẹp khu phố, mà chúng tôi còn giúp gìn giữ một ngôi nhà văn hóa.
Tổng thống Donald Trump đang tìm cách mở rộng quyền lực của hành pháp trên một trong những nền tảng tưởng như vững chắc nhất của hệ thống pháp lý Hoa Kỳ: quyền công dân. Trở lại Tòa Bạch Ốc với chương trình siết chặt di dân, ông không chỉ đẩy mạnh trục xuất và hạn chế nhập cư mới, mà còn nhắm thẳng vào những người đã là công dân Mỹ bằng con đường nhập tịch, đặt lại câu hỏi: ai mới thật sự được coi là “người Mỹ”.
14 tháng 1 năm 2026. Ông Trump tin rằng người di dân từ 75 quốc gia này có khả năng sẽ phụ thuộc vào các phúc lợi công cộng như trợ cấp xã hội, nhà ở, tem phiếu thực phẩm và chăm sóc y tế. Tuy nhiên hạn chế mới này đã bỏ qua thực tế rằng tất cả những người di dân đều phải có người bảo trợ tài chính trước khi đến Hoa kỳ. Chính quyền TT Trump đang tạm dừng duyệt xét chiếu khán di dân cho người dân từ 75 quốc gia. Tại Đông Nam Á, một số quốc gia bị ảnh hưởng là Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia. Hiện tại, danh sách này KHÔNG bao gồm Việt Nam. Do đó, việc duyệt xét tất cả các loại chiếu khán vẫn tiếp tục như bình thường tại Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tổ chức American Academy of Pediatrics (AAP) vừa công bố hướng dẫn chích ngừa cho trẻ em trong năm 2026, đánh dấu lần rạn nứt lớn đầu tiên với chính phủ liên bang về lịch chích ngừa sau gần 30 năm thống nhất. Theo AAP, trẻ em Hoa Kỳ vẫn cần được chích ngừa để phòng ngừa 18 loại bệnh nguy hiểm, trong đó có Covid-19, cúm mùa, viêm gan A và B, sởi, RSV và một số bệnh truyền nhiễm khác. Hướng dẫn này đi ngược lại quyết định mới của Centers for Disease Control and Prevention (CDC), vốn đã cắt giảm lịch chích ngừa chính thức từ 18 bệnh xuống còn 11 bệnh kể từ đầu tháng Giêng.
Dưới mái chợ Bến Thành giữa trung tâm Sài Gòn, dòng người chen vai mua sắm trong không khí nóng ẩm. Giữa những quầy khăn lụa và móc khóa in biểu tượng cộng sản, Wang Xuan – một du khách Trung Quốc – thong thả dạo bước, tay cầm ly nước dứa ép tươi. Thay vì co ro trong cái lạnh Bắc Kinh, cô chọn Việt Nam cho chuyến đi cuối năm, tự lên kế hoạch qua điện thoại, đặt phòng trên Klook và tìm gợi ý du lịch qua Xiaohongshu.
Nhà leo núi người Mỹ Alex Honnold vừa hoàn tất một trong những thử thách nguy hiểm nhất sự nghiệp: leo lên đỉnh tòa nhà Taipei 101 cao 1.667 feet (hơn 500 mét) tại Đài Bắc mà không dùng bất kỳ sợi dây hay thiết bị bảo hộ nào. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử có người “free solo” toàn bộ công trình mang tính biểu tượng này. Cuộc leo diễn ra ngày 25 tháng 1 năm 2026, sau khi phải hoãn một ngày vì mưa. Từ chân tháp lên tới đỉnh chóp, Honnold mất khoảng 90 phút. Anh leo dọc theo một góc tòa nhà, dùng tay và chân bám vào các gờ kim loại, dầm thép và kết cấu bên ngoài. Trên người chỉ có áo thun đỏ, quần đen, giày leo màu vàng và một túi phấn nhỏ đeo ở thắt lưng để làm khô tay khi cần.
Cá mập Greenland là loài động vật có xương sống sống lâu nhất từng được biết tới. Chúng cư ngụ dưới những vùng biển sâu, lạnh buốt của Bắc Cực và Bắc Đại Tây Dương, có con được ước đoán sống tới gần bốn trăm năm. Vì sống cả đời trong bóng tối và thường mang ký sinh trùng ở mắt, từ lâu người ta cho rằng loài cá này hầu như không còn thị lực. Một nghiên cứu mới công bố ngày 5 tháng 1 trên tạp chí Nature Communications cho thấy nhận định đó không đúng. Các nhà khoa học phát hiện cá mập Greenland vẫn giữ được thị lực khá tốt, nhờ những cơ chế đặc biệt giúp bảo vệ và sửa chữa DNA trong mắt, ngay cả sau nhiều thế kỷ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.