Hôm nay,  

Từ tâm, ý và thức… tới vô tâm thị đạo

02/08/202223:30:00(Xem: 6526)
blank

Từ tâm, ý và thức… tới vô tâm thị đạo

 

Nguyên Giác

 

Có bạn nêu thắc mắc: người viết đã nhiều lần nhắc tới câu nói của Thiền Tông rằng “Ba cõi là tâm” – vậy thì, có liên hệ gì tới Duy Thức Học? Và tâm có phải là thức? Và tại sao Thiền sư Việt Nam thường nói “vô tâm thị đạo”? Trước tiên, xin chân thành trả lời ngắn gọn, rằng, “Không dám nói là biết chính xác. Cũng không dám nói ý riêng. Nơi đây sẽ đọc lại kinh để trả lời.” Bài này sẽ tìm cách trả lời khác đi, theo một cách thực dụng, để khảo sát về tâm, về ý, về thức, và về vài cách có thể tương ưng trên đường tu giải thoát.

Cũng cần phải thanh minh rằng, người viết không bao giờ tự nhận là giáo sư, giảng sư, thầy dạy, hay bậc đàn anh trong đạo. Do vậy, tất cả những dòng chữ nơi đây đều nên xem là không có thẩm quyền, và cần được độc giả dò xét, thử nghiệm. Thêm nữa, trong khi những chữ này được gõ lên nơi đây, chỉ là do duyên mà chữ hiện lên, và người viết luôn luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng không hề có ai đang gõ; cũng như chỉ có những dòng chữ đang được đọc, và không hề có ai đang đọc. Người viết luôn luôn viết trong tinh thần như thế, trong khi đạo văn, trộm lời Phật và ý Tổ để chia sẻ.

 

Tâm luôn luôn có mặt: tâm tịch diệt, ly tham ái là Niết bàn

 

Trước tiên, nên thấy rằng tâm luôn luôn có mặt, khi chưa giải thoát thì gọi là tâm hữu lậu, khi đã giải thoát sẽ được gọi là tâm vô lậu (unconditioned mind) và còn được gọi là Niết Bàn. Tâm vô lậu là tâm lìa sinh diệt. Tâm hữu lậu là tâm còn sinh diệt. Không nên gọi hai tâm đó là một, hay hai, hay khác.

 

Trong Kinh Pháp Cú, hai bài Kệ 153 và 154, ghi lời Đức Phật, bản dịch của Thầy Minh Châu:

“153. Lang thang bao kiếp sống. Ta tìm nhưng chẳng gặp, Người xây dựng nhà này, Khổ thay, phải tái sanh.

“154. Ôi! Người làm nhà kia. Nay ta đã thấy ngươi! Ngươi không làm nhà nữa. Đòn tay ngươi bị gẫy, Kèo cột ngươi bị tan. Tâm ta đạt tịch diệt, Tham ái thảy tiêu vong.

 

Nơi dòng cuối, khi Đức Phật nói, “Tâm ta đạt tịch diệt,” nghĩa là Tâm đã vào cảnh giới Niết Bàn, nhưng tâm vẫn còn đó, vẫn đang nhìn thấy “tham ái đều tiêu vong” rồi. Nghĩa là, đã giải thoát rồi, vẫn còn tâm; tâm có mặt và an vui với tịch diệt Niết Bàn. Đó là cảnh giới Niết bàn hữu dư, còn về Niết bàn vô dư thì lìa ngôn ngữ, kinh văn không giải thích rõ. Tịch diệt là không còn lậu hoặc nào đâu nữa. Duyên khởi cho bài Kệ 154 là khi Đức Phật ngồi dưới gốc cây bồ đề, từ chỗ suy nghiệm về lý Duyên khởi, đã thấu suốt Tứ Diệu Đế, từ đó nhận ra Bát Chánh Đạo dẫn tới giải thoát, đạt được Giác ngộ Vô thượng. Khi thành tựu Phật quả, Đức Phật đọc hai bài thơ ngắn, đời sau ghi vào Kinh Pháp Cú, thành 2 bài Kệ trên.

 

Tất cả các dịch giả tiếng Anh đều dịch chữ “tâm” đó là “the mind” – hình như chưa thấy vị nào dịch với chữ khác. Chỗ này, cũng nên ghi rằng, tuy rằng Tâm có mặt cả khi Niết Bàn tịch diệt, không nên nghĩ rằng tâm đó là cái gì độc lập, hay không độc lập, vì đó là nơi xa lìa lý luận của thế gian. Ngay cả khi các Thiền sư ưa nói “Vô tâm thị đạo” cũng không có nghĩa là vắng mặt tâm, mà chỉ có nghĩa là “cái nhìn tỉnh thức đang thấy rằng tâm vô tâm, rằng đó là đạo” – nghĩa là, tâm không chết, và không sinh. Ngắn gọn là lìa sinh diệt. Chư Tổ gọi là bản tâm, vốn không sinh, không diệt.

 

 

Đức Phật: thức là hột giống sinh tử, thức diệt là giải thoát

 

Bây giờ nói về thức (consciousness). Trong nhiều Kinh, Đức Phật nói rằng khi thức diệt, là giải thoát. Như trong Kinh SN 12.65, Đức Phật ndạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?”

Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”…” (1)

 

Nghĩa là, cần phải cho thức tiêu vong. Trong Kinh AN 3.76, Đức Phật cũng dạy rõ, nói rằng thức là hột giống của luân hồi sanh tử, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.” (2)

 

 

Tâm, ý và thức: như khỉ chuyền cành

 

 

Tới đây, sẽ có thêm một chữ có thể làm chúng ta bối rối. Đó ba chữ có nghĩa gần nhau: tâm, ý, thức.

Trong Kinh SN 12.61, trong đoạn văn dẫn sau, bản dịch của Thầy Minh Châu, chữ tâm nơi đây là tâm hữu lậu, tâm chưa giải thoát, cho nên tâm chuyển biến y hệt khỉ chuyền cành, nên nghĩa ba chữ này gần nhau, trích:
 

Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống, nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.” (3)

 

Cách dịch tiếng Anh của các học giả cũng hơi khác, cho ba chữ “tâm, ý, và thức.”

Bản gốc tiếng Pali là: “citta, mano, and viññāṇa.

Bản dịch của Bodhi là: which is called ‘mind’ and ‘mentality’ and ‘consciousness’ (chữ mentality gần chữ niệm, suy nghĩ, tư lường).

Bản dịch của Sujato là: which is called ‘mind’ or ‘sentience’ or ‘consciousness’ (chữ sentience gần với chữ cảm xúc, cảm thọ).

Bản dịch của Thanissaro: what's called 'mind,' 'intellect,' or 'consciousness'. (gần với ngài Bodhi).

Bản dịch của K. Nizamis: called ‘mind’, or ‘thought’, or ‘consciousness’. (tâm, niệm, thức).

 

Theo ghi chú của Nizamis, theo các luận sư A Tỳ Đàm, ba chữ này gần như đồng nghĩa (in support of the stereotypical Abhidhamma view that the terms citta, mano, and viññāṇa are somehow “synonymous”).
 

Nizamis giải thích, trích: “Khi nói rằng ba chữ này “thuần đồng nghĩa” là cách nói rất thô sơ, kiểu như nói rằng các chữ “hơi nước”, “chất lỏng”, và “băng” đều là những chữ “thuần đồng nghĩa.” Điều chắc chắn rằng cả ba chữ đều chỉ về các hình thức của “nước”; nhưng sẽ sai một cách đơn giản nếu nói rằng chúng do vậy là “đồng nghĩa” một cách đơn giản.” (4)
 

Tuy nhiên, nhiều vị Thầy lớn (như Ajahn Brahm, Bhikkhu Sujato) không dựa vào A Tỳ Đàm, vì cho là luận thư của người đời sau, và có khi không tương ưng với lời Đức Phật dạy trong kinh. Giải thích trên của A Tỳ Đàm có thể làm chợt nhớ tới bài thơ Tọa Thiền Hoà Tán của Thiền sư Bạch Ẩn, được cụ Trúc Thiên dịch, trích mấy dòng về băng (tâm chúng sinh) và nước (tâm Phật):
 

…Tất cả chúng sinh bản lai là Phật

Cũng như băng với nước

Ngoài nước, không đâu có băng

Ngoài chúng sinh, tìm đâu ra Phật…
 

Nơi đây, chúng ta sẽ tránh các lý luận đi xa. Bài này sẽ nhìn về một vài cách thực dụng.

 

Thức diệt, tức là sáu xứ diệt

 

Thân ngũ uẩn của chúng ta là một tập họp của: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, phần tâm là bao trùm “thọ, tưởng, hành, thức.” Kinh Lăng Nghiêm thường nói ngắn gọn về tâm là: kiến, văn, giác, tri. Thường dịch là: thấy, nghe, hay, biết. Cách dịch này chỉ là bao quát, không hoàn toàn chính xác từng chữ. Nhưng là cách gói gọn “tâm, ý và thức.”

Đức Phật từng dạy trong Kinh EA 38.4 rằng muốn thức diệt thì phải diệt trừ sáu xứ (sáu nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sáu ngoại xứ: cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường). Đức Phật gọi nhóm sáu nội xứ và sáu ngoại xứ là Tất Cả (Kinh The All Sutta), tức là trọn thế giới trong và ngoài mà chúng ta nhận biết.

 

Kinh EA 38.4, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng viết:

Vô minh khởi thì hành khởi, những gì được hành tạo lại do thức. Nay Ta đã biết rõ thức, nên nay vì chúng bốn bộ mà nói về gốc này; tất cả đều phải biết chỗ phát sanh nguồn gốc này: biết khổ, biết tập, biết diệt, biết đạo, hãy suy niệm cho rõ ràng. Đã biết sáu xứ thì biết sanh, già, bệnh, chết; sáu xứ diệt thì sanh, già, bệnh, chết diệt. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện diệt trừ sáu xứ.” (5)

 

Thường trực sống với pháp ấn vô ngã: sáu xứ mất hiệu lực

 

Trong các Kinh nhật tụng thường gặp ở Việt Nam, hầu hết đều có bài Bát Nhã Tâm Kinh, trong này chỉ thẳng vào pháp ấn vô ngã. Rằng “Sắc tức là Không” (Form is Emptiness) và ngược lại. Nơi đây, nói rõ hơn, là: Sắc, tức Form, là bao gồm “cái được thấy (sắc), cái được nghe (thanh), cái được ngửi (hương)… vv.” đều là Không. Tức là, sáu xứ đều là Không. Tuy là Không, nhưng các pháp do duyên vẫn hóa hiện lên. Bất kỳ ai nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh đều sẽ ngộ ra lý vô ngã. Thường trực quán sát vô ngã như thế, sẽ nhận ra rất nhiều kinh bao gồm trong pháp ấn này.

 

Trong Tiểu Bộ Kinh, phần Kinh Tập, Phẩm Qua Bờ Kia, Kinh Snp 5.15, Đức Phật dạy:

Hỡi Mogharaja, hãy luôn luôn tỉnh thức và nhìn thế giới như rỗng rang, với cái nhìn về tự ngã đã bứng gốc, người đó sẽ vượt qua sự chết. Thần Chết không thể thấy người đã nhìn thế giới này như thế.” (6)

Bản tiếng Anh của John D. Ireland khi dịch lời dạy trên, viết: “Look upon the world as empty, Mogharaja, ever mindful; uprooting the view of self you may thus be one who overcomes death. So regarding the world one is not seen by the King of Death.” (6)

Trong nghĩa rất đơn giản: lý duyên khởi cho thấy không hề có một pháp nào có tự ngã. Đức Phật còn dạy rằng các pháp hữu vi chỉ là như bọt sóng, như điển chớp, như huyễn ảo, như mộng… Đức Phật cũng từng nói về tiếng trống, tiếng đàn thực sự là do duyên mà thành tiếng, không từ đâu và cũng không về đâu. Bởi vậy, các Thiền sư thời xưa nói rằng “tức tâm, tức Phật” cũng đúng, mà nói “chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật” cũng đều đúng. Trong lý vô ngã, sẽ thấy như thế.
 

Cũng khi trực nhận pháp ấn vô ngã mới hiểu lời Đức Phật dạy: Hãy buông bỏ cả ba thời quá khứ, vị lai, hiện tại. Trong Kinh Xuất Diệu có câu: "Xả tiền, xả hậu, xả gian việt hữu, nhất thiết tận xả, bất thọ sanh lão."

Tương tự, trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 348 ghi lời Đức Phật dạy là hãy buông bỏ quá khứ, hiện tại, vị lai thì sẽ qua được bở giải thoát:
 

348. “Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.”
 

Khi Đức Phật nói xong bài Kệ 348, chàng nghệ sĩ gánh xiếc Uggasena tức thời đắc quả A la hán. Khi nói buông bỏ cả ba thời, chỉ có nghĩa là thấy cả ba thời là không, thì sẽ không dính mắc nữa. Nơi dòng thứ ba, nói rằng phải nương vào “Ý giải thoát tất cả” – nghĩa là, vẫn có một tâm xuyên suốt, ngay cả khi chúng ta nói buông bỏ cả “tâm ba thời” (cả ba tâm đều bất khả đắc, theo Kinh Kim Cương) thì vẫn có một tâm tỉnh thức nơi đó.

Chỉ đơn giản là, khi thấy không hề có gì gọi là thực thể hết, sẽ thấy rằng mình đi đứng nằm ngồi nhưng thực sự là không hề có ai đang đi đứng nằm ngồi -- giữ tâm thường trực như thế, sẽ từ từ vào định, sẽ phát huệ, và sẽ giải thoát.

 

Thường trực sống với pháp ấn vô thường: sáu xứ mất hiệu lực

 

Tương tự, nếu chúng ta thường trực sống với pháp ấn vô thường, sẽ thấy rằng không hề có cái gì gọi được là “một vật” bởi vì dòng chảy xiết liên tục không để cho một “vật” nào, hay một “pháp” nào, hay một “đối tượng” nào có thể gọi được là một vật, một pháp, một đối tượng của tâm. Trong Kinh SA 203, Đức Phật dạy rằng chỉ cần một pháp quán vô thường là đủ để giải thoát.

 

Trong bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, Kinh SA 203 viết, trích như sau:

Nếu có Tỳ-kheo nào, đoạn trừ được một pháp, thì sẽ đạt được chánh trí và có thể tự tuyên bố: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’… …Hãy quán sát chân chánh mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, hãy quán sát là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng như vậy. Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy đối với vô minh ly dục, minh phát sanh.” (7)

 

Mặt khác, có một cách quán vô thường, cho thấy tất cả các pháp trong thực tướng chỉ là một khoảnh khắc chảy xiết của tâm. Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) trong bài thơ “Guhatthaka-suttaniddeso: Upon the Tip of a Needle” ghi trong Luận thư Niddesa, mô tả rằng tất cả các pháp chảy xiết qua các khoảnh khắc thời gian, y như điểm tiếp giáp của một hạt đậu hay hạt mè rất nhỏ đặt lơ lửng trên đầu một mũi kim. Nội dung bài thơ của ngài Xá Lợi Phất, nơi đây sẽ viết như văn xuôi cho dễ đọc, dịch theo bản tiếng Anh của Andrew Olendzki như sau:


 

Đời sống, thọ mạng, niềm vui, nỗi đau đều buộc chung vào một khoảnh khắc của tâm, một khoảnh khắc nhanh chóng trôi đi. Ngay cả các vị phi nhơn sống lâu tới 84 ngàn tỷ năm cũng không sống được 2 khoảnh khắc nào trong tâm y hệt nhau. Cái ngưng lại nơi người đã chết hay cho người còn đứng nơi đây đều là cùng các uẩn, khi biến đi là vĩnh viễn không nối lại được. Các trạng thái đang biến mất bây giờ và các trạng thái sẽ biến mất trong các ngày tương lai đều có đặc tướng y hệt như các đặc tướng đã biến mất trước đây. Khi không tạo tác gì nữa, sẽ không có sinh ra; chỉ với hiện tại này, chúng ta đang sống. Khi đã nắm được nghĩa tối thượng, thế giới chết ngay khi tâm ngưng lại. Không cất giữ gì được những gì đã biến mất, không để gì được cho tương lai. Những người đã sinh ra trong đời này đang đứng y hệt như hạt đậu rất nhỏ trên đầu mũi kim. Sự biến mất của tất cả các trạng thái này đã không hề được hoan nghênh, mặc dù hiện tượng khoảnh khắc tan rã như thế đã có từ thời ban sơ. Từ nơi chưa được nhìn thấy, các trạng thái này hiện ra và biến đi, được nhìn thấy chỉ khi chúng đang trôi đi vào quá khứ. Y hệt tia chớp trên bầu trời: tất cả các pháp khởi lên và rồi biến hẳn đi.” (8)

Hễ bất kỳ ai sống thường trực với vô ngã hay vô thường, đều không cần làm gì khác. Bởi vì, các Thiền sư thường nói, hễ còn làm gì, chỉ là như trên đầu lại chắp thêm đầu, trên tuyết lại rắc thêm sương. Đây cũng là chỗ không có gì để làm nữa, vì tự cái nhìn thường trực đó đã là một hạnh phúc vô cùng tận. Tuy nhiên, nếu thấy không thường trực tỉnh thức được với pháp ấn vô thường, vô ngã, nên vào sơ Thiền trước, rồi quán sát sau.

 

Vào sơ thiền, rồi quán vô thường

 

Trong Kinh AN 11.16, Đức Phật dạy rằng, hãy ly dục, ly bất thiện pháp, vào sơ Thiền, rồi nơi đây quán sát vô thường, từ đây đoạn diệt lậu hoặc, nơi đây sẽ giải thoát (đắc quả A la hán), nếu còn lậu hoặc thì sẽ hóa sanh (tức đắc quả Bất Lai) và từ đây nhập Niết Bàn. Kinh này giải thích về tầm quan trọng của sơ Thiền, xem như một bệ đỡ để đứng lên, từ đây quán vô thường.

  

Kinh AN 11.16, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy quán sát như sau: “Thiền thứ nhất này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm, vị ấy quán tri: “Cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy an trú ở đấy, đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu không đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc, với tham ái ấy đối với Pháp, với hoan hỷ ấy đối với Pháp, với sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui thế giới ấy nữa.” (9)

 

Tương tự, nhưng nói rõ hơn, Kinh AN 9.36 giải thích cách từ sơ Thiền quán sát vô thường, bản dịch Thầy Minh Châu:

Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (10)

 

Tới đây, câu hỏi sẽ là: làm thế nào biết là đã vào sơ Thiền? Thực tế, nhiều người đã vào được sơ Thiền, nhưng họ chưa biết là họ đã đạt sơ Thiền. Sau đây là giải thích, cho thấy cảm giác toàn thân của người đạt sơ Thiền (tập Thiền đi bộ, walking meditation, cũng có thể vào sơ Thiền). Theo Kinh AN 5.28, bản dịch của Thầy Minh Châu (có 2 chữ đặc biệt -- tầm: placing the mind, chú tâm vào; tứ: keeping it connected, dán tâm vào):

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.” (11)

 

Tới đây, câu hỏi là: Thế nào để vào sơ Thiền? Kinh nói, có nhiều cách để vào sơ Thiền. Giữ giới kỹ lưỡng, cũng có thể vào sơ Thiền. Niệm hơi thở, niệm thân, niệm tâm từ… đều có thể vào sơ Thiền. Trong nhiều bài trước đây, người viết đã giải thích nhiều cách vào định, vào sơ Thiền qua niệm hơi thở, niệm thân, niệm tâm từ… Hôm nay sẽ nói về cách niệm xả ly để vào sơ Thiền.

 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã nói với Minh Thượng Tọa rằng: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là mặt thật của Thượng tọa Minh?”

Dùng tâm xả ly, buông thiện, buông ác, là tâm khi đó rời tất cả những gì thuộc về ba cõi sáu đường. Bất kỳ ai cũng có thể tập được pháp này. Đó là một niệm tỉnh thức rỗng rang, của một gương tâm không bị vướng bất kỳ một phán đoán nào. Tất cả các niệm thiện hay ác, dù là nghĩ về tương lai, hay khi nghĩ thiện ác về hiện tại, thực ra đều là sản phẩm của quá khứ. Ngay cả khi tự nhủ rằng “Đức Phật bảo là mình phải bố thí” thì thiện tâm đó cũng là sản phẩm của quá khứ, và là lấy cái tâm quá khứ trùm lên pháp hiện tại. Ngay cả khi mình tự nhủ rằng “Mình không cần vâng lời Phật để đi bố thí” thì bất thiện tâm đó cũng là sản phẩm quá khứ, và là hiện tại lập tức chỉ là bóng hình của quá khứ.

 

Có một cách khác, là lời dạy của Bồ Đê Đạt Ma: “Ngoài dứt muôn duyên, trong không manh mối nghĩ tưởng gì, tâm như tường vách, mới có thể vào đạo.” (Ngoại tức chư duyên, nội tâm vô đoan, tâm như tường bích, khả dĩ nhập đạo.)

 

Lời dạy của hai ngài Huệ Năng và Bồ Đề Đạt Ma là chỉ cách vào định căn. Nghĩa là, giữ một niệm tỉnh thức, buông bỏ hết tất cả những gì của tâm, dù là lành dữ thiện ác vui buồn của ba thời. Tâm xả ly đó là chìa khóa để vào định, để đắc huệ, để giải thoát. Tới thời của ngài Đạo Nguyên (Nhật Bản) cũng nói tương tự, nhưng là cách dùng chữ khác: buông bỏ thân tâm (tức là: buông bỏ sáu xứ).

 

Cả 3 ngài (Huệ Năng, Bồ Đề Đạt Ma, Đạo Nguyên) chỉ nói theo Đức Phật thôi, không khác. Kinh SN 48.10, bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi lời Đức Phật:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ…” (12)

 

Như thế, chỉ riêng tâm xả ly cũng đủ để giải thoát. Buông hết sáu xứ là giải thoát. Thiền sử có ghi rằng Thiền sư Giác ở Lang Nha, có bà đệ tử đến thân cận tham thiền. Sư dạy cụ bà tham câu “tùy tha khứ” (mặc kệ nó), bà thực hành không hề lui... và tới lúc cụ bà thấy rằng không còn gì dính vào tâm nữa, Thiền sư Giác nói thế là giải thoát rồi.
 

Trong Kinh MA 205, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, ghi lời Đức Phật dạy rằng với tâm yểm ly sẽ đắc sơ Thiền, và từ nơi đây đắc lậu tận, tức là giải thoát:

Với phương tiện nào để ta có thể bình an qua bờ bên kia?’ Rồi người ấy lại nghĩ rằng, ‘Bây giờ ở bờ bên này ta hãy thu lượm cỏ, cây buộc lại mà làm chiếc bè để bơi sang.’ Người ấy bèn ở bên này thu lượm cỏ cây buộc lại làm thành chiếc bè, rồi bình an bơi sang bờ bên kia. Cũng vậy, này A-nan, Tỳ-kheo phan duyên vào sự yểm ly, y trên sự yểm ly, an trụ nơi yểm ly, do làm an tịnh thân ác, do tâm nhập ly định, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó, tất chứng đắc lậu tận. Giả sử trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.” (13)

 

Vô tâm thị đạo

 

Giải thoát này không phải ở đâu xa. Đức Phật nói rằng giải thoát là ngay ở đây và bây giờ. Là khi sáu xứ đoạn diệt. Sáu xứ, cũng có nghĩa là mắt đoạn diệt, tai đoạn diệt… cho tới ý đoạn diệt. Khi nói “ý đoạn diệt” tức là nói tới “vô tâm thị đạo” của Thiền Tông Việt Nam.

Trong Kinh SN 35.155, Đức Phật dạy rằng phải xả ly, phải đoạn diệt tâm [hiểu là: tâm hữu vi], đó là giải thoát, bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo chứng được Niết-bàn ngay trong hiện tại. … tai … mũi … lưỡi … thân… Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.” (14)
 

Đoạn diệt ý, tức là nghĩa của vô tâm. Các bản dịch Anh văn nói rất rõ ý này: Đức Phật dạy là “vô tâm thị đạo” thì sẽ giải thoát không có chấp thủ.

Câu cuối trong Kinh vừa dẫn, nói là phải đoạn diệt với ý, tức là phải “vô tâm” (đoạn diệt sáu xứ cũng có nghĩa là vô tâm thị đạo.
 

Bản dịch Sujato viết: “If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding the mind, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.” (Nếu Tỳ kheo được giải thoát nhờ không nắm giữ bắng cách nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt tâm ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.)

 

Trong khi đó, bản dịch của Bodhi viết: “If, through revulsion towards the mind, through its fading away and cessation, one is liberated by nonclinging, one can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.” (Nếu, nhờ đoạn diệt tâm ý, nhờ làm cho [tâm ý] mờ dần và tịch diệt, vị đó được giải thoát nhờ không dính mắc, vị đó có thể được gọi là chứng đắc Niết bản trong hiện tại.)

 

Tới đây, là thấy rằng có một tâm lìa sinh diệt trong cảnh Niết bàn, nơi đó tất cả những “tâm, ý và thức hữu vi” đều vắng mặt. Và cũng nhận ra câu nói “Vô tâm thị đạo” của các vị Thiền sư chỉ là lập lại lời Đức Phật năm xưa. Nói đoạn diệt sáu xứ, nói đoạn diệt ngũ uẩn, nhưng cũng là thấy rằng còn một tâm tỉnh thức lặng lẽ trong Niết Bàn.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 12.65: https://suttacentral.net/sn12.65/vi/minh_chau

(2) Kinh AN 3.76: https://suttacentral.net/an3.76/vi/minh_chau

(3) Kinh SN 12.61: https://suttacentral.net/sn12.61/vi/minh_chau

(4) Nizamis: https://accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn12/sn12.061.niza.html

(5) Kinh EA 38.4. https://suttacentral.net/ea38.4/vi/tue_sy-thang

(6) Kinh Snp 5.15: https://thuvienhoasen.org/p15a30626/sn-5-15-mogharaja-manava-puccha-cac-cau-hoi-cua-mogharaja

Bản dịch John D. Ireland: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.5.15.irel.html

(7) Kinh SA 203: https://suttacentral.net/sa203/vi/tue_sy-thang

(8) Upon the Tip of a Needle: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/nm/nm.2.04.olen.html

(9) Kinh AN 11.16: https://suttacentral.net/an11.16/vi/minh_chau

(10) Kinh AN 9:36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(11) Kinh AN 5.28: https://suttacentral.net/an5.28/vi/minh_chau

(12) Kinh SN 48.10: https://suttacentral.net/sn48.10/vi/minh_chau

(13) Kinh MA 205: https://suttacentral.net/ma205/vi/tue_sy

(14) Kinh SN 35.155: https://suttacentral.net/sn35.155/vi/minh_chau

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Việc cảnh báo gần đây về các hậu quả nghiêm trọng tiềm ẩn của việc các tiểu bang và trường học tái mở cửa của chuyên gia y tế về vi khuẩn corona hàng đầu Bác Sĩ Anthony Fauci là “câu trả lời không thể chấp nhận được,” theo TT Trump cho biết hôm Thứ Tư, 13 tháng 5. Trump nói với các phóng viên tại Bạch Ốc rằng ông “ngạc nhiên” bởi các câu trả lời của Fauci trong thời gian điều trần trước Ủy Ban về Y Tế, Giáo Dục, Lao Động và Hưu Bổng của Thượng Viện. Trump đã không đơn cử câu trả lời cụ thể nào từ Fauci mà ông thấy là không thể chấp nhận được, nhưng đã đề cập đến cuộc điều trần của Fauci về việc mở cửa các trường học vào mùa thu.
Một giáo sư đại học được tài trợ bởi cơ quan NASA đã bị bắt vì bị cáo buộc giữ bí mật quan hệ với chính quyền cộng sản TQ với các viên chức thẩm quyền Hoa Kỳ. FBI đã bắt giáo sư Đại Học Arkansas Simon Saw-Teong Ang, 63 tuổi, vì gian lận với NASA và đại học “qua việc không khai báo rằng ông đã giữ chức vụ tại đại học TQ và các công ty TQ.”
Trong buổi nói chuyện hôm qua, tôi đã đưa ra vấn đề về lời tuyên bố của Thống đốc Newsom rằng sự lây lan cộng đồng Covid-19 được biết đến đầu tiên phát xuất từ một tiệm nail. Tôi cũng nói với cô Priscilla rằng cộng đồng người Việt chúng ta rất nhạy cảm với tuyên bố của Thống đốc vì 80% nhân viên và chủ tiệm nail là người Mỹ gốc Việt. Cô ấy nói với tôi rằng Thống đốc đã nhận thức được vấn đề này và đã cố gắng giải thích để tránh gây sự ngộ nhận về lời tuyên bố của ông trong những ngày qua. Cô ấy có nhờ tôi cho lời khuyên về vấn đề này.
Vụ án tử hình Hồ Duy Hải trong những ngày qua đã làm cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước bất bình vì những sai phạm của nền tư pháp tại VN đã dẫn đến nhiều phản ánh chống lại quyết định của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao cũng như yêu cầu phải điều tra và xét xử lại, như lời phát biểu của đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa mà báo Tuổi Trẻ Online trích thuật cho biết hôm 13 tháng 5 như sau.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “ấm ớ hội tề” là “thái độ không dứt khoát”. Đem nghĩa này gắn vào những tuyên bố của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội đảng XIII, dự kiến diễn ra trong tháng 01 năm 2021, thì sẽ thấy vẫn chỉ là chuyện nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu, hay chỉ nhằm tung hòa mù để hù họa nhau.
Có một bức ảnh không phải chỉ bằng vạn lời nói mà còn tiềm ẩn một sức mạnh vạn năng, làm bùng phát các phong trào phản chiến khắp toàn cầu, tạo ra một cơn sóng thần, làm thay đổi cả một chính sách, xoay chiều một cuộc chiến
Bộ Nội An Hoa Kỳ và FBI đã đưa ra “tuyên bố công khai” hôm Thứ Tư, 13 tháng 5 năm 2020 cảnh báo rằng Trung Quốc đang mở nhiều cuộc tấn công tin tặc để đánh cắp tài liệu vi khuẩn corona liên quan đến thuốc chích ngừa và điều trị từ các cơ chế nghiên cứu và các công ty dược phẩm Hoa Kỳ, gọi đó là “mối đe dọa nghiêm trọng,” theo CNN tường trình cho biết. Việc cảnh báo chung từ FBI và lực lượng mạng của Bộ Nội An, CISA, cảnh báo “các tổ chức nghiên cứu COVID-19 là mục tiêu tấn công bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (PRC). Các lãnh vực chăm sóc sức khỏe, dược liệu và nghiên cứu làm việc đáp ứng COVID-19 tất cả nên cảnh giác họ đang là các mục tiêu hàng đầu của hoạt động này và nên thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ các hệ thống của họ.”
Béo thì ngon, nhưng ăn nhiều và ăn thường xuyên quá cũng có thể không tốt cho sức khỏe. Còn nhớ lúc xưa ở quê nhà, mỗi lần đi ăn phở, mình thường hay xin thêm một ít nước béo cho nó ngon. Các món như chuối chưng, chè đậu, chè ba màu, bột chiên, cari, chả giò, kiễm, và đồ kho để ăn chay (mua ngoài chợ và cả ăn ở trong chùa) đều có chứa hoặc nhiều nước cốt dừa (coconut milk, lait de coco) hoặc nhiều mỡ dầu lắm. Ba ngày Tết, hầu như mỗi nhà VN đều phải có một nồi thịt kho nước dừa , mà phải là loại thịt đùi nửa nạc nửa mỡ mới đúng điệu. Chỉ riêng một vài dẫn chứng vừa kể cũng đủ thấy là mỡ dầu là một thành phần quan trọng không thể thiếu được trong tập quán ăn uống của chúng ta. Tại Canada, bênh tim mạch là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ nhì sau bệnh ung thư
Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì "cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng". 45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những "thế lực thù địch" đe dọa sự tồn vong của thể chế. Câu chuyện "hòa hợp hòa giải dân tộc" đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.
Thị Trưởng thành phố Los Angeles hôm Thứ Ba, 12 tháng 5, đã đạp thắng từ sự quả quyết của giám đốc y tế của ông rằng lệnh ở trong nhà tại thành phố lớn thứ 2 nước Mỹ sẽ kéo dài ít nhất tơi tháng 7, sau khi những lời tuyên bố đó đã khiến các cư dân thất vọng, theo Reuters cho biết. Phát biểu bởi Giám Đốc Y Tế Quận Los Angeles Barbara Ferrer, được báo Los Angeles Times tường trình, đến trong khi các thành phố lớn và tiểu bang khác ở Mỹ bắt đầu nới lỏng các hạn chế được đưa ra nhiều tuần trước trong lúc đối diện với đại dịch vi khuẩn corona.
Các nhà lập pháp Dân Chủ tại Hạ Viện hôm Thứ Ba, 12 tháng 5 đã công bố một gói trợ giúp dịch vi khuẩn corona trị giá 3 ngàn tỉ đô la -- gồm một đợt gửi tiền trực tiếp đến người Mỹ -- được đặt ra để làm nhẹ đi các ảnh hưởng của đại dịch đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe và nền kinh tế Mỹ. Các nhà lãnh đạo Dân Chủ công bố Hạ Viện sẽ bỏ phiếu về dự luật khổng lồ vào Thứ Sáu tuần này, khiến cho các thành viên chỉ có chưa tới 3 ngày để suy nghĩ về dự luật dày gần 2,000 trang.
Hai nhóm người bị lây vi khuẩn corona mới tại TQ đã được báo cáo cách xa nhau hàng trăm dặm, gây sợ hãi về một đợt truyền nhiễm ở phạm vi rộng lớn khác. Hôm Chủ Nhật, Ủy Ban Y Tế Quốc Gia đã báo cáo 17 trường hợp chẩn đoán lây vi khuẩn corona mới, là số cao nhất trong vòng 2 tuần lễ, và liên tiếp 2 ngày tăng 2 con số, theo Reuters cho biết, hôm 12 tháng 5. 14 trường hợp tại Shulan, thành phố với hơn 700,000 dân gần biên giới Nga và Bắc Hàn. Tất cả từ một phụ nữ 45 tuổi làm việc tại ty công an với không có lịch sử đi đây đi đó hay tiếp xúc với một người bị bệnh nào.
Vào những ngày giữa tháng Năm 2020, sau gần 2 tháng buộc phải đóng cửa theo lệnh của tiểu bang để ngăn chận sự lây lan của Covid-19, nhiều doanh nghiệp nhỏ như nhà hàng và tiệm Nail tại một vài nơi trên nước Mỹ đã được phép mở cửa đón khách trở lại, giữa lúc mà số người ở Mỹ chết vì Covid-19 đã lên đến hơn 80 ngàn, và con số này vẫn tiếp tục tăng lên hàng ngày.
“Mỗi tháng Năm, chúng ta cùng chào mừng Tháng Di Sản Người Mỹ Gốc Á Châu Thái Bình Dương,” Giám Sát Quận Kathryn Barger phát biểu. “Khi chúng ta công nhận những đóng góp vô giá mà các cư dân người Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương dành cho Los Angeles mỗi ngày, chúng ta cũng nhân cơ hội này phản ảnh những thách thức mà cộng đồng của họ phải đối mặt. Để bảo đảm các khu dân cư người Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương nhận được sự hỗ trợ cần thiết, chúng tôi khuyến khích mọi người tham gia vào Thống Kê Dân Số 2020.”
Người ta bảo New York là ngã tư quốc tế, thiên hạ bốn bên tụ hội về đây: trắng, đen, vàng với các bản sắc văn hoá khác nhau, phong cách ẩm thực khác nhau. Từ đó New York là một hỗn hợp của nhiều đặc trưng, một thành phố lớn có một không hai của thế giới này. New York là thành phố không ngủ, suốt ngày như một tổ ong khổng lồ, xe điện ngầm dưới lòng đất, dưới lòng sông, tàu bè trên sông, xe cộ trên đường, tàu điện trên cao, trên nữa là trực thăng, máy bay…cả thành phố rầm rập như mắc cửi không một phút ngừng nghỉ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.