Hôm nay,  

HT Thích Tuệ Sỹ: Ý nghĩa đề kinh Kim Cang

03/06/202211:02:00(Xem: 11122)
Ý nghĩa đề kinh Kim Cang
  
HT Thích Tuệ Sỹ
  
 
blank
 

Kinh Kim cang là một trong những bản kinh quan trọng và sớm nhất trong kinh điển Phật giáo Đại thừa. Ở đây, chúng ta sẽ trình bày ý nghĩa của đề kinh Kim cang từ nguyên gốc tiếng Phạn và từ được dịch sang tiếng Hán. Đề kinh Kim cang gồm hai phần. Tên tiếng Phạn là Vajrachedikā Prajñāpāramitā, trong đó phần đầu là tính từ phẩm định cho từ theo sau. Prajñāpāramitā phiên âm tiếng Hán là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, nó có khả năng cắt chém như kim cang, hay chính xác: như sấm sét (búa thiên lôi). Hiện nay có hai bản dịch phổ biến: một là Kim cang Bát-nhã ba-la-mật do ngài La-thập dịch sang Hán; hai là Kim cang năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật đa của Ngài Huyền Trang dịch.
 

Trong đề kinh của ngài La-thập, từ chedika: (sự) cắt chém, bị lược bỏ. Theo đây có thể hiểu, cắt chém là công dụng của kim cang, không cần đến phẩm định từ, như dao để cắt, chỉ cần nói dao là đủ. Tuy nhiên, trong một ý nghĩa khác, sự cắt chém của kim cang cần được lưu ý; và sự lưu ý này sẽ được đề cập sau.
 

Trước hết, chúng ta giải thích ý nghĩa của từ prañāpāramitā tức Bát-nhã ba-la-mật-đa. Từ Bát-nhã ba-la-mật-đa được hiểu theo hai phương diện, phương diện tư tưởng và phương diện văn học.
 

Về phương diện văn học, đó là hệ thống kinh điển được phát triển sau khi Phật nhập Niết-bàn. Có thể bắt đầu từ những phiến đoạn kệ tụng, như Bảo đức tạng Bát-nhã (Ratnaguṇa), vốn là thể thơ tiện lợi cho việc truyền khẩu từ thầy sang trò, phát triển dần theo thời gian và địa lý cho đến khi thành một bộ phận văn học rất đồ sộ. Bộ lớn nhất, dài nhất, trước hết phải kể là Bách thiên tụng (Śatasāhasrikā), kế đến là bộ 25,000 bài tụng: Nhị vạn ngũ thiên tụng (Pañcaviṃśatikā), rồi bộ Bát thiên tụng (Aṣṭasāhasrikā). Đó là ba bộ chính đồ sộ, tập hợp thành một đại tòng thơ, trong đó ngài Huyền Trang dịch Hán gồm 600 quyển, hình thành bộ Bát-nhã đồ sộ nhất trong văn học Phật giáo.
 

Trong nền văn học Đại thừa, khi nói đến Bát-nhã ba-la-mật đa là nói đến bộ tòng thơ vĩ đại này. Với kích thước dài tương đương 600 quyển bản Hán, vì quá dài, nên nhu cầu khi truyền tụng cần phải ngắn gọn lại cho phù hợp dung lượng của ký ức, và cũng cần có hệ thống cô đọng cho vừa tầm bắt nắm của tư tưởng. Chúng ta có, chẳng hạn như Văn-thù Bát-nhã gồm 700 tụng (Saptaśatikā: Mañjuśrīparivartā), đến Kim cang chỉ còn 300 tụng (Triṃśatikā), rồi đến Tâm Kinh (Hṛdayasūtra) thì ngắn gọn vô cùng.
 

Nội dung giáo nghĩa được phô diễn rõ ràng trong kinh Kim cang. Ở đây, chúng ta tóm tắt đại ý của Tâm kinh để có khái niệm cơ bản về ý nghĩa thực tiễn của Bát-nhã Ba-la-mật. Tâm kinh, như được giới thiệu bởi chính kinh văn, tiếng Phạn gọi là mantra, nghĩa đen là “công cụ tư duy”, Hán dịch thông dụng là “thần chú”. Bát-nhã Ba-la-mật cũng được gọi là mahāvidyā: nền minh triết phổ quát, bao trùm tất cả, được cô đọng và hàm chứa trong đây; mà Hán dịch là “đại minh chú.” Theo ý nghĩa này, kinh văn chỉ nêu ra hàng loạt phủ định, và kết thúc bằng câu gate gate paragate parasaṅgate bodhi svāha. Ngữ điệu của câu thần chú này chính là công cụ hướng dẫn tư duy vượt qua những bế tắc tư tưởng, mà đó cũng chính là những bế tắc trong đời sống thường nhật, và nhờ đó mà vượt qua những tai họa hiểm nghèo.
 

Nay nói qua về tư tưởng Bát-nhã. Bát-nhã hay prajñā, là trí tuệ, là nhận thức phán đoán các giá trị, theo các cấp từ thường nghiệm cho đến siêu nghiệm. Bình tĩnh và sáng suốt, đó là định và tuệ trong nhận thức thường nghiệm. Trong Phật học, đó là phần thứ ba của quá trình tu tập hay phát triển; chúng ta có Giới-Định-Tuệ. Nhận thức đạt được do quá trình phát triển giới và định là năng lực rọi sáng bản chất của tồn tại. Như Tâm kinh nói: “Chiếu kiến năm uẩn đều không, vượt qua mọi ách nạn.” Trong các loại định, để hỗ trợ cho trí tuệ soi thấu bản chất chân thực của tồn tại, xóa tan bức màn vô minh, đập vỡ lớp vỏ tự ngã, định này được gọi là Kim cang dụ định (vajropama-samādhi), vì kiên cố như kim cang, hay khả năng cắt chém như uy lực của sấm sét.
 

Ba-la-mật-đa, tiếng Phạn pāramitā, Hán dịch là đáo bỉ ngạn: đến bờ bên kia; hoặc cũng dịch là chí cực, nghĩa là, hoàn hảo hay toàn thiện tuyệt đối. Tại sao là hoàn hảo? Có hai nghĩa. Thứ nhất là sự đạt đến mức toàn thiện. Theo nghĩa này, Hán dịch là đáo bỉ ngạn, qua đến bờ bên kia, là bờ giải thoát sanh tử, bằng trí tuệ bát-nhã. Nghĩa thứ hai là sự hoàn hảo của trí tuệ bát-nhã, tức là đạt đến nhận thức chân thật tuyệt đối. Đó là sự hợp nhất hoàn hảo của bi và trí. Kinh Kim cang thuộc về văn học Bát-nhã, trong kinh điển Đại thừa, giáo nghĩa của kinh được giảng cho các hàng Bồ-tát. Không giống các kinh điển Đại thừa khác, vị chủ giảng phần nhiều là các Bồ-tát thuộc hàng Pháp thân Đại sĩ; trong các kinh điển thuộc văn học Bát-nhã sơ kỳ, giáo nghĩa trong đây được diễn giải bởi các Thanh văn, các Đại đệ tử, cho các hàng Bồ-tát, bao gồm loài người và loài trời. Điều này rất có ý nghĩa, theo đó kinh điển Bát-nhã chứa đựng các giáo nghĩa mở rộng cho hàng đệ tử tại gia.
 

Văn học Bát-nhã là một phần của nền văn học nguyên thủy hơn, đó là văn học Jātaka mà nội dung chuyển tải sự thực hành các ba-la-mật của Bồ-tát. Đó là những câu chuyện tiền thân của đức Phật, trong nhiều kiếp do chứng kiến những thống khổ của chúng mà phát Bồ-đề tâm, hành Bồ-tát đạo.

Từ sau Phật nhập Niết-bàn khoảng 100 năm trở đi, giáo pháp của Ngài được truyền bá rộng rãi vào quần chúng, trong một giai đoạn mà người dân thích nghe đạo được kể bằng câu chuyện. Các vị Tỳ-kheo hoằng pháp đã khéo léo đưa nội dung giáo lý vốn cao siêu vào trong những sinh hoạt thường nhật, tập thành những mẫu chuyện Jātaka, tiền thân của đức Phật, một nhân cách tuyệt vời với những phẩm tính cao thượng như từ bi, trí tuệ, kham nhẫn, tinh tấn; luôn luôn sống và hành động vì an lạc của mọi loài chúng sinh.
 

Những phẩm tính ấy là những thiện căn công đức được tích lũy nhiều đời nhiều kiếp để cứu cánh thành tựu chánh giác. Trong truyền thống phương Bắc, các phẩm tính ấy là sáu ba-la-mật. Trong truyền thống phương Nam, trong kinh tạng Pāli, các phẩm tính ấy là mười ba-la-mật.


 

Tuy cả hai truyền thống đều bắt đầu bằng Bố thí ba-la mật (P. dāna-pāramī), nhưng Phật giáo phương Nam thiên trọng về xuất ly hay xuất gia (P. nekkhamma-pāramī); trong khi truyền thống phương Bắc lấy Bố thí ba-la-mật làm nền tảng từ đó phát triển lên thành các ba-la-mật khác. Trong các truyện tiền thân Bắc truyền, Bồ-tát luôn luôn hiện thân làm cư sỹ tại gia. Hành bố thí là phước nghiệp sự của người tại gia được đức Phật giảng dạy nhiều nơi trong các kinh điển A-hàm hay Nikāya. Mặc dù trong hệ kinh điển này đức Phật cũng kể nhiều chuyện tiền thân của chính Ngài, đã nhiều lần xuất gia tu đạo, nhưng sự hành đạo khi ấy chưa đạt đến cứu cánh. Bố thí là một phần trong pháp môn Lục niệm được dạy cho Phật tử tại gia. Người xuất gia không được phép có tư hữu, vì vậy không có phương tiện để hành bố thí như người tại gia.
 

Vả lại, trong giáo nghĩa sơ kỳ, việc bố thí chỉ mang lại phước cho đời sau chứ không giúp cho việc giải thoát sinh tử. Tuy nhiên, theo Đại thừa, chính bố thí dẫn đến giải thoát và có thể đến Đại Bồ-đề.
 

Từ truyện kể về tiền thân của đức Phật, qua đó để thành tựu Phật quả cần phải thành tựu sáu ba-la-mật, văn học Jātaka được mở rộng đã trở thành nội dung thực tiễn của giáo nghĩa Bát-nhã. Nhưng làm thế nào để thành tựu Bát-nhã nầy? Sự diễn giải đã kéo dài với dung lượng tương đương 600 quyển Hán, năm nầy tháng kia, thời nầy sang thời khác, dần dà được thu ngắn lại cho gọn trong vài trăm chữ để dễ thực hành, cuối cùng mấy trăm chữ nầy dồn lại còn một dòng: gate gate paragate parasaṅgate bodhi svāha.
 

Nói tóm lại, ba-la-mật là đáo bỉ ngạn hay chí cực. Một từ Phạn với hai từ Hán dịch khác nhau, đây là do nhận thức khác nhau về ngữ pháp cấu tạo từ. Chúng ta không đề cập vấn đề ngữ pháp Phạn ở đây.
 

Pāramitā, theo nghĩa chí cực, là sự thực hành đạt đến mức tối thượng, tuyệt đối. Người tu tập cần phải thành tựu viên mãn sáu đức tính tuyệt đối, bắt đầu với bố thí như là sự thể hiện thực tiễn của từ bi; trên cơ sở đó tu tập và phát triển lần lượt cho đến sau cùng là trí tuệ. Bi và trí song hành với nhau để tiến đến giải thoát. Vì thế văn học đồ sộ của Bát-nhã được đúc kết lại, vừa nghĩa vừa văn, thích hợp cho một hạng căn cơ nhất định để hiểu và hành; đó là kinh Kim cang.
 

Tiếng Phạn vajra, phổ thông dịch là kim cang, đó chỉ mới nhấn mạnh đến tính chất cứng rắn nhưng chưa nói hết uy lực của nó như sấm sét. Vajra cũng được dịch là kim cang xử: chày kim cang. Trong huyền thoại Ấn Độ, kim cang xử là vũ khí của Indra tức là Thiên Đế Thích.
 

Khởi thủy, tổ tiên người Ấn được nói là người A-lị-nhã cư trú trong vùng biển Caspina, phía Bắc Iraq ngày nay. Theo dòng lịch sử, họ lần hồi tràn xuống phía Nam, ngang qua Iraq; một bộ phận tiến về phía Tây; bộ phận khác tiến về phía Đông, cuối cùng định cư trong lưu vực Ngũ Hà, Ấn Độ. Hệ thống các thần linh và vũ trụ luận cũng biến thiên theo bước chân của người A-lị-nhã. Với sự định cư và sự phát triển của nông nghiệp, thần Indra trong số vạn thần cổ đại dần chiếm vai trò quan trọng, trở thành Chúa tể của chư thiên. Cái chày kim cang hay kim cang xử trong tay là vũ khí lợi hại để diệt trừ ma quỷ, bảo vệ hạ giới. Đến thời đức Phật, thần Indra bị thay thế bởi thần Brahmā, khi câu hỏi về nguồn gốc thế giới được nêu lên. Tuy nhiên, trong kinh Phật, thần Indra vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự quản lãnh các thiên thần, bảo vệ hạ giới, và ông được gọi là Thiên Đế Thích: vua của chư thiên, có họ là Thích-ca; nói theo tiếng Phạn: śakro devānām indraḥ, cũng thường phiên âm là Thích Đề-hoàn Nhân. Khi Phật xuất hiện, ông cùng chư thiên thuộc hạ trở thành các vị hộ pháp.
 

Từ vajra mang ý nghĩa là lưỡi tầm sét, hay kim cang xử, xuất hiện nhiều đoạn trong kinh văn nguyên thủy như các A-hàm, Nikāya. Trong đó, vajra là vũ khí bảo vệ chân lý được cụ thể hóa qua thần Vajrapāṇi, Kim Cang Thủ. Kim cang được dùng để ví dụ cho loại định kiên cố, gọi là kim cang dụ định, có uy lực diệt trừ ngã chấp và vi tế vô minh để chứng đắc quả A-lahán, hay Chánh đẳng giác. Kim cang dụ định nầy cũng chính là Kim cang Bát-nhã.

Kinh nói, Bồ-tát hành đạo, để đạt đến cứu cánh, cần phải loại trừ ý niệm về tự ngã. Nhưng tự ngã ấy bị bọc trong lớp vỏ vô minh, trừ phi có định lực kim cang và trí tuệ như kim cang mới loại trừ được nó.
 

Tôi là ai? Ta là cái gì? Ta tồn tại hay không tồn tại? Câu hỏi ấy đã là sự thách thức các hệ thống tư duy triết học và tôn giáo Ấn Độ. Không có câu trả lời thỏa đáng, hóa ra đời sống này chỉ là một trường túy sinh mộng tử: sống như người say rượu, không biết sống để làm gì; và chết như người đang chiêm bao, không biết tại sao chết, từ đâu đến và đi về đâu.
 

Trong các kinh điển nguyên thủy, đức Phật không đưa ra một câu trả lời xác định. Thế nhưng, điều được tin tưởng là tất cả giáo pháp của Phật đều hướng đến diệt trừ tự ngã. Tôi đang tồn tại, đó là một hiện thực, đồng thời cũng là một ảo ảnh. Đau khổ là sự thực. Cái tôi đang đau khổ ấy lại là ảo ảnh. Cái ta ảo ảnh được bọc trong vỏ trứng vô minh, nó được định hình bằng vọng tưởng thành thân thể ta, linh hồn ta, sở hữu của ta, tài sản của ta, cho đến núi sông này là của ta, tài sản này là của ta, ta là tài sản này; sông núi này là của ta, ta là sông núi này. Cho nên, khi tán gia bại sản, khi sông núi sụp đổ, cái ta vọng tưởng cũng sụp đổ, cho nên có kẻ trầm mình xuống sông, hoặc treo cổ trên cành. Vì thế, khi nghe nói cái ta này là ảo ảnh, là không thực; người nghe có thể kinh hoàng, như nghe sét đánh ngang tai. Tiếng sét đó là từ Kim cang bát-nhã. Duy có điều, mọi người đều mù, chỉ thấy bóng tối; mọi người đều điếc, chỉ nghe tiếng vo ve. Làm sao có thể thấy cái ta chỉ là ảo ảnh? Làm sao nghe được tiếng sấm từ kinh Kim cang?
 

Với những ai có mắt để thấy, có tai để nghe, kinh Kim cang sẽ chỉ đường để đối diện với ảo ảnh của cái tôi, và chỉ cách vận dụng kim cang xử đập vỡ vỏ trứng vô minh bao bọc tự ngã.
 

(trích Tập san Pháp luân số 58, tr.47)

 
Nguồn:
https://hoangphap.org/ht-thich-tue-sy-y-nghia-de-kinh-kim-cang/







Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đầu tuần nay, Đồng Chủ tịch Ủy ban Thượng viện về Tổng điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2020, Thượng Nghị Sĩ Thomas J. Umberg (D-Santa Ana) đã đưa ra tuyên bố sau đây về Tổng điều tra dân số năm 2020 trong tình trạng khẩn cấp hiện nay do đại dịch COVID-19. Nỗ lực toàn tiểu bang để đếm đầy đủ từng cư dân California sẽ tác động trực tiếp trong 10 năm tới và hơn thế nữa. Dân số đếm được sẽ được sử dụng để xác định phân bổ tài trợ của liên bang cho các trường học, đường xá, bệnh viện địa phương và để xác định có bao nhiêu phiếu cử tri đoàn mà tiểu bang California nhận được, trong số các tác động chính trị và sinh hoạt khác.
Tòa Tối cao Pháp viện Úc, 10 giờ sáng ngày 7/4/2020, công bố hủy bản án lạm dụng tình dục trẻ em và trả tự do cho Hồng Y George Pell. Vụ kiện đã gây chấn động Giáo hội La Mã, do Hồng y Pell là một trong các cố vấn cao cấp nhất của Đức Giáo hoàng. Trong khi dịch cúm đang diễn ra đây là một tin vui cho toàn thể những người tin vào công lý và sự thật, đặt biệt là những người Công giáo, và nhất là người Công giáo Việt. Thứ Tư 11/03/2020, gần 200 người đa số là các Giáo dân Công Giáo Việt Nam đã có mặt trước tiền đình Tối cao Pháp Viện tại Canberra để cầu nguyện và hỗ trợ tinh thần cho Đức Hồng Y George Pell. Trong số người tham dự cuộc biểu tình có cả Thượng tọa Thích Phước Long, gây ngạc nhiên cho giới truyền thông Úc, trước đó, chưa bao giờ có một nhóm người nào ủng hộ Đức Hồng Y George Pell mạnh mẽ đến như thế, xuất hiện tại tòa án. Người Việt tại Úc càng tin vào công lý và sự thật lại càng không thể quên, từ Tháng Tư Đen 1975 công lý và sự thật đã không còn tại quê nhà Việt Na
SCE, WHO cảnh báo công chúng cần cảnh giác và bảo vệ bản thân trước các âm mưu lừa đảo trong tình trạng khẩn cấp do coronavirus.
Hôm Thứ Hai, 6 tháng 4 năm 2020, Hoa Kỳ đã báo cáo 10,831 người thiệt mạng và 366,153 trường hợp được xác nhận bị lây vi khuẩn corona. Tiểu Bang New York đã trở thành trung tâm đại dịch của toàn nước Mỹ với 131,569 trường hợp bị lây và 4,768 người thiệt mạng. Nếu tính theo tổng dân số thì cứ 676 trường hợp bị lây và 24 người thiệt mạng trên mỗi 100,000 cư dân. Đứng sau New York là New Jersey với 41,090 trường hợp bị lây và 1,003 người thiệt mạng.
Để giúp đối phó với đại dịch Covid-19, anh chị em Việt Tân đã hỗ trợ và phân phát hơn 120.000 khẩu trang tại nhiều nơi trên toàn quốc. Theo các giới chức y tế, khẩu trang là một trong những phương tiện cần thiết để chống lan truyền bệnh dịch.
Con người ta tự dưng bị giam giữ mất tự do như quản thúc tại gia, tự dưng cảm thấy sợ hãi với đồng loại, ngay cả người thân của mình, đi ra đường như tên ăn trộm…Con virus từ xứ cộng sản nó nguy hiểm tàn độc như vậy. Tuy nhiên hiện nay cơn nguy kịch chưa qua và mọi người phải : “Thắt giây an toàn: Buckle Up-chờ cái gì sẽ đến”, và hãy cầu nguyện.
Hôm Thứ Hai, 6 tháng 4, Hoa Kỳ đã cảnh báo Trung Cộng không lợi dụng đại dịch vi khuẩn corona để dùng sức mạnh tại Biển Đông sau khi Việt Nam nói rằng Bắc Kinh đã đâm chìm một tàu đánh cá, theo AFP cho biết. Giữa lúc toàn cầu tập trung chống COVID-19, TC đã tăng tốc các trạm nghiên cứu và cho máy by quân sự đặc biệt đáp xuống vùng biển tranh chấp, theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết.
4 nữ vị thành niên tại New York hôm Thứ Hai, 6 tháng 4 đã bị truy tố tội hận thù đối với việc tấn công một phụ nữ Á Châu 51 tuổi trên xe buýt vì “gây ra” vi khuẩn corona, theo CNN tường trình cho biết.Sự việc xảy ra trên xe buýt tại quận Bronx hôm 28 tháng 3 vào khoảng 3 giờ chiều miền đông Hoa Kỳ.
Trong khi đại dịch corona virus đáng buồn và đáng lo âu đang thống trị các tin tức quốc gia và tâm lý toàn cầu, một số tin tức về chăm sóc sức khỏe tốt đẹp cho bản thân và nhiều công tác từ thiện bác ái với tha nhân hầu như không được nhìn thấy dưới ánh sáng của hiện tại. Nhưng dù trong cơn đại dịch corona virus đáng buồn và đáng lo âu, Tòa Thánh Vatican vẫn đều đặn chia sẻ với thế giới những thông tin cập nhật như Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới của Đức Thánh cha Phanxicô hay Thư chúc mừng Ngày Phật Đản PL. 2564 của Đức Hồng y Miguel Angel Guixot.
“Việc xảy đến với Tuân… thật đột ngột và bất ngờ. Nó cứ như tai họa từ đâu bỗng giáng xuống gia đình Vương Thúy Kiều vào năm Gia Tĩnh triều Minh… Trong một khoảng thời gian ngắn, tai họa đến với ba người bạn tôi: Tuân Nguyễn, Bùi Ngọc Tấn, Vũ Huy Cương.”
Francis Fukuyama không chứng minh được là tại sao dân chúng có niềm tin vào giới lãnh đạo độc tài trong lúc đất nước lâm nguy. Các bất ổn xã hội triền miên là một phản ảnh thực tế. Vì không có các số liệu do cơ quan thăm dò dư luận và truyền thông độc lập cung cấp như tại Hoa Kỳ, nên suy đoán của tác giả cần minh chứng thêm. Do đó, còn quá sớm để kết luận quyết tâm của Trung Quốc tại Vũ Hán là đối sách hữu hiệu. Việc lạm dụng tình trạng khẩn trương của đất nước để duy trì quyền lực độc tài xảy ra thường xuyên tại Trung Quốc, Việt Nam, và mới nhất là tại Hungary.
Một sự thay đổi sẽ xảy ra ở Thụy Điển. Con đường đặc biệt của đất nước trong cuộc khủng hoảng Corona, vốn dựa nhiều vào kháng cáo hơn là hạn chế, có thể sớm kết thúc. Chính phủ bất ngờ đàm phán quyền hạn khẩn cấp với các đảng đối lập cuối tuần qua. Rõ ràng, số người nhiễm bệnh gia tăng nhanh chóng đang gây áp lực lên chính phủ. Thủ tướng Stefan Löfven nói qua tờ báo Dagens Nyheter (DN) rằng người Thụy Điển phải chuẩn bị cho thực tế rằng số người chết sẽ sớm "trong hàng ngàn".
Khi dịch virus Vũ Hán lan tràn khắp thế giới, thiên hạ chạy đôn chạy đáo tìm kiếm khẩu trang ngừa bệnh. Thế là Trung Cộng tung khẩu trang do Trung Cộng sản xuất ra bán với giá rẻ. Ai lại không ham rẻ, liền đặt mua hàng. Tuy nhiên, sau đó tin tức các hãng thông tấn quốc tế nhanh chóng loan tin rằng Hòa Lan thu hồi 600,000 khẩu trang do Trung Cộng bán, vì hoạt động không đúng cách, mặc dầu có ghi nhãn hiệu đúng tiêu chuẩn chất lượng. Còn các nước Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc thì phàn nàn rằng 80% các dụng cụ xét nghiệm virus Vũ Hán của Trung Cộng cho kết quả nhanh sai.
Chính phủ Anh tin rằng vi khuẩn corona có thể đã vô tình rò rỉ từ một phòng thí nghiệm tại Vũ Hán nơi các nhà khoa học Trung Quốc lúc đó đang nghiên cứu vi khuẩn, theo báo The Mail ra ngày Chủ Nhật tường trình cho biết. Hầu hết các chuyên gia đều tin rằng vụ lây lân vi khuẩn COVID-19 đã bắt nguồn tại các chợ trong thành phố Vũ Hán của TQ khi những thú vật truyền nhiễm bệnh cho con người. Tuy nhiên, Báo The Mail ra ngày Chủ Nhật nói rằng trong khi đó các viên chức của chính phủ Boris Johnson tin rằng đây vẫn là giải thích đúng nhất, điều “không còn có thể bỏ qua” là sự rò rỉ từ một phòng thí nghiệm thực sự đã gây là dịch bệnh.
“2 tuần tới là rất quan trọng,” theo người điều hợp nhóm đối phó dịch vi khuẩn corona của Bạch Ốc là Deborah Birx cho biết trong cuộc họp báo hôm Thứ Bảy. “Đây là thời đểm không phải để tới tiệm tạp hóa, không phải là lúc để tới nhà thuốc, nhưng nên làm mọi việc mà bạn có thể bảo vệ gia đình bạn và bạn bè của bạn được an toàn,” theo bà cho biết. California có 15,151 trường hợp bị lây và 349 người thiệt mạng. Quận Cam tại Miền Nam California có 834 trường hợp bị lây và 14 người thiệt mạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.