Hôm nay,  

Đọc “Zen Poems from Early Vietnam”: Bản dịch Thơ Thiền Lý – Trần

26/05/202214:29:00(Xem: 6379)

Đọc “Zen Poems from Early Vietnam”:

Bản dịch Thơ Thiền Lý – Trần

Nguyên Giác

 
blank 

Nhan đề sách là “Thơ Thiền Lý-Trần – Zen Poems From Early Vietnam” (sẽ viết tắt là “Tuyển tập”). Đây là một tuyển tập dịch 30 bài thơ Thiền thời Lý – Trần. Tuyển tập thơ dịch này viết trong ba ngôn ngữ: thơ Thiền thời Lý – Trần viết trong chữ Hán, được chuyển dịch sang tiếng Việt của những năm đầu thế kỷ 21, và rồi được dịch sang tiếng Anh. Tuyển tập thực hiện rất mực công phu, vừa có tính uyên bác của những người nghiên cứu, vừa có nét đẹp thi ca được ghi trong ba ngôn ngữ, và là sự hợp tác thơ mộng của nhà thơ Nguyễn Duy với hai dịch giả nổi tiếng Nguyễn Bá Chung và Kevin Bowen. Cũng hy hữu như thế cho tuyển tập: Lời Tựa (Foreword) của Giáo sư Lê Mạnh Thát nơi các trang 7-12 của sách. Cũng do một duyên kỳ ngộ, người viết trong mấy tuần qua có được một ấn bản sách này, sau khi Tuyển tập đã phát hành từ 17 năm về trước. Sách in năm 2005 với 2.000 ấn bản, sách khổ vuông 10 inches (25,4 centimeters) mỗi chiều, dày 146 trang, bìa dày, giấy có hoa văn, phát hành tại Sài Gòn.
 

Tuyển tập rất chọn lựa, tất cả những người liên hệ tới sách này đều là những người nổi tiếng trong giới văn học. Tổng cộng là 30 bài thơ sáng tác của những vị cột trụ Thiền Tông Việt Nam như Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Vạn Hạnh, Thường Chiếu… cho tới của một số cư sĩ thấm nhuần ý Thiền của khoảng một thiên niên kỷ trước. Nhìn theo thời gian, tất cả 30 tác giả trong thi tập trải dài từ năm 915 (năm sinh của Thiền sư Pháp Thuận, người có bài thơ đầu Tuyển tập) cho tới năm 1390 (năm từ trần của Trần Nguyên Đán, người thứ 30 trong tuyển tập).
 

Nếu có ai hỏi, người viết ưa thích bài nào trong tuyển tập, hẳn là không trả lời nổi. Tất cả thơ Thiền thời Lý-Trần có thể nói là từ các bậc đại ngộ, từ những vị đi đứng nằm ngồi đều tương ưng với pháp tánh, đều luôn nhìn thấy lý duyên sinh hiển lộ trước mắt không nhầm lẫn, nên chữ nghĩa chỉ là mượn ngón tay mà chỉ trăng, đời thường nếu thuần vin vào chữ sẽ ngộ nhận.
 

Riêng bài Lời Tựa của Giáo sư Lê Mạnh Thát cũng là bản tóm tắt, ghi lại một số khám phá cổ sử, trong đó cho thấy Phật Giáo đã tới Việt Nam từ thời các vua Hùng Vương, tức là thế kỷ thứ 2 hay 3 trước Tây lịch, với hai Phật tử đầu tiên rất nổi tiếng: Chử Đồng Tử và Công Chúa Tiên Dung. Nghĩa là, Phật Giáo vào Việt Nam trước khi tới Trung Hoa. Và khi quân Trung Hoa tấn công Việt Nam trong thế kỷ thứ 1, chính các Ni sư đã trở thành các vị tướng tụ tập dân làng đi theo Hai Ba Trưng ra trận, và có khoảng 8 vị Ni sư còn được người dân dựng đền thờ tưởng niệm nơi các tỉnh phía Bắc.
 

Trong Tuyển tập, sau mỗi bài thơ chữ Hán của cổ đức, là phần dịch nghĩa bằng văn xuôi, rồi dịch thành thơ lục bát, và phần dịch nghĩa và thơ đều được dịch sang tiếng Anh. Do vậy, với 30 bài thơ Hán tự của các Thiền sư Lý-Trần, nhà thơ Nguyễn Duy dịch 18 bài sang thơ lục bát, GS Nguyễn Bá Chung dịch 6 bài sang thơ lục bát, và hai người cùng dịch chung 6 bài còn lại sang thơ lục bát. Tất cả đều ghi lại thành thơ lục bát, nơi tự vần điệu đã có hồn dân tộc. Phần dịch sang tiếng Anh do hai Giáo sư Nguyễn Bá Chung và Kevin Bowen thực hiện. Cả ba vị thực hiện đều là những cổ thụ trong lĩnh vực riêng.
 

Thơ Thiền để lại cho đời sau đều là những bài pháp tuyệt diệu. Hầu hết đều chỉ thẳng vào các pháp ấn. Đời sau hiểu được sẽ thấy được thực tướng các pháp, từ nơi đó sẽ biết cách an tâm, xa lìa lậu hoặc. Khi trước mắt và bên tai hiển lộ minh bạch lý duyên khởi, tự nhiên không còn bận tâm chuyện Có với Không, chuyện Hữu với Vô, chuyện Sắc với Không, thì tham sân si sẽ rơi rụng y hệt như giấc mộng đêm qua.
 

Nếu có bạn nào nói, vì không có thì giờ, xin chọn giùm một bài thơ điển hình nào để tu học, thì người viết xin phép dẫn ra bài thơ của Thiền sư ni Diệu Nhân (1041-1113) nơi các trang 46 tới 49 trong Tuyển tập. Bài thơ nhan đề Thị Tịch Kệ, gồm 2 đoạn, mỗi đoạn 4 dòng, và mỗi dòng gồm 4 chữ. Ngài Diệu Nhân cũng là vị Tổ Sư Ni của Thiền Tông Việt Nam. Như thế, bài thơ dài 8 dòng như sau.
 

Thị Tịch Kệ
Sinh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cần xuất ly
Giải phược thiêm triền
.
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu Thiền
Thiền Phật bất cầu
Đỗ khẩu vô nghiên (ngôn).
(Tuyển tập, trang 46)
 

Nguyễn Duy dịch nghĩa, nơi trang 48, như sau.
 

Bài Kệ Đọc Lúc Mất
Sinh, già, bệnh, chết
Tự cổ xưa là lẽ thường
Muốn cầu thoát khỏi
Càng cởi trói thì càng buộc thêm
.
Vì mê nên cầu Phật
Vì lầm nên cầu Thiền
Thiền Phật chẳng cầu
Mím miệng ngồi lặng im.
 

Nguyễn Duy dịch thơ, trang 48, như sau.
 

Bài Kệ Đọc Lúc Mất
Sinh, già, bệnh, chết… thế thôi
Xưa nay vẫn vậy, lẽ đời tự nhiên
Cầu cho siêu thoát về tiên
Càng cầu càng trói buộc thêm phận người.
.
Vì lầm cầu Phật… thế thôi
Cầu Thiền bởi trót mê lời u mê
Cầu Thiền cầu Phật mà chi
Ngồi im chả nói năng gì là hơn.
 

Nơi đây, chúng ta lược bỏ phần dịch nghĩa tiếng Anh, chỉ ghi phần dịch thành thơ tiếng Anh do Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung thực hiện, như sau.
 

Farewell Advice to Disciples
Birth, old age, sickness, death
We can never escape them
The more we fight
the more their nets tangle.
.
In confusion we chase after Buddha
In error we seek the Way of Zen
Seek neither the Way nor the Buddha.
Lips pursed, say nothing.
 

Nơi đây nghiệm ra, thể thơ 4 chữ đọc như tụng kinh. Khi Nguyễn Duy chuyển thành thơ lục bát, âm điệu trầm bổng hơn, tự nhiên như lời ru tiếng hát trên những cánh đồng quê nhà. Rồi khi dịch sang tiếng Anh, ý Thiền không bị trôi lạc. Rất minh bạch ý Thiền: càng cầu càng xa, càng tìm càng lạc. Trong bài thơ lục bát, có một chữ cần ghi chú: chữ “tiên” không nên hiểu là một cõi nào của Lão Giáo, chỉ nên hiểu theo truyền thống truyện cổ tích Việt Nam: cõi “tiên” là thoát khổ, bởi vì trong truyện cổ tích Việt, trong nhiều truyện, Đức Phật được dân gian hóa để trở thành một Ông Bụt hiền lành, nơi một cõi tiên trên núi hoặc trên mây.
 

Bài kệ này là lời dạy của Ni sư Diệu Nhân về pháp ấn vô thường. Chúng ta có thể nhớ rằng sinh, già, bệnh, chết là lẽ vô thường. Đức Phật nhiều lần dạy rằng tất cả pháp hữu vi đều vô thường, là khổ, là bất như ý, rằng cần phải thường trực nhìn thấy vô thường đang chảy xiết qua thân tâm mình, còn gọi là nhìn thấy vô thường chảy xiết qua sắc-thọ-tưởng-hành-thức của mình. Đức Phật dạy phải thấy mắt là vô thường, cái được thấy là vô thường, tai là vô thường, cái được nghe là vô thường… tương tự phải thấy như thế, với toàn thân tâm mình. Cảm nghiệm được vô thường trôi chảy xiết qua thân tâm mình thì sẽ thấy vô ngã, sẽ thấy không có cái ngã nào hết.
 

Lời dạy trong bài kệ của Ni sư Diệu Nhân có thể hiểu rằng với người cảm nghiệm trận gió vô thường đang chảy xiết qua thân tâm mình thì sẽ thấy không có cái ngã nào bị trói để phải cầu xin cởi trói. Nhìn thấy thường trực pháp ấn vô thường thì sẽ thấy rằng không có Phật nào để phải cầu, không có Thiền nào để tìm, vì chính cái thường trực nhận biết và cảm nghiệm pháp ấn vô thường thực sự đã lìa tham sân si, và đó là trí tuệ giải thoát. Các Thiền sư thời xưa diễn ý này bằng chữ mạnh hơn, như “Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ,” bởi vì khi sống với cái hiện tiền, với cái ở đây và bây giờ, thì sẽ thấy tất cả những cái ngày hôm qua chết đi, cho dù đó là Phật hay Tổ. Với người cảm nghiệm thường trực trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình thì sẽ không thấy có ngôn ngữ nào để nói, vì tất cả ngôn ngữ đều là những sản phẩm của nhiều ngàn ngày hôm qua. Còn cái làn gió vô thường được cảm nghiệm là cái rất mới, là cái luôn luôn tự mới, là cái hiện tiền, là cái vừa mới sinh là tự diệt độ, là cái liên tục chưa từng được biết, là cái xa lìa ngôn ngữ, là cái không tên, là cái không hình tướng. Do vậy, thấy thường trực vô thường tức là thấy tịch diệt tướng hiện tiền, tức là thấy Niết Bàn. Do vậy, đó cũng là nghĩa vô ngôn, là nghĩa tịch lặng cảm nghiệm vô thường. Bất đắc dĩ mới mượn chữ để trình bày. Cảm nghiệm thường trực vô thường như thế sẽ thấy, như bản Anh dịch viết, “The more we fight, the more their nets tangle.”  Hai dịch giả Nguyễn Bá Chung và Kevin Bowen đã dịch rất sát nghĩa, rất minh bạch, hiển nhiên là sẽ giúp được giới trẻ muốn tìm hiểu về thơ Thiền, ý Thiền của cổ đức Lý-Trần. Bất kỳ ai cảm nghiệm thường trực vô thường, tức là thấy các pháp tịch diệt liên tục từng khoảnh khắc, cũng sẽ thấy hoàn tất Tứ Diệu Đế, vì thấy các pháp sinh liên tục, tức là thấy Khổ Đế (thấy bất như ý, thấy không thể hài lòng), cũng liền thấy ngay Tập Đế (tức nguyên nhân của khổ, tức là khi thấy pháp sinh mà khởi tâm níu kéo tham ái), cũng liền thấy ngay Diệt Đế (thấy các pháp tịch diệt, vắng lặng, an vui), cũng liền nhận ra Đạo Đế (con đường thoát khổ, khi lìa tâm níu kéo tham ái)…  
 

Chúng ta sẽ thấy mỗi bài thơ trong Tuyển tập cũng nói lên được phong cách riêng của từng vị Thiền sư thời Lý-Trần. Trong khi Thiền sư Ni Diệu Nhân dạy vào cửa bằng pháp ấn vô thường, ngài Lý Thái Tông (1000-1054) dạy vào cửa bằng pháp ấn vô ngã. Bài thơ “Thị Chư Thiền Lão Tham Vấn Thiền Chỉ” của nhà vua họ Lý ở trang 26 của Tuyển tập, bản Việt dịch của GS Nguyễn Bá Chung ở trang 28, bản Anh dịch ở trang 29. Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn, chỉ thẳng rằng phải thấy “không người” và cũng “không ta” – và như thế là thấy chung một Pháp tính -- như sau.
 

Bát nhã chân vô tông
Nhân không ngã diệc không
Quá, hiện, vị lai Phật
Pháp tính bản tương đồng.
 

Bản dịch theo thể thơ lục bát “Trả Lời Các Thiền Lão về Yếu Chỉ Thiền” của GS Nguyễn Bá Chung như sau.
 

Bát nhã chả thuộc tông nào
Lối người không, lối ta vào cũng không
Phật thời quá, hiện, mai, đồng
Bao la một trái tim hồng cổ kim.
 

Nơi dòng thứ ba trong bài dịch thơ vừa dẫn, nên hiểu là ba đời chư Phật của quá khứ, hiện tại, vị lai. Bản Anh dịch “Response To the Old Masters On the Fundamental Point of Zen” của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung như sau.
 

The Mindful Wisdom belongs to no school


Neither “I” nor “Not I.”
The Buddhas of past, present, and future
Share the same heart.
 

Cũng nên thấy rằng chữ “Not I” trong câu thứ nhì có nghĩa là người khác, tức là tha nhân. Chúng ta quen với cách nói: không ta, không người. Nơi đây 2 dịch giả nơi câu thứ nhì cho thấy thêm một nghĩa khác, nghĩa tương liên giữa “ta” (tự ngã) và “không ta” (không phải tự ngã) và chiếu rọi vào bằng ánh sáng của Bát Nhã. Trong cách lý luận, Đức Phật thường tách rời từng phần để nói rằng trong cái được chấp là thân tâm là gồm “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” rồi Đức Phật nói từng phần rằng sắc là vô ngã, rằng thọ là vô ngã… Có một lý luận thường được Đức Phật nhắc tới để nói lý vô ngã là cũng như nghe tiếng nhạc, vốn là do nhiều nhân duyên hòa hợp mà thành (từ gỗ rừng, thợ rừng chặt xuống, cưa rồi đóng thành cây đàn, trong khi người chơi nhạc phải học đàn nhiều năm…) thế rồi có chẻ cây đàn làm trăm mảnh cũng không thấy tiếng đàn ở đâu. Có một đối chiếu khác: không ai có thể chỉ ra cái gì là cỗ xe, trong khi có thể thấy cỗ xe chỉ là hợp thể của mui xe, càng xe, bánh xe, căm xe, vân vân.
 

Trong Kinh SN 5.10, Ni sư Vajirà trả lời Ác ma bằng bài kệ giải thích về lý vô ngã, rằng không hề có cái gì gọi là chúng sanh, rằng không hề có cái gì gọi là chiếc xe mà chỉ có tên xe thôi, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Sao Ông lại nói hoài, / Đến hai chữ chúng sanh? / Phải chăng, này Ác ma, / Ông rơi vào tà kiến? / Đây quy tụ các hành, / Chúng sanh được hình thành, / Như bộ phận quy tụ, / Tên xe được nói lên. / Cũng vậy, uẩn quy tụ, / Thông tục gọi chúng sanh. / Chỉ có khổ được sanh, / Khổ tồn tại, khổ diệt, / Ngoài khổ, không gì sanh, / Ngoài khổ không gì diệt." (1)
 

 Nghĩa là, không hề có cái gì gọi là “ta” hay “người” hay “chúng sanh” và hễ thấy là có, tức là rơi vào tà kiến. Cũng y như “cái xe” cần phải thấy với chính kiến là “không hề có xe” nào cả, do vậy thân tâm chỉ là một khối lung linh nơi các uẩn quy tụ, và trong thực tướng không gì sanh, không gì diệt. Lấy thí dụ tiếng đàn nêu trên, trong thực tướng vô ngã (chân đế), không hề có tiếng đàn nào sinh ra, không hề có tiếng đàn nào diệt đi, chỉ có trong thế giới quy ước (tục đế). Hễ nghe tiếng đàn, nhận ra thế gian thường trụ tịch diệt tướng, tức là Niết bàn hiển lộ. Do vậy, bất kỳ ai, hễ thường trực thấy vô ngã là đã tức khắc hoàn tất Tứ Diệu Đế, vì khi thấy pháp sinh khởi là thấy Khổ Đế (thấy bất như ý, thấy không hài lòng)… tương tự, lý luận như phần nói trên về pháp ấn vô thường.
 

Lời dạy trong Kinh SN 5.10 nhiều thế kỷ sau được ghi lại qua văn phong rất mực mãnh liệt của Ngài Long Thọ, với bản dịch của Thầy Thiện Siêu (Trung Luận, phẩm Nhân Duyên, bài Kệ 1): "Chẳng sinh cũng chẳng diệt, / Chẳng thường cũng chẳng đoạn, / Chẳng một cũng chẳng khác, / Chẳng đến cũng chẳng đi."

Bài thơ của Ngài Lý Thái Tông tuyệt vời hay, các bản Việt dịch và Anh dịch cũng tuyệt vời xuất sắc, làm lợi cho rất nhiều người.
 

Trong dòng lịch sử Thiền Tông Việt Nam, một nhân vật thường được nhắc tới là Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), cũng là người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm. Bài phú thường được nhắc tới trong Thiền Tông là bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, do ngài Trần Nhân Tông sáng tác, trong đó bốn dòng thơ cuối bài phú thường được trích ra và thường được đặt tên cho gọn là Cư Trần Lạc Đạo.
 

Trong Tuyển tập, bài thơ Cư Trần Lạc Đạo ở trang 103, bản Việt dịch của nhà thơ Nguyễn Duy ở trang 104, bản Anh dịch của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung ở trang 105. Trong khi bài thơ “Thị Tịch Kệ” của Ni sư Diệu Nhân dạy vào cửa bằng pháp ấn vô thường, bài thơ “Thị Chư Thiền Lão Tham Vấn Thiền Chỉ” của Lý Thái Tông dạy vào cửa bằng pháp ấn vô ngã, bài thơ “Cư Trần Lạc Đạo” của Trần Nhân Tông sẽ dạy vào cửa bằng cách nhận ra pháp ấn Không, tức là nhận ra bản tâm vốn là Tính Không, cũng gọi là Thấy Tánh. Bản phiên âm Hán tự nơi trang 103 như sau.
 

Cư Trần Lạc Đạo
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
 

Sau đây là bản dịch nghĩa và dịch thơ của Nguyễn Duy, trang 104.
 

Sống Đời Vui Đạo
Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác.
Đối diện với mọi cảnh giới mà vẫn vô tâm, thì cần chi hỏi thiền nữa.

.

Sống Đời Vui Đạo
Sống đời vui đạo tùy duyên
Đói thì ăn mệt ngủ liền sá chi
Nhà ta châu báu thiếu gì
Vô tâm với cảnh, biết khi nào thiền.
 

Và sau đây là bản Anh dịch của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung, nơi trang 105.
 

Joyful Practice
Living in the world, practice quietly with joy.
When hungry eat. When tired sleep.
Don’t look for it elsewhere, the jewel lies within.
An empty mind facing the world, what use is Zen?
 

Bài thơ vừa dẫn thường được tóm tắt bằng câu cuối cho dễ nhớ, “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền,” rằng trước tất cả những cảnh xao động thăng trầm được mất thắng thua, lúc nào cũng vô tâm (tâm tỉnh thức và tịch lặng) thì không cần gì phải hỏi về các Thiền pháp nữa. Sáu thế kỷ sau, bài thơ vừa dẫn của ngài Trần Nhân Tông được trình bày bằng ngôn phong khác của Hòa thượng Thích Phước Hậu (1866 - 1949) qua bài thơ sau.
 

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay tính lại đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như
.
 

Bài thơ chữ Như này cũng là bài thơ chỉ pháp Thấy Tánh. Tất cả đều bắt nguồn từ Kinh Bahiya (Bahiya Sutta - Ud 1.10) và Kinh Malunkyaputta (Malunkyaputta Sutta - SN 35.95). Trích Kinh Ud 1:10 như sau: “Thế này, Bahiya, ông nên tu tập thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya."
 

Nơi đây, có thể hình dung như thế này: giả sử, chúng ta đang xem một trận bóng đá gay cấn trên màn hình TV. Tất cả những cái được thấy là hình ảnh sân cỏ, hình ảnh các vận động viên của hai đội tuyển, hình ảnh quả bóng chuyển động trên sân, hình ảnh khán giả ngồi chung quanh sân vận động. Tất cả những cái được thấy chuyển động từng khoảnh khắc. Chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả hình ảnh đó chuyển động trên một nền tảng là Tính Không Bất Động, nên mới có thể thay đổi hình ảnh xanh đỏ trắng vàng, mới có thể thay đổi hình ảnh chạy nơi này nơi kia tranh bóng. Nếu không có nền tảng Tính Không đó, tất cả hình ảnh không thể chuyển biến sôi động như thế, Và, giả sử, bất chợt, vì lý do gì đó, làn sóng trên nhà đài bị mất khoảng nửa phút hay một phút, tất cả những cái được thấy trở thành màn hình đen của máy TV. Cái được thấy lúc đó là màn hình TV đen hay xám, chớ không hề mất đi cái Tánh Thấy. Nghĩa là, Tánh Thấy không hề biến mất, dù là làn sóng TV mất điện hay gì đó. Nhận ra cái bất động tâm đó, thì sẽ không còn bận tâm [tham ái] níu kéo hình ảnh nào của những cái được thấy. Và nhận ra, Tính Không đó, chính là cái Như Thị hiển lộ trước mắt. Nghĩa là, chúng ta trở thành biển, mà không còn là sóng nữa.
 

Tương tự, khi chúng ta nghe một ca khúc, trên làn sóng TV. Làn điệu lúc cao, lúc thấy, lúc yểu điệu, lúc mạnh như giông bão, lúc dịu dàng như gió mùa xuân. Tất cả các âm thanh đó (những cái được nghe) hiển lộ bên tai chúng ta là vì chuyển động trên một nền tảng là Tính Không Bất Động, nên mới có thể thay đổi lúc trầm, lúc bổng. Giả sử có lúc TV mất điện, hay nhà đài bất chợt tắt sóng khoảng một hay hai phút, những cái được nghe không còn là tiếng nhạc, nhưng rằng chúng ta đang nghe cái tịch lặng khi TV im tiếng. Nghĩa là, Tánh Nghe không hề biến mất, dù là làn sóng TV mất điện hay gì đó. Nhận ra cái bất động tâm đó, thì sẽ không còn bận tâm [tham ái] níu kéo âm thanh nào của những cái được nghe. Và nhận ra, Tính Không đó, chính là cái Như Thị hiển lộ bên tai. Nghĩa là, chúng ta trở thành biển, mà không còn là sóng nữa. Thiền Tông còn gọi đây là ngộ nhập Tính Không, hay là nhận ra pháp ấn Không.
 

 Nơi đây, chúng ta vừa dẫn ra ba bài thơ điển hình của Thiền Tông Việt Nam, cho thấy ba cửa trực chỉ, ba cửa đốn ngộ, khi trực nhận pháp ấn Vô thường, Vô ngã, Không. Tuy nói là trực chỉ và đốn ngộ, nhưng dù ngộ được lý, sau đó cũng cần phải dày công tu tập – tức là, ngộ trước, rồi tu sau -- nhưng cả ba cửa này đều không gọi là tu tập, vì xa lìa tất cả phương tiện, còn gọi là không cửa vào, vì bản tâm không thể nào mài giũa. Chỉ là, khi tâm tương ưng với các pháp ấn, thì đó là bản tâm vốn lìa tham sân si.
 

Nhiều bài thơ khác trong Tuyển tập cũng có nhiều lý đạo, cũng là những lời dạy an tâm trong truyền thống Thiền Tông Việt Nam. Mỗi bài thơ và mỗi bản dịch đều mở ra một chân trời đạo lý và nghệ thuật. Rất khó để nói bài thơ nào hay hơn bài thơ nào. Trong Tuyển tập, có những bài thơ tuyệt tác mà người viết trước giờ vẫn ưa thích đặc biệt, như bài thơ “Tầm Hưởng” của Thiền sư Minh Trí (? – 1196) nơi các trang 78-81, hay bài thơ “Ngẫu Tác” của Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230-1291) nơi các trang 94-97. Các bản Việt dịch và Anh dịch trong Tuyển tập  đều tuyệt vời, cực kỳ xuất sắc.
 

Nói ngắn gọn, Tuyển tập là một công trình lớn của cả ba vị: Nguyễn Duy, Nguyễn Bá Chung, Kevin Bowen. Hy hữu mới làm được tác phẩm lớn như thế, và Tuyển tập sẽ giúp được cho rất nhiều độc  giả quan tâm về Thiền Tông và văn học thời Lý-Trần. Tuy nhiên, có một lỗi trong sách, đó là trang 61, nhà in đã in nhầm, nên để sót bản dịch tiếng Anh của bài thơ “Ngôn Hoài” của Ngài Không Lộ. Sách có kèm theo một tờ rời để in bản Anh dịch “Reflection Revealed” của bài thơ.
 

Thôi thì, lỗi in sót nơi trang 61 cũng là một nhắc nhở của Khổ Đế vậy. Dù vậy, lỗi in sót quá nhỏ, so với một công trình văn học quá lớn, quá công phu. Công đức chuyển dịch sang.thơ tiếng Việt và tiếng Anh hiển nhiên là không thể nghĩ bàn. Vô lượng công đức vậy.

NGUYÊN GIÁC
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 5.10: https://suttacentral.net/sn5.10/vi/minh_chau

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
nhờ các chương trình khuyến mãi và giảm giá, hoạt động mua sắm bán lẻ trong kỳ nghỉ lễ đã tăng 3,8% trong năm nay so với năm ngoái. Theo tờ Washington Post, phát hiện này vượt xa dự báo của Mastercard và Liên đoàn Bán lẻ Quốc gia (National Retail Federation). Mastercard SpendingPulse đã đo lường doanh số bán hàng trực tuyến và tại cửa hàng, bao gồ
Hãy thấy ngay rằng tất cả các pháp đều vô ngã. Khi chùm bọt sóng của thân tâm này tan, sẽ không có chùm bọt sóng nào trở lại y hệt. Hãy thấy dòng chảy xiết của vô thường nơi thân, tâm, và thế gian. Tất cả đều đang chảy xiết trong thời gian vô tận, như điểm tiếp giáp xoay không ngừng của hạt đậu nhỏ trên đầu mũi kim. Hãy luôn luôn nhớ lời Tuệ Trung Thượng Sỹ dạy rằng, hãy thấy thân tâm tan rã từng khoảnh khắc, như con trâu bùn đang lội qua sông.
Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đang chuẩn bị trở thành chiến trường cho các vấn đề về tài trợ, sự đa dạng, người nhập cư dưới thời tổng thống đắc cử Donald Trump. Trong chiến dịch tranh cử của mình, ông Trump đề cập đến việc chấm dứt Bộ Giáo dục Hoa Kỳ; cắt giảm tài trợ của liên bang cho các trường công, đặc biệt là những trường duy trì chính sách đa dạng, công bằng và hòa nhập (DEI). Ông cũng tuyên bố sẽ đảo ngược ngược Đạo luật IX, một luật cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính đã được mở rộng dưới thời Biden.
Biến đổi khí hậu là có thật. Thiên tai diễn ra ngày càng thường xuyên hơn, khắc nghiệt hơn. Riêng ở tiểu bang California, trong những năm qua, bên cạnh động đất, người dân chứng kiến nạn cháy rừng, mưa lũ ngày càng nhiều. Câu hỏi đặt ra là chính quyền và người dân California đã và đang chuẩn bị đối phó với thiên tai ra sao?
Tổng thống đắc cử Donald Trump đã hứa sẽ cho khai thác nhiên liệu hóa thạch trở lại trong những năm tới, bởi vì ông không tin vào biến đổi khí hậu. Chính sách này hoàn toàn ngược lại với những nỗ lực bảo vệ môi trường mà chính quyền Biden đã thực hiện. Nước Mỹ đang loay hoay, mất định hướng trong vấn đề cứu địa cầu trước những thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt mà người dân Mỹ đang phải gánh chịu trong vài năm qua. Có vẻ như Hoa Kỳ là quốc gia phát triển duy nhất trên thế giới không thể có một chính sách nhất quán về vấn đề nguồn nhiên liệu cho tương lai. Những quốc gia công nghiệp khác, trong đó có Nhật Bản, vẫn giữ vững nguyên cam kết về vấn đề bảo vệ môi trường. Một bài viết đăng trên washingtonpost.com đã tóm tắt nỗ lực của xứ sở hoa anh đào trong việc tận dụng nguồn năng lượng gió và mặt trời thông qua một công nghệ mới: ‘flow battery’ (pin dòng chảy). Câu chuyện được Washington Post kể xảy ra tại Hokkaido, hòn đảo phía Bắc của Nhật Bản.
Ở các thành phố lớn thuộc các tiểu bang đông dân cư như California, ngày càng có nhiều các khu nhà dạng chung cư được xây dựng bên cạnh các khu vực thương mại, cửa hàng mua sắm, nhà hàng. Trong tình trạng giá nhà ở Mỹ, đặc biệt là ở California, vẫn có khuynh hướng tăng bất chấp tình hình kinh tế không ổn định, có vẻ như nhà ở dạng chung cư cao tầng là giải pháp của tương lai thị trường địa ốc. Điều ngày có đồng nghĩa với việc người Mỹ ngày nay có khuynh hướng thích sống ở những khu cư dân tập trung?
NASA đang hướng tới một bước tiến vĩ đại trong sứ mệnh không gian: đưa con người đặt chân lên Hỏa tinh vào những năm 2030. Tuy nhiên, hành trình kéo dài 21 tháng này đặt ra vô vàn thách thức, đặc biệt là giữ cho các phi hành gia khỏe mạnh và an toàn trong suốt chuyến đi dài như vậy. Vì thế, các khoa học gia đang nghiên cứu một giải pháp từng bị coi là bất khả thi: ngủ đông (hibernation).
Quý vị có tin rằng không phải tất cả tế bào thần kinh đều nằm trong hộp sọ của chúng ta? Nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature đã cho thấy một phát hiện đáng kinh ngạc: trong ruột của chúng ta có các tế bào thần kinh chuyên biệt! Các khoa học gia tại Viện Công nghệ California (Caltech) đã phát hiện ra hai loại tế bào thần kinh khác nhau trong ổ bụng của chuột, dường như có vai trò kiểm soát các khía cạnh khác nhau của quá trình tiêu hóa. Nghiên cứu này làm sáng tỏ vai trò của các cụm tế bào thần kinh trong cơ thể đối với mối liên kết ruột-não, hệ thống giao tiếp hai chiều phức tạp giữa não bộ và hệ tiêu hóa.
Vào tháng Tư năm nay, một nhóm các khoa học gia và kỹ sư đã thực hiện một chuyến bay trên vùng trời phía bắc Greenland để thử nghiệm tính năng của một thiết bị radar tiên tiến. Khi đang cách Căn cứ Không gian Pituffik khoảng 150 dặm về phía đông, Chad Greene, khoa học gia thuộc phòng thí nghiệm Jet Propulsion Laboratory (JPL) của NASA, đã chụp lại hình ảnh của vùng tuyết mênh mông, trắng xóa bên dưới. Cùng lúc đó, radar phát hiện điều bất thường ẩn bên dưới lớp băng: một căn cứ quân sự từ thời Chiến tranh Lạnh đã bị bỏ hoang, được gọi là Camp Century.
Vào chiều ngày Chủ Nhật 8 tháng 12 2024, tại Tu Viện Đại Bi (Garden Grove, California), nhóm Phật tử Đuốc Tuệ đã tổ chức buổi nói chuyện về đề tài Chánh Niệm trong gia đình, người thuyết trình là tiến sĩ Bạch Xuân Phẻ. Khoảng 50 người đã tham dự buổi nói chuyện, thuộc nhiều lứa tuổi và thành phần, từ những Phật tử cao niên cho đến những huynh trưởng trong các Gia Đình Phật Tử. Được biết trong cùng khoảng thời gian này, các vị tăng ni thuộc tu viện Lộc Uyển cũng có những buổi nói chuyện trên zoom, cũng về đề tài Chánh Niệm trong gia đình. Điều này cho thấy những khúc mắc, mâu thuẫn trong một gia đình luôn luôn tồn tại. Các thế hệ trong gia đình không tạo được sự truyền thông tốt đẹp với nhau dẫn đến những rạn nứt, cần tìm những giải pháp để nối lại nhịp cầu thương yêu.
(Ngày 25 tháng 12, Reuters) – Những kẻ lừa đảo ngày càng lộng hành tại Trung Quốc: chúng đang bắt chước bộ phim truyền hình nổi tiếng của Hàn Quốc “Trò Chơi Con Mực” (Squid Game) để dàn dựng các hình thức lừa gạt người gặp khó khăn tài chánh. Chúng sử dụng các chiêu trò như hứa hẹn khoản tiền thưởng rất lớn, điều chỉnh lại khoản nợ, hoặc các chương trình hỗ trợ tài chánh khác, nhưng phần lớn chỉ là những lời hứa suông.
(Ngày 25 tháng 12, Reuters) – Một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra vào ngày Giáng Sinh tại New York: một chiếc taxi bất ngờ lao lên vỉa hè, đâm vào người đi bộ trước một cửa hàng Macy’s. Theo thông tin từ cảnh sát, tài xế taxi gặp vấn đề sức khỏe bất ngờ khi đang lái xe.
Việt Nam ngỏ ý muốn mua tên lửa siêu thanh của Ấn Độ BrahMos, có thể bắn ra từ mọi điều kiện từ đất liền, trên không và trên biển. Việt Nam và Philippines đang tiến gần đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đô la cho tên lửa hành trình BrahMos
(Ngày 24 tháng 12, Reuters) – Chính phủ Canada lên án gay gắt các biện pháp trả đũa của Trung Quốc nhằm vào hai tổ chức có trụ sở tại Canada và 20 cá nhân có liên quan đến các vấn đề nhân quyền của người Duy Ngô Nhĩ và Tây Tạng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.