Hôm nay,  

Từ tâm, ý và thức… tới vô tâm thị đạo

02/08/202223:30:00(Xem: 12603)
blank

Từ tâm, ý và thức… tới vô tâm thị đạo

 

Nguyên Giác

 

Có bạn nêu thắc mắc: người viết đã nhiều lần nhắc tới câu nói của Thiền Tông rằng “Ba cõi là tâm” – vậy thì, có liên hệ gì tới Duy Thức Học? Và tâm có phải là thức? Và tại sao Thiền sư Việt Nam thường nói “vô tâm thị đạo”? Trước tiên, xin chân thành trả lời ngắn gọn, rằng, “Không dám nói là biết chính xác. Cũng không dám nói ý riêng. Nơi đây sẽ đọc lại kinh để trả lời.” Bài này sẽ tìm cách trả lời khác đi, theo một cách thực dụng, để khảo sát về tâm, về ý, về thức, và về vài cách có thể tương ưng trên đường tu giải thoát.

Cũng cần phải thanh minh rằng, người viết không bao giờ tự nhận là giáo sư, giảng sư, thầy dạy, hay bậc đàn anh trong đạo. Do vậy, tất cả những dòng chữ nơi đây đều nên xem là không có thẩm quyền, và cần được độc giả dò xét, thử nghiệm. Thêm nữa, trong khi những chữ này được gõ lên nơi đây, chỉ là do duyên mà chữ hiện lên, và người viết luôn luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng không hề có ai đang gõ; cũng như chỉ có những dòng chữ đang được đọc, và không hề có ai đang đọc. Người viết luôn luôn viết trong tinh thần như thế, trong khi đạo văn, trộm lời Phật và ý Tổ để chia sẻ.

 

Tâm luôn luôn có mặt: tâm tịch diệt, ly tham ái là Niết bàn

 

Trước tiên, nên thấy rằng tâm luôn luôn có mặt, khi chưa giải thoát thì gọi là tâm hữu lậu, khi đã giải thoát sẽ được gọi là tâm vô lậu (unconditioned mind) và còn được gọi là Niết Bàn. Tâm vô lậu là tâm lìa sinh diệt. Tâm hữu lậu là tâm còn sinh diệt. Không nên gọi hai tâm đó là một, hay hai, hay khác.

 

Trong Kinh Pháp Cú, hai bài Kệ 153 và 154, ghi lời Đức Phật, bản dịch của Thầy Minh Châu:

“153. Lang thang bao kiếp sống. Ta tìm nhưng chẳng gặp, Người xây dựng nhà này, Khổ thay, phải tái sanh.

“154. Ôi! Người làm nhà kia. Nay ta đã thấy ngươi! Ngươi không làm nhà nữa. Đòn tay ngươi bị gẫy, Kèo cột ngươi bị tan. Tâm ta đạt tịch diệt, Tham ái thảy tiêu vong.

 

Nơi dòng cuối, khi Đức Phật nói, “Tâm ta đạt tịch diệt,” nghĩa là Tâm đã vào cảnh giới Niết Bàn, nhưng tâm vẫn còn đó, vẫn đang nhìn thấy “tham ái đều tiêu vong” rồi. Nghĩa là, đã giải thoát rồi, vẫn còn tâm; tâm có mặt và an vui với tịch diệt Niết Bàn. Đó là cảnh giới Niết bàn hữu dư, còn về Niết bàn vô dư thì lìa ngôn ngữ, kinh văn không giải thích rõ. Tịch diệt là không còn lậu hoặc nào đâu nữa. Duyên khởi cho bài Kệ 154 là khi Đức Phật ngồi dưới gốc cây bồ đề, từ chỗ suy nghiệm về lý Duyên khởi, đã thấu suốt Tứ Diệu Đế, từ đó nhận ra Bát Chánh Đạo dẫn tới giải thoát, đạt được Giác ngộ Vô thượng. Khi thành tựu Phật quả, Đức Phật đọc hai bài thơ ngắn, đời sau ghi vào Kinh Pháp Cú, thành 2 bài Kệ trên.

 

Tất cả các dịch giả tiếng Anh đều dịch chữ “tâm” đó là “the mind” – hình như chưa thấy vị nào dịch với chữ khác. Chỗ này, cũng nên ghi rằng, tuy rằng Tâm có mặt cả khi Niết Bàn tịch diệt, không nên nghĩ rằng tâm đó là cái gì độc lập, hay không độc lập, vì đó là nơi xa lìa lý luận của thế gian. Ngay cả khi các Thiền sư ưa nói “Vô tâm thị đạo” cũng không có nghĩa là vắng mặt tâm, mà chỉ có nghĩa là “cái nhìn tỉnh thức đang thấy rằng tâm vô tâm, rằng đó là đạo” – nghĩa là, tâm không chết, và không sinh. Ngắn gọn là lìa sinh diệt. Chư Tổ gọi là bản tâm, vốn không sinh, không diệt.

 

 

Đức Phật: thức là hột giống sinh tử, thức diệt là giải thoát

 

Bây giờ nói về thức (consciousness). Trong nhiều Kinh, Đức Phật nói rằng khi thức diệt, là giải thoát. Như trong Kinh SN 12.65, Đức Phật ndạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:

 

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?”

Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”…” (1)

 

Nghĩa là, cần phải cho thức tiêu vong. Trong Kinh AN 3.76, Đức Phật cũng dạy rõ, nói rằng thức là hột giống của luân hồi sanh tử, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.” (2)

 

 

Tâm, ý và thức: như khỉ chuyền cành

 

 

Tới đây, sẽ có thêm một chữ có thể làm chúng ta bối rối. Đó ba chữ có nghĩa gần nhau: tâm, ý, thức.

Trong Kinh SN 12.61, trong đoạn văn dẫn sau, bản dịch của Thầy Minh Châu, chữ tâm nơi đây là tâm hữu lậu, tâm chưa giải thoát, cho nên tâm chuyển biến y hệt khỉ chuyền cành, nên nghĩa ba chữ này gần nhau, trích:
 

Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống, nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.” (3)

 

Cách dịch tiếng Anh của các học giả cũng hơi khác, cho ba chữ “tâm, ý, và thức.”

Bản gốc tiếng Pali là: “citta, mano, and viññāṇa.

Bản dịch của Bodhi là: which is called ‘mind’ and ‘mentality’ and ‘consciousness’ (chữ mentality gần chữ niệm, suy nghĩ, tư lường).

Bản dịch của Sujato là: which is called ‘mind’ or ‘sentience’ or ‘consciousness’ (chữ sentience gần với chữ cảm xúc, cảm thọ).

Bản dịch của Thanissaro: what's called 'mind,' 'intellect,' or 'consciousness'. (gần với ngài Bodhi).

Bản dịch của K. Nizamis: called ‘mind’, or ‘thought’, or ‘consciousness’. (tâm, niệm, thức).

 

Theo ghi chú của Nizamis, theo các luận sư A Tỳ Đàm, ba chữ này gần như đồng nghĩa (in support of the stereotypical Abhidhamma view that the terms citta, mano, and viññāṇa are somehow “synonymous”).
 

Nizamis giải thích, trích: “Khi nói rằng ba chữ này “thuần đồng nghĩa” là cách nói rất thô sơ, kiểu như nói rằng các chữ “hơi nước”, “chất lỏng”, và “băng” đều là những chữ “thuần đồng nghĩa.” Điều chắc chắn rằng cả ba chữ đều chỉ về các hình thức của “nước”; nhưng sẽ sai một cách đơn giản nếu nói rằng chúng do vậy là “đồng nghĩa” một cách đơn giản.” (4)
 

Tuy nhiên, nhiều vị Thầy lớn (như Ajahn Brahm, Bhikkhu Sujato) không dựa vào A Tỳ Đàm, vì cho là luận thư của người đời sau, và có khi không tương ưng với lời Đức Phật dạy trong kinh. Giải thích trên của A Tỳ Đàm có thể làm chợt nhớ tới bài thơ Tọa Thiền Hoà Tán của Thiền sư Bạch Ẩn, được cụ Trúc Thiên dịch, trích mấy dòng về băng (tâm chúng sinh) và nước (tâm Phật):
 

…Tất cả chúng sinh bản lai là Phật

Cũng như băng với nước

Ngoài nước, không đâu có băng

Ngoài chúng sinh, tìm đâu ra Phật…
 

Nơi đây, chúng ta sẽ tránh các lý luận đi xa. Bài này sẽ nhìn về một vài cách thực dụng.

 

Thức diệt, tức là sáu xứ diệt

 

Thân ngũ uẩn của chúng ta là một tập họp của: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, phần tâm là bao trùm “thọ, tưởng, hành, thức.” Kinh Lăng Nghiêm thường nói ngắn gọn về tâm là: kiến, văn, giác, tri. Thường dịch là: thấy, nghe, hay, biết. Cách dịch này chỉ là bao quát, không hoàn toàn chính xác từng chữ. Nhưng là cách gói gọn “tâm, ý và thức.”

Đức Phật từng dạy trong Kinh EA 38.4 rằng muốn thức diệt thì phải diệt trừ sáu xứ (sáu nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sáu ngoại xứ: cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường). Đức Phật gọi nhóm sáu nội xứ và sáu ngoại xứ là Tất Cả (Kinh The All Sutta), tức là trọn thế giới trong và ngoài mà chúng ta nhận biết.

 

Kinh EA 38.4, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng viết:

Vô minh khởi thì hành khởi, những gì được hành tạo lại do thức. Nay Ta đã biết rõ thức, nên nay vì chúng bốn bộ mà nói về gốc này; tất cả đều phải biết chỗ phát sanh nguồn gốc này: biết khổ, biết tập, biết diệt, biết đạo, hãy suy niệm cho rõ ràng. Đã biết sáu xứ thì biết sanh, già, bệnh, chết; sáu xứ diệt thì sanh, già, bệnh, chết diệt. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện diệt trừ sáu xứ.” (5)

 

Thường trực sống với pháp ấn vô ngã: sáu xứ mất hiệu lực

 

Trong các Kinh nhật tụng thường gặp ở Việt Nam, hầu hết đều có bài Bát Nhã Tâm Kinh, trong này chỉ thẳng vào pháp ấn vô ngã. Rằng “Sắc tức là Không” (Form is Emptiness) và ngược lại. Nơi đây, nói rõ hơn, là: Sắc, tức Form, là bao gồm “cái được thấy (sắc), cái được nghe (thanh), cái được ngửi (hương)… vv.” đều là Không. Tức là, sáu xứ đều là Không. Tuy là Không, nhưng các pháp do duyên vẫn hóa hiện lên. Bất kỳ ai nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh đều sẽ ngộ ra lý vô ngã. Thường trực quán sát vô ngã như thế, sẽ nhận ra rất nhiều kinh bao gồm trong pháp ấn này.

 

Trong Tiểu Bộ Kinh, phần Kinh Tập, Phẩm Qua Bờ Kia, Kinh Snp 5.15, Đức Phật dạy:

Hỡi Mogharaja, hãy luôn luôn tỉnh thức và nhìn thế giới như rỗng rang, với cái nhìn về tự ngã đã bứng gốc, người đó sẽ vượt qua sự chết. Thần Chết không thể thấy người đã nhìn thế giới này như thế.” (6)

Bản tiếng Anh của John D. Ireland khi dịch lời dạy trên, viết: “Look upon the world as empty, Mogharaja, ever mindful; uprooting the view of self you may thus be one who overcomes death. So regarding the world one is not seen by the King of Death.” (6)

Trong nghĩa rất đơn giản: lý duyên khởi cho thấy không hề có một pháp nào có tự ngã. Đức Phật còn dạy rằng các pháp hữu vi chỉ là như bọt sóng, như điển chớp, như huyễn ảo, như mộng… Đức Phật cũng từng nói về tiếng trống, tiếng đàn thực sự là do duyên mà thành tiếng, không từ đâu và cũng không về đâu. Bởi vậy, các Thiền sư thời xưa nói rằng “tức tâm, tức Phật” cũng đúng, mà nói “chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật” cũng đều đúng. Trong lý vô ngã, sẽ thấy như thế.
 

Cũng khi trực nhận pháp ấn vô ngã mới hiểu lời Đức Phật dạy: Hãy buông bỏ cả ba thời quá khứ, vị lai, hiện tại. Trong Kinh Xuất Diệu có câu: "Xả tiền, xả hậu, xả gian việt hữu, nhất thiết tận xả, bất thọ sanh lão."

Tương tự, trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 348 ghi lời Đức Phật dạy là hãy buông bỏ quá khứ, hiện tại, vị lai thì sẽ qua được bở giải thoát:
 

348. “Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.”
 

Khi Đức Phật nói xong bài Kệ 348, chàng nghệ sĩ gánh xiếc Uggasena tức thời đắc quả A la hán. Khi nói buông bỏ cả ba thời, chỉ có nghĩa là thấy cả ba thời là không, thì sẽ không dính mắc nữa. Nơi dòng thứ ba, nói rằng phải nương vào “Ý giải thoát tất cả” – nghĩa là, vẫn có một tâm xuyên suốt, ngay cả khi chúng ta nói buông bỏ cả “tâm ba thời” (cả ba tâm đều bất khả đắc, theo Kinh Kim Cương) thì vẫn có một tâm tỉnh thức nơi đó.

Chỉ đơn giản là, khi thấy không hề có gì gọi là thực thể hết, sẽ thấy rằng mình đi đứng nằm ngồi nhưng thực sự là không hề có ai đang đi đứng nằm ngồi -- giữ tâm thường trực như thế, sẽ từ từ vào định, sẽ phát huệ, và sẽ giải thoát.

 

Thường trực sống với pháp ấn vô thường: sáu xứ mất hiệu lực

 

Tương tự, nếu chúng ta thường trực sống với pháp ấn vô thường, sẽ thấy rằng không hề có cái gì gọi được là “một vật” bởi vì dòng chảy xiết liên tục không để cho một “vật” nào, hay một “pháp” nào, hay một “đối tượng” nào có thể gọi được là một vật, một pháp, một đối tượng của tâm. Trong Kinh SA 203, Đức Phật dạy rằng chỉ cần một pháp quán vô thường là đủ để giải thoát.

 

Trong bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng, Kinh SA 203 viết, trích như sau:

Nếu có Tỳ-kheo nào, đoạn trừ được một pháp, thì sẽ đạt được chánh trí và có thể tự tuyên bố: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’… …Hãy quán sát chân chánh mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, hãy quán sát là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng như vậy. Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy đối với vô minh ly dục, minh phát sanh.” (7)

 

Mặt khác, có một cách quán vô thường, cho thấy tất cả các pháp trong thực tướng chỉ là một khoảnh khắc chảy xiết của tâm. Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) trong bài thơ “Guhatthaka-suttaniddeso: Upon the Tip of a Needle” ghi trong Luận thư Niddesa, mô tả rằng tất cả các pháp chảy xiết qua các khoảnh khắc thời gian, y như điểm tiếp giáp của một hạt đậu hay hạt mè rất nhỏ đặt lơ lửng trên đầu một mũi kim. Nội dung bài thơ của ngài Xá Lợi Phất, nơi đây sẽ viết như văn xuôi cho dễ đọc, dịch theo bản tiếng Anh của Andrew Olendzki như sau:


 

Đời sống, thọ mạng, niềm vui, nỗi đau đều buộc chung vào một khoảnh khắc của tâm, một khoảnh khắc nhanh chóng trôi đi. Ngay cả các vị phi nhơn sống lâu tới 84 ngàn tỷ năm cũng không sống được 2 khoảnh khắc nào trong tâm y hệt nhau. Cái ngưng lại nơi người đã chết hay cho người còn đứng nơi đây đều là cùng các uẩn, khi biến đi là vĩnh viễn không nối lại được. Các trạng thái đang biến mất bây giờ và các trạng thái sẽ biến mất trong các ngày tương lai đều có đặc tướng y hệt như các đặc tướng đã biến mất trước đây. Khi không tạo tác gì nữa, sẽ không có sinh ra; chỉ với hiện tại này, chúng ta đang sống. Khi đã nắm được nghĩa tối thượng, thế giới chết ngay khi tâm ngưng lại. Không cất giữ gì được những gì đã biến mất, không để gì được cho tương lai. Những người đã sinh ra trong đời này đang đứng y hệt như hạt đậu rất nhỏ trên đầu mũi kim. Sự biến mất của tất cả các trạng thái này đã không hề được hoan nghênh, mặc dù hiện tượng khoảnh khắc tan rã như thế đã có từ thời ban sơ. Từ nơi chưa được nhìn thấy, các trạng thái này hiện ra và biến đi, được nhìn thấy chỉ khi chúng đang trôi đi vào quá khứ. Y hệt tia chớp trên bầu trời: tất cả các pháp khởi lên và rồi biến hẳn đi.” (8)

Hễ bất kỳ ai sống thường trực với vô ngã hay vô thường, đều không cần làm gì khác. Bởi vì, các Thiền sư thường nói, hễ còn làm gì, chỉ là như trên đầu lại chắp thêm đầu, trên tuyết lại rắc thêm sương. Đây cũng là chỗ không có gì để làm nữa, vì tự cái nhìn thường trực đó đã là một hạnh phúc vô cùng tận. Tuy nhiên, nếu thấy không thường trực tỉnh thức được với pháp ấn vô thường, vô ngã, nên vào sơ Thiền trước, rồi quán sát sau.

 

Vào sơ thiền, rồi quán vô thường

 

Trong Kinh AN 11.16, Đức Phật dạy rằng, hãy ly dục, ly bất thiện pháp, vào sơ Thiền, rồi nơi đây quán sát vô thường, từ đây đoạn diệt lậu hoặc, nơi đây sẽ giải thoát (đắc quả A la hán), nếu còn lậu hoặc thì sẽ hóa sanh (tức đắc quả Bất Lai) và từ đây nhập Niết Bàn. Kinh này giải thích về tầm quan trọng của sơ Thiền, xem như một bệ đỡ để đứng lên, từ đây quán vô thường.

  

Kinh AN 11.16, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy quán sát như sau: “Thiền thứ nhất này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm, vị ấy quán tri: “Cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy an trú ở đấy, đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu không đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc, với tham ái ấy đối với Pháp, với hoan hỷ ấy đối với Pháp, với sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui thế giới ấy nữa.” (9)

 

Tương tự, nhưng nói rõ hơn, Kinh AN 9.36 giải thích cách từ sơ Thiền quán sát vô thường, bản dịch Thầy Minh Châu:

Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (10)

 

Tới đây, câu hỏi sẽ là: làm thế nào biết là đã vào sơ Thiền? Thực tế, nhiều người đã vào được sơ Thiền, nhưng họ chưa biết là họ đã đạt sơ Thiền. Sau đây là giải thích, cho thấy cảm giác toàn thân của người đạt sơ Thiền (tập Thiền đi bộ, walking meditation, cũng có thể vào sơ Thiền). Theo Kinh AN 5.28, bản dịch của Thầy Minh Châu (có 2 chữ đặc biệt -- tầm: placing the mind, chú tâm vào; tứ: keeping it connected, dán tâm vào):

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.” (11)

 

Tới đây, câu hỏi là: Thế nào để vào sơ Thiền? Kinh nói, có nhiều cách để vào sơ Thiền. Giữ giới kỹ lưỡng, cũng có thể vào sơ Thiền. Niệm hơi thở, niệm thân, niệm tâm từ… đều có thể vào sơ Thiền. Trong nhiều bài trước đây, người viết đã giải thích nhiều cách vào định, vào sơ Thiền qua niệm hơi thở, niệm thân, niệm tâm từ… Hôm nay sẽ nói về cách niệm xả ly để vào sơ Thiền.

 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã nói với Minh Thượng Tọa rằng: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là mặt thật của Thượng tọa Minh?”

Dùng tâm xả ly, buông thiện, buông ác, là tâm khi đó rời tất cả những gì thuộc về ba cõi sáu đường. Bất kỳ ai cũng có thể tập được pháp này. Đó là một niệm tỉnh thức rỗng rang, của một gương tâm không bị vướng bất kỳ một phán đoán nào. Tất cả các niệm thiện hay ác, dù là nghĩ về tương lai, hay khi nghĩ thiện ác về hiện tại, thực ra đều là sản phẩm của quá khứ. Ngay cả khi tự nhủ rằng “Đức Phật bảo là mình phải bố thí” thì thiện tâm đó cũng là sản phẩm của quá khứ, và là lấy cái tâm quá khứ trùm lên pháp hiện tại. Ngay cả khi mình tự nhủ rằng “Mình không cần vâng lời Phật để đi bố thí” thì bất thiện tâm đó cũng là sản phẩm quá khứ, và là hiện tại lập tức chỉ là bóng hình của quá khứ.

 

Có một cách khác, là lời dạy của Bồ Đê Đạt Ma: “Ngoài dứt muôn duyên, trong không manh mối nghĩ tưởng gì, tâm như tường vách, mới có thể vào đạo.” (Ngoại tức chư duyên, nội tâm vô đoan, tâm như tường bích, khả dĩ nhập đạo.)

 

Lời dạy của hai ngài Huệ Năng và Bồ Đề Đạt Ma là chỉ cách vào định căn. Nghĩa là, giữ một niệm tỉnh thức, buông bỏ hết tất cả những gì của tâm, dù là lành dữ thiện ác vui buồn của ba thời. Tâm xả ly đó là chìa khóa để vào định, để đắc huệ, để giải thoát. Tới thời của ngài Đạo Nguyên (Nhật Bản) cũng nói tương tự, nhưng là cách dùng chữ khác: buông bỏ thân tâm (tức là: buông bỏ sáu xứ).

 

Cả 3 ngài (Huệ Năng, Bồ Đề Đạt Ma, Đạo Nguyên) chỉ nói theo Đức Phật thôi, không khác. Kinh SN 48.10, bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi lời Đức Phật:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ…” (12)

 

Như thế, chỉ riêng tâm xả ly cũng đủ để giải thoát. Buông hết sáu xứ là giải thoát. Thiền sử có ghi rằng Thiền sư Giác ở Lang Nha, có bà đệ tử đến thân cận tham thiền. Sư dạy cụ bà tham câu “tùy tha khứ” (mặc kệ nó), bà thực hành không hề lui... và tới lúc cụ bà thấy rằng không còn gì dính vào tâm nữa, Thiền sư Giác nói thế là giải thoát rồi.
 

Trong Kinh MA 205, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, ghi lời Đức Phật dạy rằng với tâm yểm ly sẽ đắc sơ Thiền, và từ nơi đây đắc lậu tận, tức là giải thoát:

Với phương tiện nào để ta có thể bình an qua bờ bên kia?’ Rồi người ấy lại nghĩ rằng, ‘Bây giờ ở bờ bên này ta hãy thu lượm cỏ, cây buộc lại mà làm chiếc bè để bơi sang.’ Người ấy bèn ở bên này thu lượm cỏ cây buộc lại làm thành chiếc bè, rồi bình an bơi sang bờ bên kia. Cũng vậy, này A-nan, Tỳ-kheo phan duyên vào sự yểm ly, y trên sự yểm ly, an trụ nơi yểm ly, do làm an tịnh thân ác, do tâm nhập ly định, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó, tất chứng đắc lậu tận. Giả sử trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.” (13)

 

Vô tâm thị đạo

 

Giải thoát này không phải ở đâu xa. Đức Phật nói rằng giải thoát là ngay ở đây và bây giờ. Là khi sáu xứ đoạn diệt. Sáu xứ, cũng có nghĩa là mắt đoạn diệt, tai đoạn diệt… cho tới ý đoạn diệt. Khi nói “ý đoạn diệt” tức là nói tới “vô tâm thị đạo” của Thiền Tông Việt Nam.

Trong Kinh SN 35.155, Đức Phật dạy rằng phải xả ly, phải đoạn diệt tâm [hiểu là: tâm hữu vi], đó là giải thoát, bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo chứng được Niết-bàn ngay trong hiện tại. … tai … mũi … lưỡi … thân… Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.” (14)
 

Đoạn diệt ý, tức là nghĩa của vô tâm. Các bản dịch Anh văn nói rất rõ ý này: Đức Phật dạy là “vô tâm thị đạo” thì sẽ giải thoát không có chấp thủ.

Câu cuối trong Kinh vừa dẫn, nói là phải đoạn diệt với ý, tức là phải “vô tâm” (đoạn diệt sáu xứ cũng có nghĩa là vô tâm thị đạo.
 

Bản dịch Sujato viết: “If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding the mind, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.” (Nếu Tỳ kheo được giải thoát nhờ không nắm giữ bắng cách nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt tâm ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.)

 

Trong khi đó, bản dịch của Bodhi viết: “If, through revulsion towards the mind, through its fading away and cessation, one is liberated by nonclinging, one can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.” (Nếu, nhờ đoạn diệt tâm ý, nhờ làm cho [tâm ý] mờ dần và tịch diệt, vị đó được giải thoát nhờ không dính mắc, vị đó có thể được gọi là chứng đắc Niết bản trong hiện tại.)

 

Tới đây, là thấy rằng có một tâm lìa sinh diệt trong cảnh Niết bàn, nơi đó tất cả những “tâm, ý và thức hữu vi” đều vắng mặt. Và cũng nhận ra câu nói “Vô tâm thị đạo” của các vị Thiền sư chỉ là lập lại lời Đức Phật năm xưa. Nói đoạn diệt sáu xứ, nói đoạn diệt ngũ uẩn, nhưng cũng là thấy rằng còn một tâm tỉnh thức lặng lẽ trong Niết Bàn.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 12.65: https://suttacentral.net/sn12.65/vi/minh_chau

(2) Kinh AN 3.76: https://suttacentral.net/an3.76/vi/minh_chau

(3) Kinh SN 12.61: https://suttacentral.net/sn12.61/vi/minh_chau

(4) Nizamis: https://accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn12/sn12.061.niza.html

(5) Kinh EA 38.4. https://suttacentral.net/ea38.4/vi/tue_sy-thang

(6) Kinh Snp 5.15: https://thuvienhoasen.org/p15a30626/sn-5-15-mogharaja-manava-puccha-cac-cau-hoi-cua-mogharaja

Bản dịch John D. Ireland: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.5.15.irel.html

(7) Kinh SA 203: https://suttacentral.net/sa203/vi/tue_sy-thang

(8) Upon the Tip of a Needle: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/nm/nm.2.04.olen.html

(9) Kinh AN 11.16: https://suttacentral.net/an11.16/vi/minh_chau

(10) Kinh AN 9:36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(11) Kinh AN 5.28: https://suttacentral.net/an5.28/vi/minh_chau

(12) Kinh SN 48.10: https://suttacentral.net/sn48.10/vi/minh_chau

(13) Kinh MA 205: https://suttacentral.net/ma205/vi/tue_sy

(14) Kinh SN 35.155: https://suttacentral.net/sn35.155/vi/minh_chau

 

 

 

 

 



Cố vấn y tế của Bạch Ốc Bác Sĩ Anthony Fauci cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 rằng “có thể là một mùa thu xấu” nếu các nhà nghiên cứu không tìm ra cách trị liệu hiệu quả để chống lại vi khuẩn corona vào lúc đó. Vi khuẩn sẽ chắc chắn trở lại Hoa Kỳ ngay cả khi các trường hợp bắt đầu ổn định, theo BS Fauci, giám đốc Viện Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng Quốc Gia, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Câu Lạc Bộ Kinh Tế Của Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Covid-19 “sẽ không biến mất khỏi hành tinh,” theo ông cho biết, rằng các chuyên gia bệnh truyền nhiễm đang tìm hiểu về cách vi khuẩn này hoạt động bằng việc quan sát việc lây lan trỗi dậy tại nhiều vùng khác như miền nam Phi Châu mà đang bắt đầu vào mùa lạnh của họ.
Các trường học tại California có thể đón học sinh trở lại vào mùa hè năm nay và các cơ sở kinh doanh bán lẻ và sản xuất có thể tái mở cửa trong những tuần lễ sắp tới, theo Thống Đốc California Gavin Newsom cho biết hôm Thứ Ba, 28 tháng 4 khi ông đưa ra cái nhìn chắc chắn nhất từ trước tới nay về điều gì tái mở cửa từ từ có thể cụ thể nhất. Với khả năng chăm sóc sức khỏe và sự ổn định số người vào bệnh viện, Newsom nói rằng tiểu bang chỉ còn cách “nhiều tuần, không phải nhiều tháng” từ việc thực hiện “những điều chỉnh có ý nghĩa” đối với lệnh toàn tiểu bang mà đã ban xuống cho người dân California ở trong nhà trong gần 6 tuần lễ qua. Hôm Thứ Ba, Newsom cho biết các trường học có thể bắt đầu niên học kế tiếp sớm hơn, có thể cuối tháng 7 hay đầu tháng 8, dù ông đã không cho biết chi tiết hướng dẫn có thể xảy ra trong các trường học.
Hội Đồng Giám Sát Quận Cam đã bỏ phiếu với tỉ lệ 5 trên 0 vào chiều Thứ Ba, 28 tháng 4 để mở cửa các cơ sở kinh doanh với những hướng dẫn bảo đảm sự an toàn của công chúng. Các hướng dẫn được giới thiệu bởi nữ Chủ Tịch Michelle Steel và Giám Sát Viên Don Wagner được thông qua bởi hội đồng sẽ áp dụng như mô hình cho Quận Cam để trở lại tình trạng sinh hoạt bình thường, theo các viên chức cho biết. Theo hội đồng, “Tất cả đề nghị theo Cơ Quan Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam và không thay thế bất cứ lệnh mâu thuẫn hay hạn chế nào được đưa ra bởi các chính quyền địa phương, Tiểu Bang California, hay Chính Phủ Liên Bang.” “Quận Cam đã “làm thẳng đường cong” một cách hiệu quả.”
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47) ngày hôm nay đã đệ trình Nghị Quyết Hạ Viện ghi nhận biến cố lịch sử quan trọng và tưởng niệm 45 năm ngày Sài Gòn thất thủ và sự sập đổ bi thảm của Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày 30 tháng 4, năm 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị lực lượng Cộng sản xâm chiếm trong Tháng Tư Đen và Sài Gòn đã bị thất thủ. Mỗi năm biến cố trọng đại này được các cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ tổ chức tưởng niệm.
Nhân dịp lần thứ 45 tưởng niệm biến cố Tháng Tư Đen, Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Địa Hạt 48) đã gởi thông điệp đến với cộng đồng Người Mỹ gốc Việt tại Quận Cam: Trong thông điệp này, Dân Biểu Rouda cũng nhắc đến những người trong cộng đồng chúng ta mà ông vừa vinh danh: Tướng Lê Minh Đảo, nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác Sĩ Phạm Đỗ Thiên Hương.
Tuần này sẽ đánh dấu nhiều mốc ngoặc mới trong đại dịch vi khuẩn corona khi các trường hợp bị lây nhiễm tại Hoa Kỳ đã hơn 1 triệu, ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh tái mở cửa và một số nhân viên y tế địa phương bắt đầu thử nghiệm kháng thể cho công chúng, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 27 tháng 4 năm 2020. Tính tới Thứ Hai, Hoa Kỳ đã có 1,008,571 trường hợp bị lây, với 56,521 người thiệt mạng.
3 videos ngắn cho thấy “hiện tượng xuất hiện trong không gian không xác định” đã được công bố bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các video, đã được phổ biến trước đây bởi một công ty tư nhân, cho thấy cái gì đó trông giống các vật bay không xác định di chuyển nhanh trong khi được thu hình bởi các máy thu hồng ngoại tuyến, theo CNN tường trình cho biết. 2 trong 3 video, các quân nhân có thể nghe được sự phản ứng các vật bay nhanh như thế nào. Một giọng nói cho thấy nó có thể là một chiếc robot.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.