Hôm nay,  

Thiền tập với pháp ấn

29/09/202222:26:00(Xem: 6716)
blank

Thiền tập với pháp ấn

 

Nguyên Giác

 

Bài này được viết  theo lời đề nghị của bạn Tâm Thường Định --- một nhà giáo, một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, và là một nhà văn trong nhóm chủ biên Tạp chí Phật Việt --- rằng “nhờ anh viết bài gì để giúp hoằng pháp.” Bản thân người viết không có đủ tầm nhìn để viết về những suy nghĩ chiến lược; việc đó xin để các bậc tôn túc như Thầy Tuệ Sỹ và nhiều vị khác suy nghĩ. Trong khi đó, trong và ngoài nước đang có hàng ngàn bậc thiện tri thức, ở cả tứ chúng tăng ni cư sĩ, nơi người muốn học Phật có thể tìm nghe pháp, tìm học pháp, cũng như đã có hàng trăm ngàn bài viết giá trị về Phật học trên mạng… do vậy bài này sẽ dựa vào Kinh Phật để nói về một đề tài ít được chú ý: thiền tập với pháp ấn, câu hữu với định. Pháp định nơi đây sẽ tập trung vào sơ thiền. Những sai sót có thể có, xin được sám hối.

 

Nhân quả, vô thường, vô ngã

Tin sâu nhân quả là một cơ duyên lớn. Nếu để ý, trong khi chúng ta giao tiếp trong xã hội, sẽ thấy nhiều bạn khác tôn giáo ưa nói về phép lạ. Thậm chí, ngay như trong giới Phật tử chúng ta, trong thời con nít cũng ưa nói về phép lạ, ưa tìm phép lạ, nghe đồn chỗ nào linh ứng là tới cầu xin, kể cả vô nghĩa địa thắp nhang, cầu cơ… Văn học dân gian cũng thế, trong truyện cổ tích quê nhà, truyện nôm, tuồng chèo đều có những phép lạ thần kỳ. Phật Giáo cũng có phép lạ, nhưng không phải hễ xin là có, không tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Các linh ứng được kể trong Tích Truyện Pháp Cú đều ghi rằng do nhiều nhân duyên đời trước với vị trời này hay vị Bồ tát kia, vì tương ưng nhân quả đời trước, nên chuyện kỳ diệu mới xảy ra. Bởi vậy, trước tiên là phải tu phước đức trước, rồi sẽ chiêu cảm những hạnh ngộ sau.

Thêm nữa, Đức Phật dạy rằng phép lạ lớn nhất chính là giáo hóa thần thông. Tức là đưa Chánh Pháp tới nhiều người hơn, làm sáng tỏ giáo lý hơn, tức là chúng ta phải tự rèn luyện để có trí tuệ và sức thuyết phục lớn. Đó mới là phép lạ lớn nhất. Tin sâu nhân quả cũng là một yếu tố để tâm định, để không bận tâm chuyện bên lề trong khi bước đi trên con đường tu học. Người Phật tử cần phải tin lời Đức Phật dạy: tin sâu nhân quả (và do vậy, cố gắng không làm hại mình, hại người), tin và nhận ra pháp ấn vô thường (tất cả pháp đều đang chuyển biến, chảy xiết, không có cái gì gọi được là cái gì), tin và nhận ra pháp ấn vô ngã (tất cả pháp đều không có gì là tự ngã, không gì là tôi, ta, hay người). Thấy được như thế, sẽ không rơi vào các tôn giáo khác, vì sẽ không tin vào thuyết cứu rỗi, sẽ không tin vào thuyết phục sinh, cũng không tin vào thuyết hồn xác lên trời.

 

Ra sức học Phật, đó là niềm vui vô tận

Trong khi chúng ta nói chuyện với người khác đạo, có thể sẽ rơi vào tranh luận. Những chuyện như thế nên tránh, vì không có lợi cho người, và cũng không có lợi cho mình. Bởi vì, sự hòa hài xã hội phần chắc sẽ là một môi trường tốt hơn là những nơi đầy xung đột, do vậy nên tìm những điểm chung để làm việc với nhau. Thêm nữa, Phật giáo là tôn giáo thiểu số tại Hoa Kỳ, Phật tử chỉ chiếm 0.7% dân số tại Hoa Kỳ. Các tôn giáo khác họ có loa kèn tràn ngập khắp nơi, kể cả toàn cầu, nếu để làm tiếng ồn thì họ hơn chúng ta xa. Do vậy, chúng ta chỉ tùy duyên mà hoằng pháp thôi.

Riêng phần Phật tử với nhau, cũng có thể sẽ rơi vào tranh luận bộ phái. Câu chuyện tại sao Phật Giáo từ thời sơ kỳ, bỗng nhiên tách ra khoảng 20 bộ phái, để rồi bây giờ còn ba khuynh hướng chính: Phật Giáo Nam Truyền, Phật Giáo Bắc Truyền và Phật Giáo Tây Tạng. Để nói thì vô cùng tận. Chuyện này nên để cho các học giả, còn chúng ta nên tự xem như khách vào một bữa tiệc lớn của Phật Giáo, với ba bàn ăn đa dạng. Hãy nghiên cứu, hãy đọc nhiều, hãy ngồi xuống nhìn vào tâm mình, hãy thử tất cả những gì có thể, để rồi sẽ tự thấy cách mình thích nghi ra sao.

Nói thế, không có nghĩa là tránh né tranh luận. Nhưng hãy tự trang bị kiến thức trước. Đối với các bạn trẻ trong VN, người viết đề nghị nên học tiếng Anh thật giỏi, để sẽ đọc kinh sách bằng tiếng Anh. Nhiều kinh sách khi dịch qua tiếng Việt lại có nghĩa mơ hồ, khó hiểu, nếu đối chiếu với nhiều bản dịch tiếng Anh sẽ nắm rõ nghĩa hơn. Bạn có thể tự học tiếng Anh bằng cách vào YouTube và gõ chữ “learning English” hay các nhóm chữ tương tự; trên mạng này hầu hết là giáo sư xuất sắc của quốc tế. Theo kinh nghiệm của người viết, nếu chỉ đọc Kinh Phật bằng tiếng Việt, mà không tìm đọc Kinh Phật bằng tiếng Anh, sẽ có rất nhiều bất toàn.

 

Thí dụ như Kinh 54.11, về pháp thở 16 chi, bản Việt dịch của Thầy Minh Châu viết: Thở hơi dài, thì biết hơi thở dài; thở hơi ngắn, thì biết hơi thở ngắn…

Bản của Thầy Nhất Hạnh cũng tương tự, với dài và ngắn. Bản Anh dịch của Thầy Thanissaro cũng nói là hơi thở dài, ngắn: “Breathing in long, I discern...”

Nhưng bản Anh dịch của Thầy Sujato lại dịch là nặng, nhẹ: “I’m breathing in heavily.’ When breathing out heavily I know: ‘I’m breathing out heavily.’ When breathing in lightly I know” (Tức là, hơi thở nặng nề, hơi thở nhẹ nhàng… thay vì dịch là hơi dài, hơi ngắn.) (1)

 

Theo người viết, dù bàn thân không biết tiếng Pali, nhưng đoán là không thầy nào dịch sai hết, vì chắc chắn qúy Thầy đã có tham khảo tự điển. Thêm nữa, Thầy Sujato dịch sau các Thầy khác nhiều năm, đã biết đa số bản dịch trước đều dịch là hơi thở dài/ngắn, hẳn là có lý riêng khi dịch là hơi thở nặng/nhẹ. Có thể có chữ nhiều nghĩa, quý Thầy khi dịch đã chọn nghĩa nào tự thấy thích nghi nhất. Cho nên, càng đọc nhiều (bằng tiếng Anh), sẽ có thể nhìn được lời Đức Phật dạy từ nhiều hướng, và tự trải nghiệm trên thân mình, trên tâm mình để xem các chuyển biến, các thích nghi. Hiển nhiên là một niềm vui tuyệt vời.

 

Hãy nói về thân tâm này, để thấy pháp ấn ngay đây

Trong ba thập niên sống với nghề báo giữa nơi sóng gió nhất của người Việt hải ngoại, người viết nhận thấy những cuộc tranh luận dễ dàng làm mất bạn, trong khi hầu hết trường hợp là không cần thiết như thế.

Đôi khi người viết gặp các trường hợp có thể gọi là “tao ngộ chiến” – thường, bản thân người viết tự nói rằng mình dốt, không đủ trình độ, không có bằng cấp Phật học, nên không muốn tranh luận. Thế rồi, để vài tháng sau đó, người viết mới viết một bài nhẹ nhàng trả lời, chủ yếu là trích Kinh Phật, chỉ để người trong cuộc hiểu, để họ thấy Chánh pháp rõ hơn. Hãy suy nghĩ thế này: nếu bạn là một người đã lìa tham sân si, hay sắp gần lìa tham sân si, tâm của người này không thấy có chữ nào khởi lên, vì đó là một tâm tịch lặng xa cả bờ này và bờ kia, đó là tâm của vô ngôn, của lìa hý luận, là tâm của xa lìa tất cả các tướng của sắc thọ tưởng hành thức, sao lại dính vào tranh luận được, vì người này còn tìm đâu ra chữ mà khởi tâm chúng sanh nữa.

Do vậy, thay vì tranh luận, hãy nói về chuyện ngay ở đây và bây giờ. Trong khi kiên nhẫn hướng dẫn người khác, thay vì nói chuyện trên trời dưới đất, hãy nói với họ rằng: “Thôi bây giờ tụi mình nói chuyện này thì ai cũng kinh nghiệm được, khỏi cần kinh sách: hãy tin vào thân này, và hãy tin vào tâm này, vì đó là cái chúng ta thấy được ngay lúc này.”

Đức Phật nói rằng giải thoát là nơi thân tâm này, chứ không ở đâu xa. Do vậy, sau khi thâm tín nhân quả, hãy có niềm tin chắc thật rằng giải thoát là từ nơi thân này và tâm này.

Thay vì tranh luận bằng cách mượn những lý luận của nhiều ngàn năm trước, hãy mời gọi nhau nói bằng những gì rất cụ thể, dễ hiểu, thấy được, nghe được. Thí dụ, khi dạy Ngài Rahula về vô thường, Đức Phật nói khởi đầu rằng “mắt là vô thường, cái được thấy là vô thường.” Đó là những gì rất cụ thể, ngay ở đây và bây giờ.

Tương tự, nếu có ai hỏi bạn vô thường là gì, bạn hãy mời người kia nhìn lên đám mây giữa bầu trời, chỉ rằng đó là cái được thấy, rằng ngay khi bạn vừa chớp mắt, là trong khoảnh khắc, gió thổi mây bay tan rồi. Đó là vô thường. Còn núi kia, rừng kia, cao ốc kia, bàn ghế quanh đây… cũng là những cái được thấy, nhưng cái chớp mắt của vô thường có thể dài hơn, trăm năm, ngàn năm…

Tương tự, nếu có ai hỏi bạn vô ngã là gì, bạn hãy mời người kia lắng nghe tiếng đàn trên TV, nói rằng đó là cái được nghe, không từ đâu và cũng không về đâu, rằng chỉ trong khoảnh khắc, là cái được nghe biến đi rồi. Đó là vô ngã, vì không ai níu được bất kỳ cái gì trong âm thanh kia.  

Trên đám mây kia, và trong tiếng đàn kia, các pháp đều là không, đều là vô tướng, đều là tịch lặng, đều là như như tịch lặng. Tất cả những gì chúng ta cho là thế này hay thế kia, chỉ là các niệm chúng ta có về các pháp. Đức Phật từng dạy rằng chẻ cây đàn ra trăm mảnh, ra ngàn mảnh cũng không tìm đâu ra tiếng đàn.

Chúng ta có thể chỉ ra vô thường, vô ngã theo Kinh Phật bằng tất cả những trải nghiệm qua cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được cảm xúc, cái dược tư lường. Đó là tất cả những gì chung quanh chúng ta, tương ưng với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Hãy thấy toàn thân mình, toàn tâm mình là rỗng rang, là như huyễn, y hệt trò ảo thuật, không có gì là cái gì để nắm giữ. Hãy đi đứng nằm ngồi đều thấy rỗng rang như thế --- trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông (bản Việt dịch của Thiền sư Nhẫn Tế), quyền 4, phần thứ hai, gọi người sống trong pháp tánh như thế là “chẳng thọ nhận một mảy trần... tình phàm ý Thánh đều hết ráo, thể lộ Chân Thường, Lý Sự không hai, tức Như Như Phật.”

Tại sao tâm của người giải thoát lại tịch lặng? Bởi vì đã đoạn tận hành, đoạn tận thức. Tâm trở thành một gương sáng, nơi không gì có thể dính vào nữa.

 

Thường trực sơ thiền, khi chết sẽ sinh thiên, rồi vào Niết Bàn

Dĩ nhiên phải tu từ từ. Có một Kinh rất đặc biệt, nói rằng dù bạn chưa đắc quả gì hết, nhưng nếu thường trực sống trong sơ Thiền, khi mãn tuổi thọ, là sinh thiên rồi vào Niết Bàn. Kinh nói rằng, người đắc định cũng vẫn còn là phàm phu, chưa vào Thánh quả (có thể nhớ rằng, Đề Bà Đạt Đa đã đắc tứ thiền, luyện được nhiều thần thông để rồi ly tách giáo đoàn và rơi địa ngục). Tuy nhiên, Đức Phật dạy trong Kinh AN 4.123 rằng hễ có ai thường trực sống trong sơ thiền, dù là chưa đắc quả thánh, khi từ trần, oai lực sơ thiền sẽ đưa học nhân lên cõi trời Phạm chúng thiên, khi hết tuổi thọ cõi thiên, vị trời phàm phu (không phải Phật tử) có thể thối đọa xuống địa ngục hay bàng sanh hay ngạ quỷ, nhưng Phật tử khi hết tuổi thọ chư Thiên sẽ vào Niết Bàn giải thoát. Nghĩa là, giây phút cận tử nếu ở trong sơ Thiền, là sẽ chứng quả Bất Lai. Như thế, giải thoát có thể là nhảy vọt, chứ không tuần tự. Vấn đề khó sẽ là: vào sơ thiền an trú thường trực. Như thế, không có nghĩa là cần ngồi thiền 24 giờ trong 365 ngày cho trọn một năm và rồi nhiều năm kiên định như thế. Như thế, sơ Thiền đây sẽ là đi đứng nằm ngồi đều không lìa cảnh giới này.

 

Kinh 4.123, trích bản dịch Thầy Minh Châu (độc giả nên đọc thêm các bản Anh dịch):

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.” (2)

 

 

Từ sơ Thiền, nghe thuyết pháp (hay đọc Kinh), có thể giải thoát

Trong khi đó, Kinh AN 5.26 cho thấy một cơ duyên khác cho những người ưa nghe thuyết pháp hay ưa đọc Kinh, rằng khi nghe thuyết pháp hay đọc Kinh, người nghe có thể đoạn tận lậu hoặc rồi giải thoát. Thời xưa chưa có YouTube, chưa có TV, nên Kinh này nói về trường hợp trực tiếp nghe một vị Thầy giảng, hay nghe một bạn đạo chỉ pháp.

Để nói đầy đủ, Kinh này nói là có 5 giải thoát xứ, rằng không nhất thiết phải ngồi thiền, vẫn có 5 trường hợp chúng ta có thể giải thoát. Trong Kinh AN 5.26, Đức Phật nói người sống không phóng dật và nhiệt tâm có thể đi đến đoạn diệt hoàn toàn qua một trong năm giải thoát xứ: (a) nghe pháp, (b) thuyết pháp, (c) tụng đọc pháp, (d) tư duy và khảo sát về pháp (bản dịch Bodhi:  ponders, examines, and mentally inspects the Dhamma), (e) khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí tuệ.

Nơi đây, chúng ta chỉ trích dẫn về giải thoát xứ đầu tiên, là khi nghe pháp bỗng nhiên giải thoát. Nên nhớ rằng thời Đức Phật chưa có chữ viết, do vậy khi nói “nghe pháp” bây giờ cũng có thể hiểu là “đọc pháp, đọc kinh, đọc luận…” Lý do tập trung trích dẫn nơi đây về nghe pháp vì bây giờ ai cũng có thể qua YouTube để nghe kinh, hay qua các trang web để đọc kinh luận. Đoạn trích dẫn sau có ám chỉ rằng người nghe pháp phải có ít nhất là sơ Thiền: “Do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ nhất.”

 

Kinh AN 5.26, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Tùy theo bậc Đạo Sư, hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Đạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo như thế nào, như thế nào,tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý hoan hỷ, thân được khinh an. Do thân được khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ nhất; ở đấy, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt tới.” (3)

 

Có thể kinh hành (đi bộ) để vào sơ thiền

Trong Kinh AN 5.29, Đức Phật dạy rằng, thiền đi bộ có thể đắc định, hiểu là ít nhất là sơ thiền. Như thế, không nhất thế là phải ngồi nhiều, có khi thiền đi bộ nhiều lại có lợi ích hơn, vì khi đắc định nơi kinh hàng sẽ tồn tại lâu dài hơn.

 

Kinh AN 5.29, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của kinh hành. Thế nào là năm? Kham nhẫn được đường trường; kham nhẫn được tinh cần; ít bệnh tật; đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm; định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại lâu dài. Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm lợi ích của kinh hành.” (4)

 

Thiền đi bộ, đắc định, khởi tâm nhàm chán, giải thoát

Như trường hợp Đại đức trưởng lão Bhagu, có thể thấy rằng thiền đi bộ có thể dẫn tới giải thoát. Trường hợp của ngài được kể trong lời tự thuật trong Trưởng Lão Tăng Kệ Thag4.2, thứ tự là, vì buồn ngủ, ngài Bhagu mới đi kinh hành, rồi trượt té, lại đi kinh hành, đắc định nội tâm (hiểu là: ít nhất cũng là sơ Thiền), ngài mới tác ý, thấy những bất lợi (Khổ đế) của thân tâm trong cõi này, mới nhàm chán, thế là tâm giải thoát, đắc Tam Minh.

 

Bản dịch tiếng Việt Thag4.2 của ngài Indacanda, trích:

Bị tác động bởi cơn buồn ngủ, tôi đã đi ra khỏi trú xá. Trong khi đang bước lên đường kinh hành, ngay tại chỗ ấy, tôi đã bị ngã trên mặt đất.

Sau khi phủi khắp tay chân, rồi lại bước lên đường kinh hành, tôi đã đi kinh hành ở đường kinh hành, tôi đây đã khéo được định tĩnh nội tâm.

Do đó, sự tác ý theo đúng đường lối đã khởi lên ở tôi, điều bất lợi đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập.

Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.” (5)

 

Vào sơ thiền, quán vô thường, khổ, vô ngã

Trong khi đó, Kinh MN 64 nói về một lộ trình giải thoát: chứng và trú sơ Thiền, rồi quán tất cả những gì liên hệ tới sắc thọ tưởng hành thức đều là vô thường, từ đây nhận ra Khổ đế (là khổ, bệnh, mụt nhọt, mũi tên, va chạm, tật bệnh, khách lạ, biến hoạt) rồi nhận ra không, nhận ra vô ngã. Tức là, từ sơ Thiền, nhận ra bốn pháp ấn (vô thường, khổ, không, vô ngã), cũng gọi là ba pháp ấn, vì chữ “không” đồng nghĩa với vô ngã.  Có nghĩa là, sơ Thiền có oai lực giải thoát.

 

Kinh MN 64, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (6)

 

Đoạn tận 5 pháp, sẽ có thể vào sơ Thiền

Đức Phật nói có 5 tâm tham làm cản trở sơ Thiền. Sẽ không vào được sơ Thiền nếu tâm mình ưa thích chùa lớn nhà cao, ưa thích niềm vui gia đình, ưa thích lợi dưỡng bạc tiền, ưa lời khen ngợi tung hô, thấy pháp hay là giấu biệt…

Kinh AN 5.256, bản dịch Thầy Minh Châu, trích:

Do đoạn tận năm pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng đạt và an trú sơ Thiền. Thế nào là năm? Xan tham trú xứ, xan tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham tán thán, xan tham pháp. Do đoạn tận năm pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng đạt và an trú sơ Thiền.” (7)

 

Đoạn tận 6 pháp để vào sơ thiền

Trong Kinh AN 6.73, Đức Phật cũng dạy phài đoạn tận sáu pháp mới vào được sơ Thiền.

Bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (7)

 

Tương tự, đoạn tận 6 pháp để vào sơ thiền

Trong Kinh AN 6.74, Đức Phật cũng dạy phài đoạn tận sáu pháp mới vào được sơ Thiền.

Bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tầm, sân tầm, hại tầm, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (7)

 

Nếu độc giả thấy các nghĩa cần hiểu thêm, nên tìm đọc các bản Anh dịch để đối chiếu, sẽ rõ thêm. Một điểm ghi nhận: ly dục. Có nghĩa là, nếu bạn đang có gia đình, thì nên đổi tình cầm sắt thành duyên cầm kỳ, đồng thời hãy từ từ dứt bỏ các thói quen trần gian như đi xem đại nhạc hội, đi chơi sòng bài, hát karaoke, vân vân. Tham và sân cần từ từ buông bỏ. Nếu có thể, nên tìm nơi vắng lặng như ven rừng, góc núi để cư trú. Nếu bạn giữ thói quen thức dậy sáng sớm, cỡ 3 hay 4 giờ sáng, có thể không cần ngồi Thiền, có thể chỉ cần ngồi uống trà hay đọc kinh, và khi đó nếu tâm bạn ly dục, đã nhạt bớt tham sân, thì sẽ thấy vào sơ Thiền dễ hơn các giờ khác trong ngày.

 

Năm chi phần của sơ Thiền

Kinh MN 43 nói rằng sơ Thiền (Thiền thứ nhất) có 5 chi phần: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Chữ tầm, có nghĩa là hướng tâm vào, đặt tâm vào (placing the mind), chữ tứ có nghĩa là dán tâm vào (keeping it connected). Hỷ là niềm vui (rapture). Lạc là hạnh phúc triệt để (bliss). Chữ nhất tâm (unification of mind) là tâm đã lặng lẽ như mặt hồ nước, không còn chao động.

Kinh MN 43, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.” (8)

 

Khi chứng sơ Thiền, lời nói được đoạn diệt

Kinh SN 36.15 ghi rằng, khi vào sơ Thiền, thì ngôn ngữ sẽ tịch lặng, trong tâm không thấy chữ nào hiện lên.

Kinh SN 36.15, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Này Ānanda, Ta tuyên bố rằng đoạn diệt (nirodho) các hành là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được đoạn diệt. Khi chứng Thiền thứ hai…” (9)

Bản dịch của Thầy Sujato: "For someone who has attained the first absorption, speech has ceased"

Bản dịch của Thầy Nyanaponika: "In him who has attained the first meditative absorption, speech has been stilled."

 

Ngài Khương Tăng Hội dạy: trước tiên, vào sơ Thiền

Chúng ta có thể nhớ rằng ngài Khương Tăng Hội (? – 280) có bài kệ trích như sau, theo bản dịch của GS Lê Mạnh Thát (chữ "hiệp vị" đồng nghĩa với "nhất tâm"):

“Ngồi có ba cấp. Một là ngồi hiệp vị. Hai là ngồi tịnh. Ba là ngồi không có kết.

Ngồi hiệp vị là gì? Là ý bám lấy hạnh không rời, đó là ngồi hiệp vị.

Ngồi tịnh là gì? Là không niệm nghĩ, đó là ngồi tịnh.

Ngồi không có kết là gì? Là kết đã hết, đó là ngồi không có kết.”

Nói "không có kết" nghĩa là kiết sử đoạn tận, tức là giải thoát hoàn toàn, đã lìa lậu hoặc. Bài kệ nói rằng, trước tiên là vào sơ Thiền, rồi không khởi tác ý (Đức Phật khi dạy Thiền vô tướng đã nói rằng “không tác ý đến tất cả tướng…”), không khởi tâm gì hết, chỉ tịch lặng, không vương bận gì tới sắc thọ tưởng hành thức, thấy tất cả sinh/diệt, hữu/vô đều như mộng, là lìa tham sân si, sẽ tới lúc giải thoát (không còn kiết sử nữa). (10)

 

Hỷ lạc trong sơ Thiền

Làm thế nào để biết đang vào sơ Thiền? Nhiều người đã có thể vào sơ Thiền, nhưng không biết rằng đó là sơ Thiền. Kinh AN 5.28 kể rất chi tiết về cảm giác toàn thân hỷ lạc khi đắc sơ Thiền.

Bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Đây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.” (11)

 

Đức Phật dạy Rahula về pháp ấn trước, pháp thở sau

Thứ tự dạy pháp là điều nên chú ý. Nếu không dạy pháp ấn trước, mà chỉ lo dạy kỹ thuật thiền tập, học nhân có thể rơi vào mê đắm thần thông, hay sẽ rơi vào tà kiến (để rồi sẽ lập thêm các tà giáo, như ngài Đề Bà Đạt Đa…).

Trong Kinh MN62 (Đại kinh Giáo giới La-hầu-la), đầu tiên, vào buổi sáng, Đức Phật dạy ngài Rahula là phải thấy vô ngã trước (sắc thọ tưởng hành thức không là ta, không của ta...), rồi tới buổi chiều, Đức Phật mới dạy ngài Rahula pháp thở. Nhưng, trước khi nói pháp thở, Đức Phật dạy phải quán vô ngã trước (nội thân, ngoại thân, địa giới, thủy giới, phong giới, hư không giới... trong thân đều vô ngã), rồi quán tâm vô ngã y như đất, như nước, như lửa, như gió, như hư không... rồi quán tâm từ, bi, hỷ, xả, rồi quán vô thường, rồi mới dạy pháp thở 16 chi. Nghĩa là: dạy nhận ra pháp ấn trước, rồi mới vào pháp thở.

Pháp thở 16 chi tóm tắt như sau:

Thở hơi dài vô (hay ra), biết hơi thở dài vô (hay ra) (Ngài Sujato: hơi nặng).

Thở hơi ngắn vô (hay ra), biết hơi thở ngắn vô (hay ra) (Ngài Sujato: hơi nhẹ).

Cảm giác toàn thân, thở vô (thở ra).

An tịnh thân hành, thở vô (thở ra).

Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô /ra. Cảm giác hỷ thọ (thở vô /ra). Cảm giác lạc thọ (thở vô /ra). Tương tự, với tâm hân hoan. Với tâm định tĩnh. Với tâm giải thoát. Quán vô thường, tôi sẽ thở vô/ra. Quán ly tham, tôi sẽ thở vô/ra. Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô/ra. Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô /ra. (12)

Tóm tắt: niệm hơi thở, nhận ra thân (body: 2 nghĩa, thân xác, cũng có nghĩa độ dài hơi thở), và rồi nhận ra tâm, sau khi nhận ra tâm, sẽ quán pháp ấn vô thường, và rồi xa lìa lậu hoặc. Ngắn gọn: đầu bản kinh, giữa bản kinh, cuối bản kinh đều lấy pháp ấn vô ngã, vô thường bao trùm. Nghĩa là, nếu lìa pháp ấn mà dạy thiền, tức là chệch hướng sang ngoại đạo. Thành ra có 2 giai đoạn, niệm thân trước, niệm tâm sau, nhưng đều bao trùm trong pháp ấn.

Nếu bạn muốn vào sơ Thiền, chỉ đơn giản thiền với hơi thở vô, hơi thở ra, nhìn thấy thân mình và thân hơi thở chỉ là vô thường, vô ngã, rỗng không… Có kinh Đức Phật nói còn 2 chi phần: hơi thở vào; quán từ bỏ; khi hơi thở ra, quán từ bỏ. Thay vì “từ bỏ” có thể dùng chữ quen thuộc là xa lìa, buông xả. Nhưng luôn luôn thấy rỗng rang vô ngã trước hơi thở, trong hơi thở, và sau hơi thở. Trong khi tỉnh thức cảm nhận vô ngã hay vô thường, thì tâm không còn vướng gì của quá khứ, hiện tại và vị lai (và cái tỉnh thức này là phi thời gian, vì là tâm vô tướng). Chỉ chú tâm thở được như thế, khi ngôn ngữ tịch lặng, và được năm chi (tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm), thấy toàn thân mát rượi như xoa bột tắm, thì đó là sơ Thiền. Đi đứng nằm ngồi đều có thể an trụ trong sơ Thiền.

 

Thường trực nhìn thấy không, thấy vô ngã

Đây cũng là Bát Nhã Tâm Kinh. Trong bài Kinh Snp 5.16 (trong nhóm Kinh Nhật Tụng Sơ Thời, ở những năm đầu Đức Phật hoằng pháp), Đức Phật dạy cách nhìn rất ngắn gọn, là phải thường trực thấy thế giới là không, là rỗng rang.

 

Kinh Snp 5.16, trong bản Anh dịch của Thầy Sujato, Đức Phật dạy pháp ngắn gọn:

Look upon the world as empty, Mogharājā, ever mindful.

Having uprooted the view of self, you may thus cross over death.” (13)

Dịch:

Hỡi Mogharājā, hãy luôn luôn tỉnh thức nhìn thế giới là không, là rỗng rang

Nhổ lên cội rễ cái nhìn ngã chấp, ngươi như thế có thể vượt qua cái chết.  

 

Đối chiếu với Thiền Tông Việt Nam, có ngài Vô Ngôn Thông (759–826) khi nghe ngài Bách Trượng trả lời một vị tăng, “Tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu.” (Khi thấy đất tâm là không, mặt trời trí huệ sẽ tự chiếu) thì liền triệt ngộ. Hình ảnh chư Tổ thường nói là, phải như trâu bùn mới qua sông được, nghĩa là thân tâm đều thấy tương ưng với không. Khi thấy tâm là không, đó là khi đã ly dục, đã lìa tham sân si, thì cũng không cần tu gì nữa, cứ đi đứng nằm ngồi với tâm này thôi. Có thể tập nhìn pháp ấn câu hữu với hơi thở, thấy thân tâm và hơi thở đều là rỗng rang, không một pháp vướng bận, thấy đi đứng nằm ngòi đều là không.

Ngài Phó Đại Sĩ (497-569) nói: “Muôn tượng tuy bao la, song một mảy trần chẳng lập.”

Ngài Bàng Uẩn (740–808) nói: “Nơi trường tuyển Phật, tâm không sẽ thi đậu.”

 

Tỉnh thức với cái không biết: Không tác ý với tất cả tướng

Chúng ta thấy rằng, trong khi xem một trận đá bóng trên TV, khi mắt nhìn theo đường bóng, có lúc nào chợt chúng ta tác ý [về tướng của một đường bóng], để bình luận về một đường bóng, sẽ thấy bị gián đoạn một số khoảnh khắc của đường bóng. Nghĩa là, tự cái nhìn chú tâm đã có sẵn định, hễ mở miệng bình luận là mất đi vài hình ảnh của trận bóng đá. Tương tự, khi chú tâm nghe một bản nhạc, tới một lúc chợt tác ý [về tướng của một âm thanh nào đó], bình luận về vài chữ trong ca khúc, lúc đó sẽ bị gián đoạn, không theo kịp giọng hát của ca sĩ. Nghĩa là, tự trong cái nghe chú tâm đã có sẵn định, hễ mở miệng bình luận là gián đoạn, là mất đi vài chữ dòng nhạc. Nghĩa là, chúng ta đang ở trong tự tánh định, hễ khi nào có tỉnh thức, có chú tâm và không khởi tác ý với tất cả tướng; đó là tỉnh thức với cái không biết, đó là tắm gội trong cái chưa từng biết, đó là đi đứng nằm ngồi trong cái xa lìa tất cả ba thời quá hiện vị lai. Nơi đó, là tâm đã lìa tham sân si. Khi tâm không tác ý tới tất cả tướng, đó là khi hiển lộ pháp ấn của bản tâm, của tâm bất động, của gương tâm chưa từng dính bụi.

 

Kinh Bahiya Sutta (Kinh Ud 1.10) ghi lời Đức Phật dạy:

Thế này, Bahiya, ông nên tu thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.” (14)

 

Đó chính là sống với Như thị, là khi tâm không tác ý với tất cả tướng, còn gọi là khi tâm chưa sinh, hay bản tâm, tức là sống với tâm không biết đối với tất cả thấy nghe hay biết. Nơi đây, Thiền Đại Hàn gọi đó là “Don't-know mind” (Tâm không biết), tức là sống với cái tâm có trước tất cả các khái niệm, trước tất cả ý kiến. Lời giới thiệu trên Amazon về sách “Don't-Know Mind: The Spirit of Korean Zen” của tác giả Richard Shrobe viết: “"Don't-know mind" is our enlightened mind before ideas, opinions, or concepts arise to create suffering.” (Dịch: Tâm không biết là tâm giác ngộ của chúng ta có trước các ý tưởng, ý kiến, hay khái niệm khởi lên để tạo ra đau khổ.)

Tại Việt Nam, chúng ta sẽ thấy cách gọi khác: Thiền thoại đầu (tức là: cái tâm có trước khi lời nói khởi dậy). Nhưng hình ảnh tuyệt vời nhất của Thiền Tông là khi ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230-1291) làm bài thơ 4 câu ghi lại hình ảnh trâu bùn qua sông:

 

Thủ nê ngưu (Giữ con trâu bùn)

Nhất thân độc thủ nhất nê ngưu (Một mình riêng giữ con trâu bùn)

Đằng tỵ khiên lai vị khẳng hưu (Xỏ mũi trâu, dắt về, chưa từng lơi tay)

Tương đáo Tào Khê đô phóng hạ (Cầm tới Tào Khê mới thả xuống)

Mang mang thuỷ cấp đả viên cầu. (Mênh mang nước chảy, lăn quả cầu tròn)

 

Nghĩa là, trâu bùn qua sông, tâm an trú trong nước, nơi thực tướng vô tướng.

 

Kết luận

Kinh Phật là thiên kinh vạn quyền. Có Kinh dạy vào Tuệ giải thoát, có Kinh dạy vào cửa Từ Bi Hỷ Xả… Riêng các Kinh trích dẫn trong bài này, là Thiền tập với pháp ấn câu hữu với định, đều có thể giúp chúng ta giải thoát hoàn toàn, chớ không nhất thiết nói riêng tới sơ Thiền. Trong đó có lời Đức Phật dạy rằng, dù ai còn phàm phu, mà sống thường trực trong sơ Thiền, khi từ trần sẽ sinh thiên rồi vào Niết Bàn. Đây là một lối đi tiện lợi, vì chúng ta chỉ cần thường trực sống trong sơ Thiền. Tuy nhiên, trong khi tu định, nếu không tu bằng pháp ấn vô thường và vô ngã, sẽ có thể bị chệch hướng. Do vậy, an toàn là giữ tâm câu hữu, Thiền tập bằng pháp ấn xuyên suốt sơ Thiền. Điều cần đầu tiên là ly dục, giữ giới, mới có thể vào định được. Hy vọng những trích dẫn Kinh Phật trong bài này sẽ giúp được một số bạn đọc.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 54.11, bản dịch Sujato: https://suttacentral.net/sn54.11/en/sujato

(2) Kinh AN 4.123: https://suttacentral.net/an4.123/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 5.26: https://suttacentral.net/an5.26/vi/minh_chau

(4) Kinh AN 5.29: https://suttacentral.net/an5.29/vi/minh_chau

(5) Thag4.2: https://suttacentral.net/thag4.2/vi/indacanda

(6) Kinh MN 64: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(7) Kinh AN 5.256: https://suttacentral.net/an5.256/vi/minh_chau

Kinh AN 6.73: https://suttacentral.net/an6.73/vi/minh_chau

Kinh AN 5.74: https://suttacentral.net/an6.74/vi/minh_chau

(8) Kinh MN 43: https://suttacentral.net/mn43/vi/minh_chau

(9) Kinh SN 36.15: https://suttacentral.net/sn36.15/vi/minh_chau

(10) Khi Đức Phật Dạy Thiền: https://thuvienhoasen.org/a38250/khi-duc-phat-day-thien

(11) Kinh AN 5.28: https://suttacentral.net/an5.28/vi/minh_chau

(12) Kinh MN 62: https://suttacentral.net/mn62/vi/minh_chau

(13) Kinh Snp 5.16, bản Anh dịch Sujato: https://suttacentral.net/snp5.16/en/sujato

(14) Kinh Ud 1.10: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/ud/ud.1.10.irel.html

 

 

 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hàng triệu mặt nạ bảo vệ dự định tới California trong tuần này như một phần của cuộc mua bán trị giá 1 tỉ đô la của tiểu bang với một công ty TQ đã bị đình hoãn, theo Thống Đốc Gavin Newsom cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5, theo bản tin AP. Thống đốc nói rằng các mặt nạ N95 được làm bởi công ty BYD, một công ty sản xuất xe hơi điện với một nhà máy sản xuất tại California, bị đình trong tiến trình chứng nhận của liên bang. Ông đã không giải thích thêm, và văn phòng của thống đốc cũng không trả lời yêu cầu cho biết thêm về thông tin này.
Một y tá người Mỹ gốc Á Châu đang đi trên một tàu điện ngầm tại New York hôm Chủ Nhật khi một ngưiờ đàn ông đến gần và nói ra lời kỳ thị, theo cảnh sát nói với NBC News. Theo cảnh sát, người đàn ông đã dùng cổ tay và vai kẹp lấy người y tá và cố đẩy người y tá ra khỏi tàu điện. “Nè thằng Trung Quốc kia, mày bị truyền nhiễm rồi,” người đàn ông nói thế, theo cảnh sát cho biết. “Mày cần tới xe khác. Tao sẽ đánh chết thằng TQ này.” Người y tá cỡ 30 tuổi đã không bị thương và từ chối việc chăm sóc y tế, theo NBC News, trong khi nghi can nọ đã bỏ chạy.
Một người chủ tiệm thẩm mỹ tại Texas đang ngồi tù vì mở cửa cơ sở kinh doanh của bà sớm và vi phạm sắc lệnh hành pháp phải ở trong nhà của thống đốc để chận sự lây lan của vi khuẩn corona, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5. Shelley Luther đã được nhìn thấy xuất hiện trong tòa án dân sự và tội hình hôm Thứ Ba tại thành phố Dallas vì bất chấp lệnh hạn chế tạm thời cấm bà ấy hoạt động kinh doanh, là tiệm Salon A la Mode, theo hồ sơ tòa án cho biết. Kết quả, Chánh Án Tòa Địa Hạt Dân Sự Dallas là Eric Moyé đã ra lệnh bà Luther ngồi tù 7 ngày và nạp tiền phạt $500 cho mỗi ngày mà cửa tiệm thẩm mỹ còn mở cửa.
Hôm nay, Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg (D-Orange County), Chủ tịch Ủy ban Thượng viện về Bầu cử và Sửa đổi Hiến pháp, cùng Dân Biểu Marc Berman (D-Menlo Park), Chủ tịch Ủy ban Hạ viện về Bầu cử và Tái phân bổ, vừa công bổ gói Dự luật (SB423 và AB860) nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và quyền bầu cử trước cuộc Tổng Tuyển Cử 2020 sẽ xảy ra trong bối cảnh đầy lo ngại của đại dịch COVID-19.
Kim Jong Un đã không xuất hiện trước công chúng hơn vài tuần qua bởi vì lo sợ về vi khuẩn corona – không phải giải phẫu tim – theo cơ quan tình báo Nam Hàn cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5. Sự công bố nói trên đến sau khi nhiều thành viên của quốc hội Nam Hàn được báo cáo bởi Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia (NIS) hôm Thứ Tư, theo bản tin của Reuters cho biết. Kim xuất hiện trở lại lần đầu tiên trong gần 3 tuần vào Thứ Sáu tuần rồi tại một xưởng chế tạo phân bón gần thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Phú Trọng là người thích nói dai và nói dài chuyện “chuẩn bị nhân sự Đại hội đảng XIII”, diễn ra vào thượng tuầng tháng 01 năm 2021, nhưng ông lại không dám thanh toán những kẻ khai gian tài sản. Và một lần nữa, vẫn húc đầu vào chủ nghĩa lỗi thời Mác-Lenin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để cai trị độc tài, độc đảng.
Dẫn nhập: Wuhan virus tấn công toàn cầu. Đại dịch Corona đang xảy ra chưa biết chấm dứt khi nào?. Có vài thơ, bản nhạc liên quan phổ biến trên internet. Ngày 12.4 tình cờ thấy bài thơ của Phi Loan Hoàng Thị Cỏ May phổ biến trên facebook ngày 11.04.2020 và vì có quen biết với Thi Sĩ tác giả là thành viên của Câu Lạc Bộ Tình Nghê Sĩ (USA) qua mạng ảo nên tôi đã thực hiện một Thơ Tranh cho O nớ. Tật "xí xọn" không chừa nên cũng phổ thành nhạc NHƯNG sau vài câu … - đúng là nghiệp dư và tài tử có khác - gác lại đó. Hôm qua ngẫu hứng lôi nó ra soạn tiếp và hôm nay đi xa hơn chút xíu nữa. Như có lần tôi đã nói "Thưc hiện Tranh Thơ, youtube, viết lách, học nhạc hàm thụ là những phương thức để giải trí khi về hưu, về già nên đã kết hợp các môn giải trí kể trên để hoàn thành bài tạp ghi này. Tất cả chỉ là nghiệp dư mong các chuyên gia, nhạc sĩ nhà nghề hoan hỷ cho mọi sơ sót. Đa tạ (LNC).
Thông tin 3 bác sĩ Nga bí mật bị rơi từ những cao ốc bên Nga, trong không đầy một tuần, cùng cái chết tự tử của bác sĩ Lorna Breen ở Hoa Kỳ, đã làm nao núng thế giới. Tại sao họ chết và con số tử vong của bác sĩ và nhân viên y tế tăng cao trong những ngày dầu sôi lửa bỏng của đại dịch, là 1 câu hỏi được đặt ra trong 1 bài viết của đài truyền hình CNN. Họ bị giết hay nhảy lầu tự vẫn mà chính quyền Nga báo cáo là bị rơi ra từ cửa sổ của các cao ốc khiến hai người tử vong, người thứ ba, Alexander Shulepov, đang ở trong tình trạng nguy kịch. Khi được CNN hỏi nguyên nhân gây ra tai nạn, giới chức có thẩm quyền của Nga từ chối trả lời. Đài CBS thì gọi đó là những cái chết bí mật. Giới truyền thông có những bài bình luận phê phán điện Cẩm Linh và chính quyền Putin rằng họ đã che dấu sự thật.
Một nhà nghiên cứu y học nói rằng đã tới “sát việc tạo ra những khám phá vi khuẩn corona rất quan trọng” đã được tìm thấy bị bắn chết tại tiểu bang Pennsylvania, theo bản tin của Đài NBC News cho biết hôm Thứ Tư, 6 tháng 5 năm 2020. Bing Liu, 37 tuổi, là nhà nghiên cứu tại Trường Y Khoa thuộc Đại Học Pittsburgh, đã được tìm thấy chết hôm Thứ Bảy bên trong một căn nhà tại miền bắc thành phố Pittsburgh, theo viên chức giảo nghiệm y khoa của Quận Allggheny cho biết. Ông ấy đã bị bắn vào đầu và cổ.
Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học tại Phòng Thí Nghiệm Quốc Gia Los Alamos, các nhà khoa học đã xác định được một giống mới của vi khuẩn corona đã khống chế trên toàn thế giới và dường như dễ lây truyền hơn các phiên bản lan truyền trong những ngày đầu của đại dịch COVID-19. Biến dạng mới này đã xuất hiện vào tháng 1 tại Châu Âu, di chuyển nhanh tới Bờ Biển Miền Đông của Hoa Kỳ và đã là giống khống chế khắp thế giới kể từ giữa tháng 3, theo các nhà khoa học viết như thế. Cộng vào sự lây lan nhanh hơn, nó có thể làm con người dễ bị tổn thương với đợt truyền nhiễm thứ hai sau đợt đầu với dịch bệnh, theo phúc trình cảnh báo.
Tính tới Thứ Ba, 5 tháng 5, Hoa Kỳ đã có 1,233,146 trường hợp bị lây vi khuẩn corona, với 71,921 người thiệt mạng. Tổng số đó là bao gồm các trường hợp lây bệnh từ 50 tiểu bang, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và các lãnh thổ của Hoa Kỳ. Trong khi đó tại Pháp liên tiếp 2 ngày số người thiệt mạng vì vi khuẩn corona đã gia tăng, theo Bộ Y Tế của nước này cho biết hôm Thứ Ba. Ít nhất 330 người thiệt mạng hôm qua, là cao điểm sau khi số tử vong trước đó đã giảm. Tổng cộng 25,531 người tại Pháp thiệt mạng sau khi bị lây vi khuẩn.
Một tướng hàng đầu Hoa Kỳ nói rằng không có bằng chứng kết luận nào về nơi vi khuẩn corona phát xuất tại Vũ Hán, TQ, rằng “chúng tôi không biết” nó bắt đầu từ phòng thí nghiệm hay chợ súc vật TQ. Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Mark Milley cho biết rằng, “Nó xuất phát từ phòng thí nghiệm vi trùng học tại Vũ Hán, nó xảy ra tại chợ bán thú vật ở Vũ Hán hay nó xảy ra nơi nào khác? Và câu trả lời là chúng tôi không biết và như được đề cập bởi nhiều người nhiều cơ quan cả chính quyền và dân sự đang tìm hiểu điều đó.”
Sau những đợt biểu tình và kiện tụng, Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Ba, 5 tháng 5 đã tuyên bố rằng các bãi biển tại Huntington Beach, Dana Point và Seal Beach được cho tái mở cửa. Thống đốc đã ra lệnh đóng tất cả bãi biển hôm Thứ Sáu tuần rồi. Điều đó tạo ra các vụ kiện tụng từ Huntington Beach và Dana Point. Những người biểu tình cũng đã xuống đường tại Huntington.
“Tư bản sẽ bán cho chúng ta sợi dây thòng lọng để treo cổ chúng”, Chủ bút Peter Hartcher của tờ The Sydney Morning Herald hôm 1/5/2020 trích câu nói của Lenin mở đầu bài bình luận “Tiền hay chủ quyền của chúng ta: Trung cộng không cho chúng ta sự chọn lựa.” Ông Hartcher áp dụng lời nói của Lenin vào trường hợp của nhà tư bản hầm mỏ Úc Andrew Forrest, đang nối giáo cho Trung cộng bán đứng chủ quyền nước Úc: “Tư bản bán cho chúng ta quặng sắt để chúng ta rèn xiềng xích chúng lại”.
DMV tiếp tục khuyến khích khách hàng gia hạn đăng ký xe và hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu xe trực tuyến hoặc bằng cách sử dụng Văn phòng Hiện trường Ảo DMV. Khách hàng cũng có thể nhận giấy lưu hành xe và nhãn tem dán trực tuyến hoặc tại hàng trăm kiốt của DMV trên toàn tiểu bang. Giấy lưu hành xe và nhãn tem dán tại các ki-ốt DMV có giá $22 và được in tại chỗ. DMV tiếp tục cung cấp các dịch vụ thiết yếu qua thư, trực tuyến, kiốt, trung tâm cuộc gọi, đối tác kinh doanh sẵn có và trực tuyến để xử lý các giao dịch quan trọng, bao gồm giấy phép lái xe và gia hạn giấy lưu hành xe, trong đại dịch COVID-19. Khách hàng có thể sử dụng Trình cố vấn Dịch vụ trên trang web DMV để tìm hiểu thêm về các tùy chọn và hoàn thành các nhiệm vụ DMV.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.